TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI
QUY TRÌNH SẢN XUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................6
NỘI DUNG.............................................................................................................8
1. Tổng quan nghiên cứu..........................................................................................8
1.1. Cơ sở lý thuyết..............................................................................................8
1.2. Các tài liệu nghiên cứu tham khảo..............................................................27
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh nghiệp
ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán (sàn HOSE).........................38
2.1. Bối cảnh và tuyên bố nghiên cứu................................................................38
2.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu.....................................................................39
2.3. Câu hỏi nghiên cứu.....................................................................................39
2.4. Mô hình nghiên cứu....................................................................................40
2.5. Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................41
2.6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:..............................................................42
2.7. Phương pháp nghiên cứu - thu thập dữ liệu.................................................42
3. Tổng hợp và đánh giá thang đo lường các biến cố của mô hình nghiên cứu..........
............................................................................................................................44
4. Bảng hỏi kháo sát...............................................................................................49
KẾT LUẬN...........................................................................................................56
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều năm qua, ngành dệt may là ngành “tiên phong” trong chiến lược xuất khẩu hàng
hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho đất nước một lượng ngoại tệ khá lớn.
Ngành dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối cao. Thành
quả này nhờ việt Nam một nguồn lao động dồi dào, khéo tay; chi phí lao động
thấp, các doanh nhiệp Việt Nam đã xây dựng và giữ được chữ tín trong kinh doanh với
nhiều nhà nhập khẩu lớn trên thế giới. Theo thống kê, trên 70% doanh nghiệp trong
ngành dệt may quy nhỏ trung bình trong ngành sẽ rất khó khăn trong việc
đầu tư, ứng dụng công nghệ mới vào quy trình sản xuất. Ngành dệt may Việt Nam
cũng là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực và giữ vai trò quan trọng đối với sự
tăng trưởng kinh tế, chiếm 12 – 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Song để phát triển hơn nữa, ngành Dệt May cần có những thay đổi mạnh mẽ hơn bằng
việc tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ - cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Cuộc CMCN 4.0 đã và đang lan rộng ra phạm vi toàn cầu, tác
động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của đời sống - hội, trong đó ngành Công
nghiệp Dệt May của thế giới nói chung và ngành Công nghiệp Dệt May của Việt Nam
nói riêng.
CMCN 4.0 được kỳ vọng sẽ tạo nên sự thay đổi lớn về phương thức sản xuất, làm thay
đổiu rộng chuỗi giá trị sản phẩm, từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất, dịch vụ
logistics đến dịch vụ khách hàng,… giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, vận chuyển,
phân phối và làm tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên,
đây cũng là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp Dệt May Việt Nam, đặc biệt là với
các doanh nghiệp vừa nhỏ trong bối cảnh hiện nay, bởi nhân lực để tiếp cận với
CMCN 4.0 còn yếu, việc đầu để ứng dụng công nghệ còn hạn chế, do đó, đòi hỏi
toàn ngành Dệt May phải nỗ lực rất nhiều trong đổi mới quy trình sản xuất và đáp ứng
được những yêu cầu của hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay và sau này.
Trước thời vận hội, nguy thách thức đan xen nhau, việc tìm hiểu, nghiên
cứu nhằm nâng cao nhận thức về những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình
sản xuất của các DN ngành dệt may là việc làm mang tính cấp thiết, có tầm quan trọng
3
đặc biệt đối với nhận thức và hành động của người công nhân ngành dệt may nói riêng
người sử dụng sản phẩm may mặc nói chung. Nhận thức được điều đó, nhóm 4
chúng em đã chọn đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản
xuất của các DN ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
4
NỘI DUNG
1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán
chứng
khoán
Tên công ty Sàn niêm
yết
Năm
niêm
yết
Vốn điều lệ
TCM CTCP Dệt may
Đầu vàThương
mại Thành Công
HOSE 2007 926.987.790.000 đồng
EVE CTCP Everpia HOSE 2008 419.797.730.000 đồng
VGT Tập đoàn Dệt
May Việt Nam
UPCOM 2017 5.000.000.000.000 đồng
TVT Tổng Công ty
Việt Thắng
HOSE 210.000.000.000 đồng
TNG CTCP Đầu
Thương mại TNG
HNX 2003 704.272.600.000 đồng
VGG Tổng Công ty cổ
phần May Việt
Tiến
UPCOM 2016 441.000.000.000 đồng
HNI CTCP May Hữu
Nghị
UPCOM 2015 300.000.000.000 đồng
GMC CTCP Garmex
Sài Gòn
HOSE 2006 330.003.000.000 đồng
M10 Tổng Công ty UPCOM 2018 302.400.000.000 đồng
5
May 10
MSH CTCP May Sông
Hồng
HOSE 2018 500.094.000.000 đồng
ADS CTCP Damsan HOSE 2016 437.790.340.000 đồng
KMR CTCP Mirae HOSE 2008 488.814.430.000 đồng
GIL CTCP Sản xuất
Kinh doanh
Xuất nhập khẩu
Bình Thạnh
HOSE 2002 432.000.000.000 đồng
1.1.2. Quy trình sản xuất
1.1.2.1. Các bước thực hiện trong giai đoạn tiền sản xuất
Trong quy trình sản xuất may công nghiệp, các nhà máy may mặc thường mua vải
từ nhiều nhà cung cấp vải khác nhau. Trước khi tìm nguồn cung ứng vải, một số
quy trình tiền sản xuất do nhân viên bán hàng của nhà máy xử lý.
Các bước sau được thực hiện trong giai đoạn tiền sản xuất.
- Tạo mẫu.
- Lấy mẫu hàng may mặc.
- Phát triển vải.
- Phê duyệt vải và phụ kiê xn.
- Tìm nguồn cung ứng vải và phụ kiê xn.
6
1.1.2.2. Quy trình sản xuất
Nhận vải
Sau khi đã tìm được nguồn vải ưng ý. Các nhà máy may mặc s đă xt mua và nhận
vải từ các nhà sản xuất dệt may dưới dạng bu lông lớn bằng bìa cứng hoặc ống nhựa
trung tâm hoặc dạng đống hoặc túi. Vải thường đến trong các thùng vận chuyển
thương mại bằng thép được bốc dỡ bằng xe nâng. Các xưởng may thường nhà
kho hoặc khu vực dành riêng để lưu trữ vải từ khi nhập đến khi sản xuất.
Thư giãn vải
"Thư giãn" đề cập đến quá trình cho phép vật liệu giãn ra co lại trước khi được
sản xuất. Bước này là cần thiết vì vật liệu liên tục bị căng trong suốt các giai đoạn khác
nhau của quy trình sản xuất may công nghiệp hàng dệt, bao gồm dệt, nhuộm các
quy trình hoàn thiện khác. Quá trình thư giãn cho phép các loại vải co lại để giảm thiểu
sự co rút trong quá trình sử dụng của khách hàng.
Các nhà sản xuất hàng may mặc thực hiện quá trình thư giãn theo cách thủ công
hoặc máy móc. Việc thả lỏng vải thủ công thường đòi hỏi việc tải các chốt vải trên
máy quay nạp nguyên liệu theo cách thủ công thông qua một bộ phận thiết bị làm
giảm lực căng của vải khi được kéo qua. Quá trình giãn vải học thực hiện quá
trình này theo cách tự động.
Nhiều nhà sản xuất hàng may mặc cũng sẽ tích hợp đảm bảo chất lượng vào quá
trình này để đảm bảo rằng chất lượng của vải đáp ứng các tiêu chuẩn của khách
hàng. Bước này được thực hiện bằng cách kiểm tra thủ công từng bu lông của vải bằng
cách sử dụng bề mặt đèn nền để xác định các lỗi sản xuất như sự không nhất quán
về màu sắc hoặc các sai sót trong vật liệu. Vải không đạt tiêu chuẩn của khách hàng
được trả lại cho nhà sản xuất dệt.
Trải rộng, bố cục biểu mẫu và cắt
Sau khi vải đã được nới lỏng, được chuyển đến khu vực trải và cắt của cơ sở sản
xuất may công nghiệp. Đầu tiên, vải được cắt thành các tấm đồng nhất sau đó trải
7
bằng tay hoặc sử dụng hệ thống điều khiển bằng máy tính để chuẩn bị cho quá trình
cắt. Vải được trải ra:
- Cho phép người vận hành xác định các lỗi của vải.
- Kiểm soát độ căng và độ chùng của vải trong quá trình cắt
- Đảm bảo mỗi lớp được căn chỉnh chính xác trên đầu các lớp khác.
Số lượng vải trong mỗi lần trải phụ thuộc vào loại vải, phương pháp trải, thiết bị cắt
kích thước của đơn hàng may mặc. Tiếp theo, Đánh dấu vải, quá trình này thể
được thực hiện thủ công hoặc bằng hệ thống máy tính đánh dấu. Đầu tiên, điểm đánh
dấu lấy các mẫu có kích thước đầy đủ và đặt chúng trên tờ giấy đánh dấu.
Giấy đánh dấu một loại giấy được in với các điểm đánh dấu cho thấy hình dạng
của từng bộ phận và đảm bảo rằng mỗi mảnh theo các đường thớ nhất định. Công nhân
cắm ghim hoặc kim ghim vào vải để điểm đánh dấu ở đúng vị trí.
Dấu đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị quá trình cắt. Khi bạn bước
vào phòng cắt, nhân viên phân phối sắp xếp vải thành hàng trăm lớp và đánh dấu. Quá
trình này được giám sát bởi người giám sát để đảm bảo hoạt động đúng.
Sau khi hoàn thiện với việc phân phối, xếp đặt, đánh dấu, nhân viên tiến hành bước
cắt quan trọng. Các mẫu quần áo hoặc các mẫu được đặt trên bề mặt của tấm trải, bằng
tay hoặc được lập trình trong một hệ thống cắt tự động.
Các hình thức cắt:
- Cắt thủ công
- Cắt nhiệt
- Cắt bằng tia laze
Cuối cùng, vải được cắt theo hình dạng của các mẫu quần áo bằng cách sử dụng
thiết bị cắt vận hành thủ công hoặc hệ thống cắt vi tính.
8
Thêu và in lụa
Thêu in lụa hai quá trình chỉ xảy ra khi khách hàng trực tiếp chỉ định; do đó,
các quy trình này thường được hợp đồng phụ cho các sở ngoài công
trường. Thêu được thực hiện bằng thiết bị tự động, thường có nhiều máy cùng lúc thêu
cùng một mẫu trên nhiều sản phẩm may mặc. Mỗi dây chuyền sản xuất có thể bao gồm
từ 10 đến 20 trạm thêu. Khách hàng thể yêu cầu thêu logo hoặc trang trí khác trên
sản phẩm may mặc.
In lụa quá trình áp dụng đồ họa dựa trên sơn lên vải bằng máy ép máy sấy
dệt. Cụ thể, in lụa bao gồm việc quét một lưỡi dao cao su trên một màn hình xốp,
chuyển mực qua một giấy nến lên vải. Các mảnh vải in lưới sau đó được làm khô
để đặt mực. Quá trình này có thể các mức độ tự động hóa khác nhau hoặc phần lớn
có thể được hoàn thành tại các trạm vận hành thủ công.
Giống như thêu, in lụa hoàn toàn do khách hàng quyết định có thể được yêu cầu
đặt logo hoặc các hình ảnh đồ họa khác trên hàng may mặc hoặc in thông tin thương
hiệu và kích thước thay cho thẻ dán.
May vá
Khâu hoặc may được thực hiện sau khi các miếng cắt được lại theo kích
thước, màu sắc số lượng do phòng may xác định. Sau quá trình cắt in (quy trình
tùy chọn), các thành phần đã cắt được gửi đến bộ phận may. Người vận hành khâu
lắp ráp từng bộ phận may mặc một và tạo thành bộ quần áo hoàn chỉnh.
Tại thời điểm may, hàng may mặc được kiểm tra chất lượng bởi người kiểm
tra. Hàng may mặc được gửi đến bộ phận hoàn thiện hoặc bộ phận giặt nếu được yêu
cầu giặt.
XD lý lEi và giặt là
Ngoài việc xác định các lỗi sản xuất, nhân viên được giao nhiệm vụ đảm bảo chất
lượng cũng tìm kiếm các lỗi thẩm mỹ, vết bẩn hoặc các vết khác trên trang phục có thể
đã xảy ra trong quá trình cắt may. Các điểm này thường được đánh dấu bằng nhãn
9
dán được đưa đến khu vực làm sạch tại chỗ, i quần áo được làm sạch bằng hơi
nước, nước nóng hoặc chất tẩy vết bẩn hóa học.
Việc giặt giũ được thực hiện bằng máy giặt rất tinh vi nếu bất kỳ sản phẩm nào
bị dính bẩn trong quá trình sản xuất may công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ cần thực hiện
bước này nếu quần áo bị dính bẩn.
Sau khi một bộ quần áo được xử lỗi x sinh mô xt cách hoàn chỉnh, sẽ được
chuyển đến bộ phận ủi của sở để ép lần cuối. Mỗi trạm ủi bao gồm một bàn ủi
một bệ ủi. Bàn trông tương tự như các kiểu bàn dân dụng nhưng hơi nước
được cung cấp bởi một lò hơi tại chỗ.
Công nhân điều khiển hơi nước bằng bàn đạp chân hơi nước được cung cấp qua
các vòi trên cao trực tiếp đến bàn ủi. Trong hầu hết các cơ sở, các bệ ủi được trang bị
hệ thống thông gió hút hơi nước qua bàn ủi thải ra bên ngoài nhà máy. Các quy
trình cơ bản của ủi đồ bao gồm:
- Hơi nước nhiệt cần thiết để làm giãn vải làm cho đủ dẻo để đúc
bằng thao tác.
- Áp lực: khi vải đã được làm giãn bằng hơi nước, áp suất được áp dụng sẽ đặt
các sợi vào vị trí mới của chúng.
- Làm khô: Sau khi áp dụng hơi nước áp suất, thành phần hoặc quần áo phải
được làm khô làm mát để vải thể trở lại tình trạng bình thường. Điều này được
thực hiện bằng tác động hút chân không giúp loại bỏ nước thừa khỏi vải đồng
thời làm mát vải. Đối với một số hoạt động áp suất, không khí nóng hoặc sưởi hồng
ngoại được sử dụng thay cho chân không để làm khô.
Gấp và đóng gói hàng may mặc
- Gấp: Các sản phẩm may mặc thành phẩm sau đó được gấp lại theo một kích
thước cụ thể. Việc gấp cũng thể được thực hiện bằng cách sử dụng một mẫu. Thẻ
giá, thẻ treo bất kỳ loại thẻ nào khác được gắn vào quần áo sau khi gấp. Các loại
quần áo gấp đa dạng tùy thuộc vào mặt hàng yêu cầu của người mua. Đôi khi toàn
bộ quần áo được đóng gói trong một giá treo mà không cần gấp.
10
- Đóng gói: Quần áo đã gấp được đóng gói vào một túi poly để giữ cho luôn
tươi mới cho đến khi đến cửa hàng bán lẻ. Các loại phụ kiện đóng gói khác nhau được
sử dụng để giữ cho quần áo hình dạng mong muốn. Một số sản phẩm được đóng
gói trực tiếp vào thùng giấy bìa cứng mà không đóng gói vào túi poly.
- Kiểm toán nội bộ:Các sản phẩm may mặc đóng gói sau đó được kiểm tra để
đảm bảo chất lượng của các thành phẩm xuất xưởng. Quy trình này được tuân theo để
đánh giá chất lượng nội bộ để đảm bảo rằng không hàng may mặc bị lỗi nào
được đóng gói vào thùng carton.
- Sản phẩm đã hoàn thành và sẵn sàng: Cuối cùng hàng may mặc đã sẵn sàng cho
việc vận chuyển và sẵn sàng cho người tiêu dùng cuối cùng.
1.1.3. Sự đổi mới
1.1.3.1. Khái niệm
Xuyên suốt lịch sử hình thành, tồn tạo khá nhiều khái niệm trong hệ thống lý thuyết
đổi mới. Các cuộc khảo sát về đổi mới đã tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau.
thuyết đổi mới nền tảng cho sự ra đời của khái niệm năng lực đổi mới, được hình
thành từ những năm 1911 và có mộ bề dày lịch sử phát triển cho đến nay.
Từ thế kỉ XIV châu Âu, đã tiếp tục nghiên cứu tìm thêm cái mới mãi cho đến thế
kỉ XX đã bắt đầu xuất hiện thêm các nhà năn, nhà khoa học dùng thuật ngữ này để giải
thích cho những sự đổi mới.
Trong thế kỷ XX, khái niệm đổi mới không trở nên phổ biến cho đến sau Ciến tranh
thế giới tứ hai 1939 – 1945. Đây là thời điểm mà mọi người bắt đầu nói về đổi mới sản
phẩm công nghệ gắn với ý tưởng về tăng trưởng kinh tế lợi thế cạnh tranh.
Joseph Schumpete (1883 – 1950) thường được ghi nhận là người đã làm cho thuật ngữ
này trở nên phổ biến ông đã đóng góp rất nhiều vào việc nghiên cứu kinh tế học đổi
mới.
Theo Brilman, “đổi mới cách thức áp dụng một ý tưởng sáng tạo để giúp doanh
nghiệp phát triển tích ứng nhanh trong môi trường cạnh tranh”. Đến năm 2009,
trong một cuộc khảo sát công nghiệp về cách ngàn công ngiệp phần mềm định nghĩa
11
sự đổi mới, định nghĩa sau đây do Crossan Apaydin đưa ra được coi hoàn chỉnh
nhất, dựa trên định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD):
“Đổi mới là sản xuất học áp dụng, đồng hóa và khai thác tính mới có giá trị gia tăng
trong các lĩnh vực kinh tế hội; đổi mới mở rộng sản phẩm, dịch vụ thị
trường; phát triển các phương thức sản xuất mới; thiết lập các hệ thống quản
mới. Đó là cả một quá trình và một kết quả”
1.1.3.2. Phân loại
The OECD đổi mới có 4 loại là:
- Đổi mới sản phẩm
- Đổi mới quy trình
- Đổi mới công nghệ
- Đổi mới marketing
1.1.4. Sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết
trên thị trường chứng khoán
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) nhận định, Covid-19 vẫn diễn biến phức
tạp, khó lường trên toàn cầu, song Việt Nam đã chính sách thích ứng an toàn, linh
hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh phục hồi, phát triển kinh tế; các thị trường lớn
như Mỹ, EU... đã mở cửa trở lại; các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang phát
huy hiệu quả, nên doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ thêm hội mở rộng thị
trường.
Trong bài viết "Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới ngành Dệt giai đoạn 2022-
2025: Đón đầu xu thế của thời đại mới" ông Phạm Xuân Trình - Giám đốc điều hành
Vinatex đã chia sẻ, để đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường thế giới,
việc sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải gắn liền với môi trường xanh, sạch bền vững,
yêu cầu doanh nghiệp luôn phải vận dụng công nghệ để đáp ứng trong từng sản phẩm
của mình, ngoài duy trì sản xuất các mặt hàng thông dụng cần có các giải pháp để tạo
ra các sản phẩm mới nhằm tạo thêm giá trị gia tăng và phong phú sản phẩm. Phát triển
sản phẩm mới trên nền tảng thế mạnh sản phẩm đang bằng cách thay đổi, thêm bớt
12
nguyên liệu, công nghệ, kỹ thuật từ phương pháp kéo sợi, nguyên liệu sợi đến hiệu
ứng dệt, công nghệ nhuộm, may mặc, đóng gói. dụ như: Trộn visco vào cotton
để kéo sợi cellulo sẽ cho màu sắc rất tươi và đậm khi nhuộm. Trộn xơ PVA vào cotton
để tạo sợi sẽ tạo nên sản phẩm rất xốp, mềm, thấm nước cao… lúc xử hoàn tất
nhuộm. Tạo nên sợi Fancy và kiểu dệt chéo nổi gân sẽ tạo hiệu ứng mạnh mẽ sau khi
wash của quần áo denim.
Phối hợp hai loại nguyên liệu khác nhau tạo hiệu ứng khác nhau trong cùng một
điều kiện môi trường. Dùng xơ cotton để bao bọc quanh lõi filament tạo nên sợi để dệt
vải nhằm tăng cường lực, độ ma sát, mài mòn, tăng khả năng hút ẩm, giặt mau khô, tạo
cảm giác thoải mái trong đồng phục bảo hộ lao động… rất nhiều cách thức để tạo
nên sản phẩm khác lạ từ phương pháp này. Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, nhiều loại sợi mới được ra đời ứng dụng vào việc tạo ra sản phẩm được chế
biến từ vỏ trấu, vỏ dừa, bắp, chất nhờn từ cat fish, vỏ cua, sữa chua, chai nhựa, than
hoạt tính, carbon…
Bên cạnh đó, việc tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu về các lĩnh vực đặc thù như
chống cháy sẽ dùng sợi aramid kết hợp với nano chống cháy được làm từ vỏ trấu; dùng
sợi micro, nano để tạo ra sản phẩm làm sạch bề mặt đòi hỏi độ bóng cao như màn hình
điện thoại, vi tính, kính xe hơi; đưa hoạt chất kháng virus vào vải, sản phẩm gia dụng;
ứng dụng một số loại sợi vào dệt vải thông minh như biết được tình trạng sức khỏe
hoặc có khả năng làm mát khi nhiệt độ cao và làm ấm khi nhiệt độ thấp…
Ngoài ra, những sản phẩm gắn liền với môi trường, xanh, sạch đang xu thế của
thế giới. Các sản phẩm có xơ sợi từ xơ dừa, chuối, đay hoặc cellulo hữu cơ kết hợp với
các phương pháp chế biến tiết kiệm năng lượng, dùng năng lượng sạch, nguồn gốc
hữu như thuốc nhuộm từ cây lá, củ quả (mạc nưa, nghệ, chàm…) chủ yếu dùng
nước sôi thời gian hoặc sản phẩm tái tạo như PE recycle, công nghệ nhuộm
Clean dye không nước.
Hiện nay, đại dịch Covid-19 dù chưa kết thúc, nhưng nhờ đã bao phủ vắc-xin với tỷ
lệ cao, nên hoạt động sản xuất, kinh doanh đã vào guồng trở lại. Những mặt hàng tiềm
năng tại thị trường Việt Nam chưa nhà sản xuất lớn như ga chăn áo gối, vải không
dệt 100% cotton để làm khăn ăn hoặc dụng cụ tẩy trang, thảm lót sàn theo công nghệ
13
dệt thoi hoặc cấy…Chính thế, việc kết hợp giữa doanh nghiệp, viện, trường với đối
tác khách hàng, nghiên cứu thị trường để tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới, công nghệ
mới, thiết bị mới; việc nghiên cứu gắn với thực hành để tạo ra sản phẩm tại đơn vị sản
xuất là rất cần thiết để đưa đến thành công cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong
ngành dệt may.
Trong vài năm gần đây, sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp dệt may đã cải
thiện nhiều về năng suất, chất lượng cũng như sự hài lòng của khách hàng. Tuy nhiên,
so với một số quốc gia dệt may hàng đầu trong khu vực và trên thế giới, năng suất nói
chung và năng suất lao động nói riêng vẫn còn khoảng cách. Các công cụ cải tiến năng
suất chất lượng là yếu tố then chốt để ngành dệt may nước ta có thể nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình và hướng tới phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.
Năng lực sản suất của một doanh nghiệp có thể bị chi phối bởi một số yếu tố ngoại
vi như tình hình thị trường, chế chính sách,… hay các yếu tố nội tại như nguồn lao
động, vốn, công nghệ, tình hình khả năng tổ chức quản sản xuất. Trong số trên,
các yếu tố nội tại những điều doanh nghiệp thể ngay lập tức cải thiện thông
qua các công cụ cải tiến năng suất chất lượng. Đối với ngành dệt may, các công cụ như
5S, Kaizen, Lean, TPM, KPI, MFCA, BSC, ISO… từ lâu đã trở thành những giải pháp
giúp doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, loại bỏ những khuyết điểm, giảm lãng
phí không đáng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao vị thế uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường.
Nhìn chung, may công đoạn ngành dệt may nước ta đang lợi thế. Năng
suất chất lượng sản phẩm may của một số đơn vị trong ngành thể tương đương với
một số quốc gia trong khu vực trên thế giới xét trên góc độ cùng công nghệ sử
dụng. Tuy nhiên, xét về tổng thể thì năng suất ngành may của Việt Nam mới chỉ đạt
mức trung bình khá do sự khác biệt về mức độ tự động chuyên dùng của thiết bị,
tay nghề của người lao động cũng như trình độ quản của doanh nghiệp. Chẳng hạn
như năng suất của mi đạt 17-35 mi/lao động/ca làm việc; Quần âu đạt 14-25
SP/lao động/ca làm việc. Điều này cho thấy năng suất lao động của các đơn vị sản xuất
hàng may mặc của Việt Nam sự chênh lệch khá lớn đây cũng chính là hội để
nâng cao năng suất. Các đơn vị năng suất thấp có thể học hỏi kinh nghiệm về kỹ
14
thuật đầu tư, quản sản xuất, thị trường… từ những đơn vị năng suất cao. Bên
cạnh đó, các công nghệ mới cũng là lựa chọn tốt đối với các nhà đầu tư có mong muốn
đưa sản phẩm dệt may của mình ra cạnh tranh với các thương hiệu nổi tiếng trên thế
giới.
Đối với vấn đề nâng cao năng lực quản lý, các doanh nghiệp thể tích hợp áp
dụng các hệ thống quản như ISO 9001, ISO 14001, SA8000, WRAP, ISO/IEC
17025, ISO 50001, ISO 26000… cùng hệ thống các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm
và phương pháp thử của châu Âu (EN), của Mỹ (ASTM, AATCC), của Nhật Bản (JIS)
hay tiêu chuẩn quốc tế ISO… nhằm chuyên môn hóa hoạt động sản xuất của mình. Áp
dụng các công cụ cải tiến như 5S, Lean, TPM sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo nhà
xưởng luôn thông thoáng, sạch sẽ, giúp xây dựng một môi trường làm việc thoải mái
cho công nhân; vật dụng được đặt nơi dễ lấy, dễ sử dụng; giúp doanh nghiệp giảm
các lãng phí về thời gian, không gian di chuyển luôn đảm bảo tính sẵn sàng của
máy móc, từ đó hạn chế được những sự cố bất ngờ trong quá trình làm việc, đảm bảo
an toàn lao động, đồng thời tiết kiệm được nguồn nhân lực và thời gian sản xuất.
Chia sẻ về vấn đề nâng cao năng suất chất lượng ngành dệt may, PGS TS Phạm
HồngUVTV Liên hiệp hội Khoa học kỹ thuật Nội cho biết: Giải pháp nâng cao
hiệu quả cho các doanh nghiệp khi áp dụng các công cụ cải tiến thì nên tập trung vào
hai việc, thứ nhất là tạo ra được các mô hình điểm, trong quá trình triển khai nhân rộng
thì vai trò của tư vấn đối với doanh nghiệp không mang tính “cầm tay chỉ việc” nhiều.
Trên sở đó, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong quá tình triển khai tới các
hình sẽ sâu sát và hiệu quả hơn.
1.1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh
nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.1.5.1. Kinh tế:
1.1.5.1.1. Chính sách tiền lương
Với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dệt may một
trong những ngành được chú trọng ưu tiên phát triển trên sở tận dụng nguồn
nhân công dồi dào, giá rẻ trong nước để thực hiện các đơn hàng may xuất khẩu của
15
nước ngoài. Đến nay, số lao động trong ngành maygần 2 triệu lao động. Tuy ngành
may cần đã thu hút được nhiều lao động, nhưng tính ổn định của nguồn lao động
trong ngành lại không cao. Nguyên nhân chính do mức thu nhập của công nhân ngành
may. Họ sẵn sàng chuyển đổi sang những công việc khác có thu nhập cao hơn. Mặc dù
gần đây, nhiều doanh nghiệp may đã có những thay đổi trong chính sách lương thưởng
cho người lao động nhưng số lao động thôi việc vẫn không ngừng tăng lên so với số
lao động tuyến mới.
1.1.5.1.2. Thu nhập
Trong 2 quý cuối năm 2009, GDP của riêng Hà Nội lần lượt tăng 8,3% và 9%. Mức
tăng ngoạn mục trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế góp phần đưa tổng sản phẩm nội
địa của Nội ước tăng 6,7% so với 2008 cao hơn 6% dự kiến. Tương ứng, thu
nhập bình quân của người dân thủ đô đạt 32 triệu đồng (kế hoạch 30 triệu đồng).
Trong năm 2010, Nội kỳ vọng mức GDP đạt 9-10% hoặc cao hơn thu nhập bình
quân đầu người vượt 36 triệu đồng. Xu thế sử dụng thu nhập cho nhu cầu mặc cũng
tăng hơn từ 10-12%
1.1.5.1.3. Lạm phát
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 4 tăng 0,14%
là mức tăng thấp nhất trong vòng 12 tháng qua. Từ mức tăng cao, tới 1,96% của tháng
2/2010 xuống 0,75% trong tháng 3, đến tháng 4, CPI tháng 4/2010 chỉ tăng 0,14% so
với tháng trước. Trong hội nhập, nền kinh tế nước ta có độ mở cao do xuất khẩu chiếm
tới 60-70% GDP. Tuy nhiên, càng xuất khẩu nhiều chúng ta càng phải nhập khẩu lắm.
Nhập khẩu đầu tư máy móc trang thiết bị. Nhập khẩu nguyên vật liệu cho gia công, sản
xuất. Chính nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất phải nhập khẩu nhiều nên
khi giá cả thế giới tăng, sẽ tác động trực tiếp đến giá cả các mặt hàng sản xuất trong
nước. Để xuất khẩu được 1 tỷ USD hàng dệt may, chúng ta phải nhập khẩu tới hơn
700 triệu USD nguyên phụ liệu. Với sự phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu từ bên
ngoài, nhập siêu càng lớn, nguy nhập khẩu lạm phát càng cao. 4 tháng đầu năm
nay, nhập siêu đã mức 4,6 tỷ USD, tương đương 23% kim ngạch xuất khẩu, trong
khi mục tiêu chính phủ đặt ra là nhập siêu không vượt quá 20% kim ngạch xuất khẩu.
16
1.1.5.1.4. Tỷ giá hối đoái
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam. Sự suy
thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu Mỹ tìm đến
những nguồn hàng nhập khẩu giá rẻ hơn. Việc này thể sẽ khiến cho hàng xuất
khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.Mặt khác, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ
khiến cho đồng USD bị mất giá so với đồng tiền của các nước khác. Sự giảm giá của
đồng USD khiến cho doanh thu xuất khẩu - nguồn thu chính của các doanh nghiệp
may mặc giảm sút.Trong khi đó, yếu tố đầu vào của ngành may hiện nay phần lớn vẫn
phải nhập khẩu chịu ảnh hưởng của sự biến động giá dầu trên thế giới. Sự tăng giá
của các yếu tố đầu vào sẽ khiến cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Điều này cũng
ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.5.1.5. Lãi suất
Việc đột ngột tăng lãi suất vay của các ngân hàng vào đầu tháng 4-2010, mặc dù đã
sự chỉ đạo của Chính phủ đối với Ngân hàng Nhà nước về điều chỉnh lãi suất vào
ngày 6-4-2010 xuống dưới 15%/năm, nhưng vẫn còn rất cao đối với DN. Thêm vào
đó, việc tăng giá điện giá một số vật chính yếu khác đã gây ra một “cú sốc” khá
nặng cho các DN. Nhiều dự định đầu mở rộng sản xuất đã phải dừng lại, bởi chỉ
riêng việc tính toán sao cho lãi duy trì sản xuất với mức lãi suất này cũng bài
toán khó của nhiều DN. Một thực tế hiện nay là tất cả các DN đều hoạt động bằng vốn
vay của ngân hàng, do vậy chỉ cần một điều chỉnh nhỏ về lãi vay huy động vốn sẽ
ảnh hưởng rất lớn đối với DN.Đối với các DN dệt-may, trung bình mỗi năm chỉ quay
được từ 2,5 đến 3 vòng vốn được coi tương đối hiệu quả, thì mỗi sản phẩm
phải “gánh” từ 4,5% đến 5,6% lãi vay ngân hàng, đây khoản chi phí cao nhất, sau
chi phí tiền lương công nhân. Trong khi đó lãi gộp (chưa trừ lương, các chi phí quản lý
sản xuất khác và lãi của DN) chỉ dao động ở mức từ 25% đến 30%, rất khó để các DN
có lãi.
1.1.5.2. Văn hóa xã hội
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng chú trọng
đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó quần áo. Thêm vào đó, xu hướng
17
thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm may mặc cũng sự biến
đổi liên tục. Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng đầu đúng mực cho công
tác thiết kế sẽ nhanh chóng bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này. Hàng may
mặc Trung Quốc với giá thành rẻ kiểu dáng mẫu đa dạng, thường xuyên thay
đổi khá phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường may
mặc nội địa. Tuy nhiên, người Việt Nam vẫn có tâm lý “ăn chắc mặc bền”, nên những
sản phẩm chất lượng tốt của các doanh nghiệp trong nước vẫn được nhiều người Việt
Nam tìm dùng. Đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước khi muốn chiếm
lại thị trường nội địa hiện đang bị hàng Trung Quốc tấn công thống trị. Bên cạnh
đó, yếu tố môi trường cũng được các nước, đặc biệt là EU, chú ý yêu cầu và kiểm soát
nghiêm ngặt khi nhập khẩu hàng may mặc. Những yêu cầu về môi trường đối với sản
phẩm may mặc thường được EU sử dụng các nhãn sinh thái, phương pháp sản xuất
sản phẩm bảo vệ môi trường, các điều kiện về lao động v.v. Nếu không đáp ứng được
những yêu cầu này thì hàng may mặc muốn xuất khẩu vào EU sẽ rất khó khăn hoặc có
thể sẽ bị chịu phạt.
1.1.5.3. Khoa học công ngh
Năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn nhất của
ngành may mặc Việt Nam hiện nay. Hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn
thực hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giảm, còn
những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng
được. Vì thế nếu được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành may mặc Việt Nam có
thể phát huy hết được tiềm năng về lao động và chất lượng.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp dệt may trên cả nước
xấp xỉ 8,461 doanh nghiệp, tuy nhiên, hầu hết là những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Các doanh nghiệp quy vốn dưới 50 tỷ đồng chiếm 87% (6.792 doanh nghiệp),
điều này cho thấy các doanh nghiệp này khó có thể nâng cấp thiết bị công nghệ 4.0
để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. ràng đây cũng những doanh nghiệp
chịu rủi ro cao nhất khó thể cạnh tranh với các doanh nghiệp được đầu công
nghệ 4.0 xét về năng suất và chất lượng.
18
1.1.5.4. Chính trị pháp luật
Trong quyết định 36/QĐ-TTG ngày 14/3/2008 về phê duyệt Chiến lược phát triển
ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Việt
Nam đặt mục tiêu phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng
trong nước; tạo nhiều việc làm cho hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập
vững chắc kinh tế khu vực thế giới.Do đó, ngành may Việt Nam trong thời gian tới
sẽ được ưu tiên phát triển.Dệt may vốn một lĩnh vực khá nhạy cảm trong quan hệ
thương mại của các quốc gia. Hàng may mặc của Việt Nam với ưu thế giá thành thấp
vừa là yếu tố cạnh tranh so với hàng xuất khẩu của các quốc gia khác, nhưng cũng lại
một hạn chế do dễ bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng thuế chống bán phá
giá. Năm 2007, hàng may mặc của Việt Nam đã bị Mỹ thực hiện điều tra về bán phá
giá vào thị trường này. Mặc Mỹ đã kết luận Việt Nam không thực hiện bán phá
giá vào Mỹ, nhưng hàng may mặc của Việt Nam vẫn bị giám sát khi xuất khẩu vào Mỹ
trong năm 2008. Đây sẽ một trong những khó khăn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng may mặc của Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị an toàn về xã hội, sức hấp
dẫn đối với các thương nhân các nhà đầu nước ngoài. Bản thân việc Việt Nam
tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị
trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện được xu hướng tăng trong giai đoạn 2000 -
2007, mặc dù giảm mạnh trong năm 2008.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu
vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may.
Việt Nam hiện đã thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia kết thực
thi nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng cả cấp độ song phương (như Hiệp
định đối tác thương mại Việt - Nhật) đa phương (như các hiệp định trong khung
khổ của ASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN - Úc - Niu Dilân, …). Những cam
kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sức hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư và mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác mới.
19
1.1.5.5. Nguồn lực doanh nghiệp
Về trình độ học vấn:
+ Đa số lao động thiếu kỹ năng cứng kỹ năng mềm cần thiết không chỉ cho
công việc hiện tại còn cho những công việc đòi hỏi kỹ năng cao của công nghiệp
4.0
Sự phân bổ về trình độ có độ lệch trái rất lớn trong cả 4 nhóm ngành, trong đó trình
độ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm ít nhất 81%. ràng nếu so với tỷ lệ
lao động có trình độ đại học trở lên thì con số này cao gấp 20 lần. Với những phân tích
trên, ngành dệt may Việt Nam đang bị mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu trình độ lao
động, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm quá lớn (chiếm 4/5 lực lượng lao động)
dẫn đến việc chuyển đổi hình sản xuất, tăng năng suất gặp rất nhiều hạn chế, điều
này cũng giải thích tại sao năng suất lao động của người Việt Nam luôn ở trong nhóm
các nước có năng suất thấp theo tổ chức lao động quốc tế (ILO). Mặt khác lao động
trình độ thấp thì nhận thức của họ cũng bị hạn chế, do đó dẫn đến việc tuân thủ kỷ luật
lao động, ý thức lao động không được cao, sự biến động lao động lớn gây nên những
thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp xét cả về hiệu quả sản xuất chiến lược
đầu tư, phát triển. Điều quan trọng nữa trình độ lao động thấp nguy dẫn đến
khả năng tiếp nhận công nghệ sẽ bị hạn chế, và đây sẽ là thách thức không nhỏ cho các
doanh nghiệp trong việc ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0 vào trong sản xuất của
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài:
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI
QUY TRÌNH SẢN XUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH DỆT MAY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................6
NỘI DUNG.............................................................................................................8
1. Tổng quan nghiên cứu..........................................................................................8 1.1.
Cơ sở lý thuyết..............................................................................................8 1.2.
Các tài liệu nghiên cứu tham khảo..............................................................27
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh nghiệp
ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán (sàn HOSE).........................38 2.1.
Bối cảnh và tuyên bố nghiên cứu................................................................38
2.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu.....................................................................39 2.3.
Câu hỏi nghiên cứu.....................................................................................39 2.4.
Mô hình nghiên cứu....................................................................................40 2.5.
Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................41 2.6.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:..............................................................42 2.7.
Phương pháp nghiên cứu - thu thập dữ liệu.................................................42
3. Tổng hợp và đánh giá thang đo lường các biến cố của mô hình nghiên cứu..........
............................................................................................................................44
4. Bảng hỏi kháo sát...............................................................................................49
KẾT LUẬN...........................................................................................................56 2 LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều năm qua, ngành dệt may là ngành “tiên phong” trong chiến lược xuất khẩu hàng
hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho đất nước một lượng ngoại tệ khá lớn.
Ngành dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối cao. Thành
quả này là nhờ việt Nam có một nguồn lao động dồi dào, khéo tay; chi phí lao động
thấp, các doanh nhiệp Việt Nam đã xây dựng và giữ được chữ tín trong kinh doanh với
nhiều nhà nhập khẩu lớn trên thế giới. Theo thống kê, trên 70% doanh nghiệp trong
ngành dệt may có quy mô nhỏ và trung bình trong ngành sẽ rất khó khăn trong việc
đầu tư, ứng dụng công nghệ mới vào quy trình sản xuất. Ngành dệt may Việt Nam
cũng là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực và giữ vai trò quan trọng đối với sự
tăng trưởng kinh tế, chiếm 12 – 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Song để phát triển hơn nữa, ngành Dệt May cần có những thay đổi mạnh mẽ hơn bằng
việc tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Cuộc CMCN 4.0 đã và đang lan rộng ra phạm vi toàn cầu, tác
động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của đời sống - xã hội, trong đó có ngành Công
nghiệp Dệt May của thế giới nói chung và ngành Công nghiệp Dệt May của Việt Nam nói riêng.
CMCN 4.0 được kỳ vọng sẽ tạo nên sự thay đổi lớn về phương thức sản xuất, làm thay
đổi sâu rộng chuỗi giá trị sản phẩm, từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất, dịch vụ
logistics đến dịch vụ khách hàng,… giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, vận chuyển,
phân phối và làm tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên,
đây cũng là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp Dệt May Việt Nam, đặc biệt là với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh hiện nay, bởi nhân lực để tiếp cận với
CMCN 4.0 còn yếu, việc đầu tư để ứng dụng công nghệ còn hạn chế, do đó, đòi hỏi
toàn ngành Dệt May phải nỗ lực rất nhiều trong đổi mới quy trình sản xuất và đáp ứng
được những yêu cầu của hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay và sau này.
Trước thời cơ và vận hội, nguy cơ và thách thức đan xen nhau, việc tìm hiểu, nghiên
cứu nhằm nâng cao nhận thức về những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình
sản xuất của các DN ngành dệt may là việc làm mang tính cấp thiết, có tầm quan trọng 3
đặc biệt đối với nhận thức và hành động của người công nhân ngành dệt may nói riêng
và người sử dụng sản phẩm may mặc nói chung. Nhận thức được điều đó, nhóm 4
chúng em đã chọn đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản
xuất của các DN ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” 4 NỘI DUNG
1. Tổng quan nghiên cứu
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Mã Năm Tên công ty Sàn niêm chứng niêm Vốn điều lệ yết khoán yết TCM CTCP Dệt may HOSE 2007 926.987.790.000 đồng Đầu tư vàThương mại Thành Công EVE CTCP Everpia HOSE 2008 419.797.730.000 đồng VGT Tập đoàn Dệt UPCOM 2017 5.000.000.000.000 đồng May Việt Nam TVT Tổng Công ty HOSE 210.000.000.000 đồng Việt Thắng TNG CTCP Đầu tư và HNX 2003 704.272.600.000 đồng Thương mại TNG VGG Tổng Công ty cổ UPCOM 2016 441.000.000.000 đồng phần May Việt Tiến HNI CTCP May Hữu UPCOM 2015 300.000.000.000 đồng Nghị GMC CTCP Garmex HOSE 2006 330.003.000.000 đồng Sài Gòn M10 Tổng Công ty UPCOM 2018 302.400.000.000 đồng 5 May 10 MSH CTCP May Sông HOSE 2018 500.094.000.000 đồng Hồng ADS CTCP Damsan HOSE 2016 437.790.340.000 đồng KMR CTCP Mirae HOSE 2008 488.814.430.000 đồng GIL CTCP Sản xuất HOSE 2002 432.000.000.000 đồng Kinh doanh và Xuất nhập khẩu Bình Thạnh
1.1.2. Quy trình sản xuất 1.1.2.1.
Các bước thực hiện trong giai đoạn tiền sản xuất
Trong quy trình sản xuất may công nghiệp, các nhà máy may mặc thường mua vải
từ nhiều nhà cung cấp vải khác nhau. Trước khi tìm nguồn cung ứng vải, có một số
quy trình tiền sản xuất do nhân viên bán hàng của nhà máy xử lý.
Các bước sau được thực hiện trong giai đoạn tiền sản xuất. - Tạo mẫu. - Lấy mẫu hàng may mặc. - Phát triển vải.
- Phê duyệt vải và phụ kiê x n.
- Tìm nguồn cung ứng vải và phụ kiê x n. 6 1.1.2.2.
Quy trình sản xuấtNhận vải
Sau khi đã tìm được nguồn vải ưng ý. Các nhà máy may mặc sẽ đă x t mua và nhận
vải từ các nhà sản xuất dệt may dưới dạng bu lông lớn bằng bìa cứng hoặc ống nhựa
trung tâm hoặc ở dạng đống hoặc túi. Vải thường đến trong các thùng vận chuyển
thương mại bằng thép và được bốc dỡ bằng xe nâng. Các xưởng may thường có nhà
kho hoặc khu vực dành riêng để lưu trữ vải từ khi nhập đến khi sản xuất.
Thư giãn vải
"Thư giãn" đề cập đến quá trình cho phép vật liệu giãn ra và co lại trước khi được
sản xuất. Bước này là cần thiết vì vật liệu liên tục bị căng trong suốt các giai đoạn khác
nhau của quy trình sản xuất may công nghiệp hàng dệt, bao gồm dệt, nhuộm và các
quy trình hoàn thiện khác. Quá trình thư giãn cho phép các loại vải co lại để giảm thiểu
sự co rút trong quá trình sử dụng của khách hàng.
Các nhà sản xuất hàng may mặc thực hiện quá trình thư giãn theo cách thủ công
hoặc máy móc. Việc thả lỏng vải thủ công thường đòi hỏi việc tải các chốt vải trên
máy quay và nạp nguyên liệu theo cách thủ công thông qua một bộ phận thiết bị làm
giảm lực căng của vải khi nó được kéo qua. Quá trình giãn vải cơ học thực hiện quá
trình này theo cách tự động.
Nhiều nhà sản xuất hàng may mặc cũng sẽ tích hợp đảm bảo chất lượng vào quá
trình này để đảm bảo rằng chất lượng của vải đáp ứng các tiêu chuẩn của khách
hàng. Bước này được thực hiện bằng cách kiểm tra thủ công từng bu lông của vải bằng
cách sử dụng bề mặt có đèn nền để xác định các lỗi sản xuất như sự không nhất quán
về màu sắc hoặc các sai sót trong vật liệu. Vải không đạt tiêu chuẩn của khách hàng
được trả lại cho nhà sản xuất dệt.
Trải rộng, bố cục biểu mẫu và cắt
Sau khi vải đã được nới lỏng, nó được chuyển đến khu vực trải và cắt của cơ sở sản
xuất may công nghiệp. Đầu tiên, vải được cắt thành các tấm đồng nhất và sau đó trải 7
bằng tay hoặc sử dụng hệ thống điều khiển bằng máy tính để chuẩn bị cho quá trình
cắt. Vải được trải ra: -
Cho phép người vận hành xác định các lỗi của vải. -
Kiểm soát độ căng và độ chùng của vải trong quá trình cắt -
Đảm bảo mỗi lớp được căn chỉnh chính xác trên đầu các lớp khác.
Số lượng vải trong mỗi lần trải phụ thuộc vào loại vải, phương pháp trải, thiết bị cắt
và kích thước của đơn hàng may mặc. Tiếp theo, Đánh dấu vải, quá trình này có thể
được thực hiện thủ công hoặc bằng hệ thống máy tính đánh dấu. Đầu tiên, điểm đánh
dấu lấy các mẫu có kích thước đầy đủ và đặt chúng trên tờ giấy đánh dấu.
Giấy đánh dấu là một loại giấy được in với các điểm đánh dấu cho thấy hình dạng
của từng bộ phận và đảm bảo rằng mỗi mảnh theo các đường thớ nhất định. Công nhân
cắm ghim hoặc kim ghim vào vải để điểm đánh dấu ở đúng vị trí.
Dấu đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị quá trình cắt. Khi bạn bước
vào phòng cắt, nhân viên phân phối sắp xếp vải thành hàng trăm lớp và đánh dấu. Quá
trình này được giám sát bởi người giám sát để đảm bảo hoạt động đúng.
Sau khi hoàn thiện với việc phân phối, xếp đặt, đánh dấu, nhân viên tiến hành bước
cắt quan trọng. Các mẫu quần áo hoặc các mẫu được đặt trên bề mặt của tấm trải, bằng
tay hoặc được lập trình trong một hệ thống cắt tự động. Các hình thức cắt: - Cắt thủ công - Cắt nhiệt - Cắt bằng tia laze
Cuối cùng, vải được cắt theo hình dạng của các mẫu quần áo bằng cách sử dụng
thiết bị cắt vận hành thủ công hoặc hệ thống cắt vi tính. 8
Thêu và in lụa
Thêu và in lụa là hai quá trình chỉ xảy ra khi khách hàng trực tiếp chỉ định; do đó,
các quy trình này thường được ký hợp đồng phụ cho các cơ sở ngoài công
trường. Thêu được thực hiện bằng thiết bị tự động, thường có nhiều máy cùng lúc thêu
cùng một mẫu trên nhiều sản phẩm may mặc. Mỗi dây chuyền sản xuất có thể bao gồm
từ 10 đến 20 trạm thêu. Khách hàng có thể yêu cầu thêu logo hoặc trang trí khác trên sản phẩm may mặc.
In lụa là quá trình áp dụng đồ họa dựa trên sơn lên vải bằng máy ép và máy sấy
dệt. Cụ thể, in lụa bao gồm việc quét một lưỡi dao cao su trên một màn hình xốp,
chuyển mực qua một giấy nến và lên vải. Các mảnh vải in lưới sau đó được làm khô
để đặt mực. Quá trình này có thể có các mức độ tự động hóa khác nhau hoặc phần lớn
có thể được hoàn thành tại các trạm vận hành thủ công.
Giống như thêu, in lụa hoàn toàn do khách hàng quyết định và có thể được yêu cầu
đặt logo hoặc các hình ảnh đồ họa khác trên hàng may mặc hoặc in thông tin thương
hiệu và kích thước thay cho thẻ dán. May vá
Khâu hoặc may vá được thực hiện sau khi các miếng cắt được bó lại theo kích
thước, màu sắc và số lượng do phòng may xác định. Sau quá trình cắt và in (quy trình
tùy chọn), các thành phần đã cắt được gửi đến bộ phận may. Người vận hành khâu và
lắp ráp từng bộ phận may mặc một và tạo thành bộ quần áo hoàn chỉnh.
Tại thời điểm may, hàng may mặc được kiểm tra chất lượng bởi người kiểm
tra. Hàng may mặc được gửi đến bộ phận hoàn thiện hoặc bộ phận giặt nếu được yêu cầu giặt.
XD lý lEi và giặt là
Ngoài việc xác định các lỗi sản xuất, nhân viên được giao nhiệm vụ đảm bảo chất
lượng cũng tìm kiếm các lỗi thẩm mỹ, vết bẩn hoặc các vết khác trên trang phục có thể
đã xảy ra trong quá trình cắt và may. Các điểm này thường được đánh dấu bằng nhãn 9
dán và được đưa đến khu vực làm sạch tại chỗ, nơi quần áo được làm sạch bằng hơi
nước, nước nóng hoặc chất tẩy vết bẩn hóa học.
Việc giặt giũ được thực hiện bằng máy giặt rất tinh vi nếu có bất kỳ sản phẩm nào
bị dính bẩn trong quá trình sản xuất may công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ cần thực hiện
bước này nếu quần áo bị dính bẩn.
Sau khi một bộ quần áo được xử lý lỗi và vê x
sinh mô xt cách hoàn chỉnh, nó sẽ được
chuyển đến bộ phận ủi của cơ sở để ép lần cuối. Mỗi trạm ủi bao gồm một bàn ủi và
một bệ ủi. Bàn là trông tương tự như các kiểu bàn là dân dụng nhưng có hơi nước
được cung cấp bởi một lò hơi tại chỗ.
Công nhân điều khiển hơi nước bằng bàn đạp chân và hơi nước được cung cấp qua
các vòi trên cao trực tiếp đến bàn ủi. Trong hầu hết các cơ sở, các bệ ủi được trang bị
hệ thống thông gió hút hơi nước qua bàn ủi và thải ra bên ngoài nhà máy. Các quy
trình cơ bản của ủi đồ bao gồm: -
Hơi nước và nhiệt là cần thiết để làm giãn vải và làm cho nó đủ dẻo để đúc bằng thao tác. -
Áp lực: khi vải đã được làm giãn bằng hơi nước, áp suất được áp dụng sẽ đặt
các sợi vào vị trí mới của chúng. -
Làm khô: Sau khi áp dụng hơi nước và áp suất, thành phần hoặc quần áo phải
được làm khô và làm mát để vải có thể trở lại tình trạng bình thường. Điều này được
thực hiện bằng tác động hút chân không giúp loại bỏ nước dư thừa khỏi vải và đồng
thời làm mát vải. Đối với một số hoạt động áp suất, không khí nóng hoặc sưởi hồng
ngoại được sử dụng thay cho chân không để làm khô. 
Gấp và đóng gói hàng may mặc -
Gấp: Các sản phẩm may mặc thành phẩm sau đó được gấp lại theo một kích
thước cụ thể. Việc gấp cũng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một mẫu. Thẻ
giá, thẻ treo và bất kỳ loại thẻ nào khác được gắn vào quần áo sau khi gấp. Các loại
quần áo gấp đa dạng tùy thuộc vào mặt hàng và yêu cầu của người mua. Đôi khi toàn
bộ quần áo được đóng gói trong một giá treo mà không cần gấp. 10 -
Đóng gói: Quần áo đã gấp được đóng gói vào một túi poly để giữ cho nó luôn
tươi mới cho đến khi đến cửa hàng bán lẻ. Các loại phụ kiện đóng gói khác nhau được
sử dụng để giữ cho quần áo có hình dạng mong muốn. Một số sản phẩm được đóng
gói trực tiếp vào thùng giấy bìa cứng mà không đóng gói vào túi poly. -
Kiểm toán nội bộ:Các sản phẩm may mặc đóng gói sau đó được kiểm tra để
đảm bảo chất lượng của các thành phẩm xuất xưởng. Quy trình này được tuân theo để
đánh giá chất lượng nội bộ và để đảm bảo rằng không có hàng may mặc bị lỗi nào
được đóng gói vào thùng carton. -
Sản phẩm đã hoàn thành và sẵn sàng: Cuối cùng hàng may mặc đã sẵn sàng cho
việc vận chuyển và sẵn sàng cho người tiêu dùng cuối cùng.
1.1.3. Sự đổi mới 1.1.3.1. Khái niệm
Xuyên suốt lịch sử hình thành, tồn tạo khá nhiều khái niệm trong hệ thống lý thuyết
đổi mới. Các cuộc khảo sát về đổi mới đã tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau. Lý
thuyết đổi mới là nền tảng cho sự ra đời của khái niệm năng lực đổi mới, được hình
thành từ những năm 1911 và có mộ bề dày lịch sử phát triển cho đến nay.
Từ thế kỉ XIV ở châu Âu, đã tiếp tục nghiên cứu tìm thêm cái mới mãi cho đến thế
kỉ XX đã bắt đầu xuất hiện thêm các nhà năn, nhà khoa học dùng thuật ngữ này để giải
thích cho những sự đổi mới.
Trong thế kỷ XX, khái niệm đổi mới không trở nên phổ biến cho đến sau Ciến tranh
thế giới tứ hai 1939 – 1945. Đây là thời điểm mà mọi người bắt đầu nói về đổi mới sản
phẩm công nghệ và gắn nó với ý tưởng về tăng trưởng kinh tế và lợi thế cạnh tranh.
Joseph Schumpete (1883 – 1950) thường được ghi nhận là người đã làm cho thuật ngữ
này trở nên phổ biến – ông đã đóng góp rất nhiều vào việc nghiên cứu kinh tế học đổi mới.
Theo Brilman, “đổi mới là cách thức áp dụng một ý tưởng sáng tạo để giúp doanh
nghiệp phát triển và tích ứng nhanh trong môi trường cạnh tranh”. Đến năm 2009,
trong một cuộc khảo sát công nghiệp về cách ngàn công ngiệp phần mềm định nghĩa 11
sự đổi mới, định nghĩa sau đây do Crossan và Apaydin đưa ra được coi là hoàn chỉnh
nhất, dựa trên định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD):
“Đổi mới là sản xuất học áp dụng, đồng hóa và khai thác tính mới có giá trị gia tăng
trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội; đổi mới và mở rộng sản phẩm, dịch vụ và thị
trường; phát triển các phương thức sản xuất mới; và thiết lập các hệ thống quản lý
mới. Đó là cả một quá trình và một kết quả” 1.1.3.2. Phân loại
The OECD đổi mới có 4 loại là: - Đổi mới sản phẩm - Đổi mới quy trình - Đổi mới công nghệ - Đổi mới marketing
1.1.4. Sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết
trên thị trường chứng khoán
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) nhận định, dù Covid-19 vẫn diễn biến phức
tạp, khó lường trên toàn cầu, song Việt Nam đã có chính sách thích ứng an toàn, linh
hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế; các thị trường lớn
như Mỹ, EU... đã mở cửa trở lại; các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang phát
huy hiệu quả, nên doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ có thêm cơ hội mở rộng thị trường.
Trong bài viết "Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới ngành Dệt giai đoạn 2022-
2025: Đón đầu xu thế của thời đại mới" ông Phạm Xuân Trình - Giám đốc điều hành
Vinatex đã chia sẻ, để đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường thế giới,
việc sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải gắn liền với môi trường xanh, sạch và bền vững,
yêu cầu doanh nghiệp luôn phải vận dụng công nghệ để đáp ứng trong từng sản phẩm
của mình, ngoài duy trì sản xuất các mặt hàng thông dụng cần có các giải pháp để tạo
ra các sản phẩm mới nhằm tạo thêm giá trị gia tăng và phong phú sản phẩm. Phát triển
sản phẩm mới trên nền tảng thế mạnh sản phẩm đang có bằng cách thay đổi, thêm bớt 12
nguyên liệu, công nghệ, kỹ thuật từ phương pháp kéo sợi, nguyên liệu sợi đến hiệu
ứng dệt, công nghệ nhuộm, may mặc, đóng gói. Ví dụ như: Trộn xơ visco vào cotton
để kéo sợi cellulo sẽ cho màu sắc rất tươi và đậm khi nhuộm. Trộn xơ PVA vào cotton
để tạo sợi sẽ tạo nên sản phẩm rất xốp, mềm, thấm nước cao… lúc xử lý hoàn tất
nhuộm. Tạo nên sợi Fancy và kiểu dệt chéo nổi gân sẽ tạo hiệu ứng mạnh mẽ sau khi wash của quần áo denim.
Phối hợp hai loại nguyên liệu khác nhau tạo hiệu ứng khác nhau trong cùng một
điều kiện môi trường. Dùng xơ cotton để bao bọc quanh lõi filament tạo nên sợi để dệt
vải nhằm tăng cường lực, độ ma sát, mài mòn, tăng khả năng hút ẩm, giặt mau khô, tạo
cảm giác thoải mái trong đồng phục bảo hộ lao động… và rất nhiều cách thức để tạo
nên sản phẩm khác lạ từ phương pháp này. Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, nhiều loại sợi mới được ra đời và ứng dụng vào việc tạo ra sản phẩm được chế
biến từ vỏ trấu, vỏ dừa, bắp, chất nhờn từ cat fish, vỏ cua, sữa chua, chai nhựa, than hoạt tính, carbon…
Bên cạnh đó, việc tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu về các lĩnh vực đặc thù như
chống cháy sẽ dùng sợi aramid kết hợp với nano chống cháy được làm từ vỏ trấu; dùng
sợi micro, nano để tạo ra sản phẩm làm sạch bề mặt đòi hỏi độ bóng cao như màn hình
điện thoại, vi tính, kính xe hơi; đưa hoạt chất kháng virus vào vải, sản phẩm gia dụng;
ứng dụng một số loại sợi vào dệt vải thông minh như biết được tình trạng sức khỏe
hoặc có khả năng làm mát khi nhiệt độ cao và làm ấm khi nhiệt độ thấp…
Ngoài ra, những sản phẩm gắn liền với môi trường, xanh, sạch đang là xu thế của
thế giới. Các sản phẩm có xơ sợi từ xơ dừa, chuối, đay hoặc cellulo hữu cơ kết hợp với
các phương pháp chế biến tiết kiệm năng lượng, dùng năng lượng sạch, có nguồn gốc
hữu cơ như thuốc nhuộm từ cây lá, củ quả (mạc nưa, nghệ, chàm…) chủ yếu dùng
nước sôi và thời gian hoặc sản phẩm tái tạo như xơ PE recycle, công nghệ nhuộm Clean dye không nước.
Hiện nay, đại dịch Covid-19 dù chưa kết thúc, nhưng nhờ đã bao phủ vắc-xin với tỷ
lệ cao, nên hoạt động sản xuất, kinh doanh đã vào guồng trở lại. Những mặt hàng tiềm
năng tại thị trường Việt Nam chưa có nhà sản xuất lớn như ga chăn áo gối, vải không
dệt 100% cotton để làm khăn ăn hoặc dụng cụ tẩy trang, thảm lót sàn theo công nghệ 13
dệt thoi hoặc cấy…Chính vì thế, việc kết hợp giữa doanh nghiệp, viện, trường với đối
tác khách hàng, nghiên cứu thị trường để tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới, công nghệ
mới, thiết bị mới; việc nghiên cứu gắn với thực hành để tạo ra sản phẩm tại đơn vị sản
xuất là rất cần thiết để đưa đến thành công cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành dệt may.
Trong vài năm gần đây, sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp dệt may đã cải
thiện nhiều về năng suất, chất lượng cũng như sự hài lòng của khách hàng. Tuy nhiên,
so với một số quốc gia dệt may hàng đầu trong khu vực và trên thế giới, năng suất nói
chung và năng suất lao động nói riêng vẫn còn khoảng cách. Các công cụ cải tiến năng
suất chất lượng là yếu tố then chốt để ngành dệt may nước ta có thể nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình và hướng tới phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.
Năng lực sản suất của một doanh nghiệp có thể bị chi phối bởi một số yếu tố ngoại
vi như tình hình thị trường, cơ chế chính sách,… hay các yếu tố nội tại như nguồn lao
động, vốn, công nghệ, tình hình và khả năng tổ chức quản lý sản xuất. Trong số trên,
các yếu tố nội tại là những điều mà doanh nghiệp có thể ngay lập tức cải thiện thông
qua các công cụ cải tiến năng suất chất lượng. Đối với ngành dệt may, các công cụ như
5S, Kaizen, Lean, TPM, KPI, MFCA, BSC, ISO… từ lâu đã trở thành những giải pháp
giúp doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, loại bỏ những khuyết điểm, giảm lãng
phí không đáng có nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao vị thế và uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường.
Nhìn chung, may là công đoạn mà ngành dệt may nước ta đang có lợi thế. Năng
suất chất lượng sản phẩm may của một số đơn vị trong ngành có thể tương đương với
một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới xét trên góc độ cùng công nghệ sử
dụng. Tuy nhiên, xét về tổng thể thì năng suất ngành may của Việt Nam mới chỉ đạt
mức trung bình khá do sự khác biệt về mức độ tự động và chuyên dùng của thiết bị,
tay nghề của người lao động cũng như trình độ quản lý của doanh nghiệp. Chẳng hạn
như năng suất của sơ mi đạt 17-35 sơ mi/lao động/ca làm việc; Quần âu đạt 14-25
SP/lao động/ca làm việc. Điều này cho thấy năng suất lao động của các đơn vị sản xuất
hàng may mặc của Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn và đây cũng chính là cơ hội để
nâng cao năng suất. Các đơn vị có năng suất thấp có thể học hỏi kinh nghiệm về kỹ 14
thuật đầu tư, quản lý sản xuất, thị trường… từ những đơn vị có năng suất cao. Bên
cạnh đó, các công nghệ mới cũng là lựa chọn tốt đối với các nhà đầu tư có mong muốn
đưa sản phẩm dệt may của mình ra cạnh tranh với các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới.
Đối với vấn đề nâng cao năng lực quản lý, các doanh nghiệp có thể tích hợp áp
dụng các hệ thống quản lý như ISO 9001, ISO 14001, SA8000, WRAP, ISO/IEC
17025, ISO 50001, ISO 26000… cùng hệ thống các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm
và phương pháp thử của châu Âu (EN), của Mỹ (ASTM, AATCC), của Nhật Bản (JIS)
hay tiêu chuẩn quốc tế ISO… nhằm chuyên môn hóa hoạt động sản xuất của mình. Áp
dụng các công cụ cải tiến như 5S, Lean, TPM sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo nhà
xưởng luôn thông thoáng, sạch sẽ, giúp xây dựng một môi trường làm việc thoải mái
cho công nhân; vật dụng được đặt ở nơi dễ lấy, dễ sử dụng; giúp doanh nghiệp giảm
các lãng phí về thời gian, không gian di chuyển và luôn đảm bảo tính sẵn sàng của
máy móc, từ đó hạn chế được những sự cố bất ngờ trong quá trình làm việc, đảm bảo
an toàn lao động, đồng thời tiết kiệm được nguồn nhân lực và thời gian sản xuất.
Chia sẻ về vấn đề nâng cao năng suất chất lượng ngành dệt may, PGS – TS Phạm
Hồng – UVTV Liên hiệp hội Khoa học kỹ thuật Hà Nội cho biết: Giải pháp nâng cao
hiệu quả cho các doanh nghiệp khi áp dụng các công cụ cải tiến thì nên tập trung vào
hai việc, thứ nhất là tạo ra được các mô hình điểm, trong quá trình triển khai nhân rộng
thì vai trò của tư vấn đối với doanh nghiệp không mang tính “cầm tay chỉ việc” nhiều.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn và trong quá tình triển khai tới các mô
hình sẽ sâu sát và hiệu quả hơn.
1.1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự đổi mới quy trình sản xuất của các doanh
nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.1.5.1. Kinh tế:
1.1.5.1.1. Chính sách tiền lương
Với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dệt may là một
trong những ngành được chú trọng và ưu tiên phát triển trên cơ sở tận dụng nguồn
nhân công dồi dào, giá rẻ trong nước để thực hiện các đơn hàng may xuất khẩu của 15
nước ngoài. Đến nay, số lao động trong ngành may là gần 2 triệu lao động. Tuy ngành
may cần và đã thu hút được nhiều lao động, nhưng tính ổn định của nguồn lao động
trong ngành lại không cao. Nguyên nhân chính do mức thu nhập của công nhân ngành
may. Họ sẵn sàng chuyển đổi sang những công việc khác có thu nhập cao hơn. Mặc dù
gần đây, nhiều doanh nghiệp may đã có những thay đổi trong chính sách lương thưởng
cho người lao động nhưng số lao động thôi việc vẫn không ngừng tăng lên so với số lao động tuyến mới.
1.1.5.1.2. Thu nhập
Trong 2 quý cuối năm 2009, GDP của riêng Hà Nội lần lượt tăng 8,3% và 9%. Mức
tăng ngoạn mục trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế góp phần đưa tổng sản phẩm nội
địa của Hà Nội ước tăng 6,7% so với 2008 và cao hơn 6% dự kiến. Tương ứng, thu
nhập bình quân của người dân thủ đô đạt 32 triệu đồng (kế hoạch 30 triệu đồng).
Trong năm 2010, Hà Nội kỳ vọng mức GDP đạt 9-10% hoặc cao hơn thu nhập bình
quân đầu người vượt 36 triệu đồng. Xu thế sử dụng thu nhập cho nhu cầu mặc cũng tăng hơn từ 10-12%
1.1.5.1.3. Lạm phát
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 4 tăng 0,14%
là mức tăng thấp nhất trong vòng 12 tháng qua. Từ mức tăng cao, tới 1,96% của tháng
2/2010 xuống 0,75% trong tháng 3, đến tháng 4, CPI tháng 4/2010 chỉ tăng 0,14% so
với tháng trước. Trong hội nhập, nền kinh tế nước ta có độ mở cao do xuất khẩu chiếm
tới 60-70% GDP. Tuy nhiên, càng xuất khẩu nhiều chúng ta càng phải nhập khẩu lắm.
Nhập khẩu đầu tư máy móc trang thiết bị. Nhập khẩu nguyên vật liệu cho gia công, sản
xuất. Chính vì nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất phải nhập khẩu nhiều nên
khi giá cả thế giới tăng, sẽ tác động trực tiếp đến giá cả các mặt hàng sản xuất trong
nước. Để xuất khẩu được 1 tỷ USD hàng dệt may, chúng ta phải nhập khẩu tới hơn
700 triệu USD nguyên phụ liệu. Với sự phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu từ bên
ngoài, nhập siêu càng lớn, nguy cơ nhập khẩu lạm phát càng cao. 4 tháng đầu năm
nay, nhập siêu đã ở mức 4,6 tỷ USD, tương đương 23% kim ngạch xuất khẩu, trong
khi mục tiêu chính phủ đặt ra là nhập siêu không vượt quá 20% kim ngạch xuất khẩu. 16
1.1.5.1.4. Tỷ giá hối đoái
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam. Sự suy
thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu Mỹ tìm đến
những nguồn hàng nhập khẩu có giá rẻ hơn. Việc này có thể sẽ khiến cho hàng xuất
khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.Mặt khác, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ
khiến cho đồng USD bị mất giá so với đồng tiền của các nước khác. Sự giảm giá của
đồng USD khiến cho doanh thu xuất khẩu - nguồn thu chính của các doanh nghiệp
may mặc giảm sút.Trong khi đó, yếu tố đầu vào của ngành may hiện nay phần lớn vẫn
phải nhập khẩu và chịu ảnh hưởng của sự biến động giá dầu trên thế giới. Sự tăng giá
của các yếu tố đầu vào sẽ khiến cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Điều này cũng
ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.5.1.5. Lãi suất
Việc đột ngột tăng lãi suất vay của các ngân hàng vào đầu tháng 4-2010, mặc dù đã
có sự chỉ đạo của Chính phủ đối với Ngân hàng Nhà nước về điều chỉnh lãi suất vào
ngày 6-4-2010 xuống dưới 15%/năm, nhưng vẫn còn rất cao đối với DN. Thêm vào
đó, việc tăng giá điện và giá một số vật tư chính yếu khác đã gây ra một “cú sốc” khá
nặng cho các DN. Nhiều dự định đầu tư mở rộng sản xuất đã phải dừng lại, bởi chỉ
riêng việc tính toán sao cho có lãi và duy trì sản xuất với mức lãi suất này cũng là bài
toán khó của nhiều DN. Một thực tế hiện nay là tất cả các DN đều hoạt động bằng vốn
vay của ngân hàng, do vậy chỉ cần một điều chỉnh nhỏ về lãi vay và huy động vốn sẽ
ảnh hưởng rất lớn đối với DN.Đối với các DN dệt-may, trung bình mỗi năm chỉ quay
được từ 2,5 đến 3 vòng vốn và được coi là tương đối có hiệu quả, thì mỗi sản phẩm
phải “gánh” từ 4,5% đến 5,6% lãi vay ngân hàng, đây là khoản chi phí cao nhất, sau
chi phí tiền lương công nhân. Trong khi đó lãi gộp (chưa trừ lương, các chi phí quản lý
sản xuất khác và lãi của DN) chỉ dao động ở mức từ 25% đến 30%, rất khó để các DN có lãi.
1.1.5.2. Văn hóa xã hội
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng chú trọng
đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo. Thêm vào đó, xu hướng và 17
thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm may mặc cũng có sự biến
đổi liên tục. Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng đầu tư đúng mực cho công
tác thiết kế sẽ nhanh chóng bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này. Hàng may
mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng, thường xuyên thay
đổi và khá phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường may
mặc nội địa. Tuy nhiên, người Việt Nam vẫn có tâm lý “ăn chắc mặc bền”, nên những
sản phẩm chất lượng tốt của các doanh nghiệp trong nước vẫn được nhiều người Việt
Nam tìm dùng. Đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước khi muốn chiếm
lại thị trường nội địa hiện đang bị hàng Trung Quốc tấn công và thống trị. Bên cạnh
đó, yếu tố môi trường cũng được các nước, đặc biệt là EU, chú ý yêu cầu và kiểm soát
nghiêm ngặt khi nhập khẩu hàng may mặc. Những yêu cầu về môi trường đối với sản
phẩm may mặc thường được EU sử dụng là các nhãn sinh thái, phương pháp sản xuất
sản phẩm bảo vệ môi trường, các điều kiện về lao động v.v. Nếu không đáp ứng được
những yêu cầu này thì hàng may mặc muốn xuất khẩu vào EU sẽ rất khó khăn hoặc có thể sẽ bị chịu phạt.
1.1.5.3. Khoa học công nghệ
Năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn nhất của
ngành may mặc Việt Nam hiện nay. Hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn là
thực hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giảm, còn
những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng
được. Vì thế nếu được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành may mặc Việt Nam có
thể phát huy hết được tiềm năng về lao động và chất lượng.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp dệt may trên cả nước
xấp xỉ 8,461 doanh nghiệp, tuy nhiên, hầu hết là những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Các doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 50 tỷ đồng chiếm 87% (6.792 doanh nghiệp),
điều này cho thấy các doanh nghiệp này khó có thể nâng cấp thiết bị và công nghệ 4.0
để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Rõ ràng đây cũng là những doanh nghiệp
chịu rủi ro cao nhất vì khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp được đầu tư công
nghệ 4.0 xét về năng suất và chất lượng. 18
1.1.5.4. Chính trị pháp luật
Trong quyết định 36/QĐ-TTG ngày 14/3/2008 về phê duyệt Chiến lược phát triển
ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Việt
Nam đặt mục tiêu phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng
trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập
vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.Do đó, ngành may Việt Nam trong thời gian tới
sẽ được ưu tiên phát triển.Dệt may vốn là một lĩnh vực khá nhạy cảm trong quan hệ
thương mại của các quốc gia. Hàng may mặc của Việt Nam với ưu thế giá thành thấp
vừa là yếu tố cạnh tranh so với hàng xuất khẩu của các quốc gia khác, nhưng cũng lại
là một hạn chế do dễ bị các nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá
giá. Năm 2007, hàng may mặc của Việt Nam đã bị Mỹ thực hiện điều tra về bán phá
giá vào thị trường này. Mặc dù Mỹ đã kết luận là Việt Nam không thực hiện bán phá
giá vào Mỹ, nhưng hàng may mặc của Việt Nam vẫn bị giám sát khi xuất khẩu vào Mỹ
trong năm 2008. Đây sẽ là một trong những khó khăn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng may mặc của Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hội, có sức hấp
dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân việc Việt Nam
tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị
trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện được xu hướng tăng trong giai đoạn 2000 -
2007, mặc dù giảm mạnh trong năm 2008.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu
vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may.
Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia ký kết và thực
thi nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp
định đối tác thương mại Việt - Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung
khổ của ASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN - Úc - Niu Dilân, …). Những cam
kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sức hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư và mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác mới. 19
1.1.5.5. Nguồn lực doanh nghiệp
Về trình độ học vấn:
+ Đa số lao động thiếu kỹ năng cứng và kỹ năng mềm cần thiết không chỉ cho
công việc hiện tại mà còn cho những công việc đòi hỏi kỹ năng cao của công nghiệp 4.0
Sự phân bổ về trình độ có độ lệch trái rất lớn trong cả 4 nhóm ngành, trong đó trình
độ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm ít nhất 81%. Rõ ràng nếu so với tỷ lệ
lao động có trình độ đại học trở lên thì con số này cao gấp 20 lần. Với những phân tích
trên, ngành dệt may Việt Nam đang bị mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu trình độ lao
động, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm quá lớn (chiếm 4/5 lực lượng lao động)
dẫn đến việc chuyển đổi mô hình sản xuất, tăng năng suất gặp rất nhiều hạn chế, điều
này cũng giải thích tại sao năng suất lao động của người Việt Nam luôn ở trong nhóm
các nước có năng suất thấp theo tổ chức lao động quốc tế (ILO). Mặt khác lao động có
trình độ thấp thì nhận thức của họ cũng bị hạn chế, do đó dẫn đến việc tuân thủ kỷ luật
lao động, ý thức lao động không được cao, sự biến động lao động lớn gây nên những
thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp xét cả về hiệu quả sản xuất và chiến lược
đầu tư, phát triển. Điều quan trọng nữa là trình độ lao động thấp có nguy cơ dẫn đến
khả năng tiếp nhận công nghệ sẽ bị hạn chế, và đây sẽ là thách thức không nhỏ cho các
doanh nghiệp trong việc ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0 vào trong sản xuất của 20