Sè 143/2020
thương mi
khoa hc
1
2
11
19
31
38
45
54
61
67
76
82
KINH TVÀ QUN L Ý
1. Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Việt Dũng Tạ Thúy Quỳnh - Áp dụng hình ARDL nghiên cứu
tác động của các chỉ số giá đến thị trường chứng khoán Việt Nam. số: 143.1FiBa11
Application of ARDL model for studying the impact of price indicators on the Vietnamese
stock market
2. Đỗ Thị Vân Trang, Đinh Hồng Linh Thùy Linh - Ứng dụng hình ARDL nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. số:143.1TrEM.11
Determinants of Foreign Direct Investment In Vietnam: ARDL Model
3. Văn Hùng Hồ Kim Hương - Nghiên cứu tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối
với thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam. số: 143.1DEco.12
A Study on the Impact of Vocational Training Policies on Household’s Income in Vietnam’s
Rural Areas
4. Thị Ánh Nguyệt Nguyễn Hoàng Minh T - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ
gia đình Đồng bằng Sông Cửu Long. số: 143.1DEco.11
An Analysis of the Factors Affecting Household Spending in Mekong Delta
QUẢN TRỊ KINH DOANH
5. Nguyễn Quốc Thịnh, Khúc Đại Long Nguyễn Thu Hương - Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh
nghiệp Việt Nam - động lực cho sự khác biệt hóa. số: 143.2BAdm.22
Intellectual Property Management in Vietnamese Businesses - Motivation for Diversification
6. Đặng Thị Thu Trang Trương Thị Hiếu Hạnh - Ảnh hưởng của chất lượng tích hợp kênh lên
sự gắn kết của người tiêu dùng trong bán lẻ đa kênh tại Việt Nam. số: 143.2BMkt.21
The Influence of Channel Integration Quality on Customer Engagement in Multi-channel
Retail in Vietnam
7. Công Thuận Bùi Thị Thanh - Phong cách lãnh đạo ủy quyền sự tham gia vào quá trình
sáng tạo của cấp dưới. số: 143.2HRMg.21
Empowering leadership and followers’ creative process engagement
8. Nguyễn Chí Đức - Nghiên cứu hành vi tín nhiệm dựa trên thuyết trò chơi. số: 143.2BAdm.21
Game analysis of credit behavior
9. Trịnh Thùy Anh, Thanh Duy Nguyễn Phạm Kiến Minh - Sự tác động của nhận dạng tổ
chức, nhận dạng nhân viên - khách hàng định hướng khách hàng đến sự gắn kết của nhân viên tại
các công ty truyền thông trên địa bàn TP.HCM. số: 143.2HRMg.21
The Impact of Organization Identity, Staff-Customer Identity, and Customer Orientation on
Staff Commitment at Communication Companies in Hochiminh City
Ý KIN TRAO ĐI
10. Phan Thị Thu Hiền, Phạm Thị Cẩm Anh Trần Bích Ngọc - Những điểm mới của bộ quy tắc
Incoterms 2020 hàm ý áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế. số: 143.3IBMg.32
New Points in Incoterms 2020 and Implications in International Goods Trading
11. Nguyễn Ngọc Mai Nguyễn Thị Minh Thảo - Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ứng
dụng gọi xe: Trường hợp nghiên cứu tỉnh Bình Dương. số: 143.3BMkt.31
Factors Affecting the Intention to Use Vehicle Booking Apps: a Case Study in Bình Dương
Province
ISSN 1859-3666
1. Giới thiệu chung
Thị trường chứng khoán một trong những
thành phần quan trọng của một nền kinh tế phát
triển, kênh đầu hiệu quả phổ biến của rất
nhiều nhà đầu tư. Trải qua hơn 20 năm, thị trường
chứng khoán Việt Nam không ngừng phát triển
đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự thăng trầm
của thị trường chứng khoán do tác động của nhiều
nhân tố, bao gồm nhóm nhân tố mô, các nhân tố
vi trong nước cả các tác động từ môi trường
quốc tế.
Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng
ấn tượng qua nhiều năm, tăng trưởng GDP năm
2018 đạt 7.1% năm 2019 đạt 7%, cao nhất trong
13 năm vừa qua (theo ADB
1
). Với sự kiện thị trường
chứng khoán chính thức đi vào hoạt động năm 2000
Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) vào năm 2007, Chính Phủ Việt Nam ngày
càng quyết tâm trong việc phát triển kinh tế thông
qua nhiều chính sách mở cửa với các nền kinh tế
khác trên thế giới. Thị trường chứng khoán Việt
Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt nhận
được dòng vốn đầu đáng kể từ nước ngoài. Biến
động trên thị trường chứng khoán, cùng với rủi ro
hội, luôn chủ đề hấp dẫn thu hút được sự quan
tâm của các nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính
sách nhiều nhà nghiên cứu.
Nền kinh tế Việt Nam nhập siêu trong những năm
trở lại đây đẩy cầu ngoại tệ lên cao, trong khi đó dự
trữ ngoại hối của Việt Nam n thấp nên tạo áp lực
lên các quan nnước trong việc kiểm soát tỷ giá
USD/VND. Sự biến động của tỷ giá hối đoái th
tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó ảnh
hưởng đến dòng tiền đầu ớc ngoài tác động
gián tiếp tới thị trường chứng khoán. Cùng với tỷ giả
hối đoái, các chỉ số giá như giá dầu gvàng cũng
ÁP DNG MÔ HÌNH ARDL NGHIÊN CU TÁC ĐNG CA CÁC CH S GIÁ
ĐN TH TRƯNG CHNG KHOÁN VIT NAM
Nguyễn Thu Thuỷ
Trường Đại học Ngoại thương
Email: thuthuynguyen@ftu.edu.vn
Nguyễn Việt Dũng
Trường Đại học Ngoại thương
Email: vd.nguyen@ftu.edu.vn
Tạ Thúy Quỳnh
Trường Đại học Ngoại thương
Email: quynhtathuy@gmail.com
Ngày nhn: Ngày nhn li:09/06/2020
08/07/2020 Ngày duyt đăng: 13/07/2020
M
ục tiêu của bài nghiên cứu là phân tích tác động của tỷ giá, giá dầu tgiá ng thế giới đến
thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn tháng 10/2007 đến tháng 10/2019. Sử dụng
hình phân phối trtự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) kết hợp với phương pháp kiểm định
đường bao (Bound test) làm sở c định tác động i hạn, sau đó dùng nh hiệu chỉnh sai số (ECM)
để phân tích tác động ngắn hạn, kết quả thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ dài hạn ngắn hạn
giữa các chsố gđược lựa chọn với chỉ số VN-Index. Cụ thể, trong dài hạn, tgiá hối đoái giá ng tác
động ngược chiều trong khi gdầu tác động ng chiều đến chỉ sVN-Index. Sự biến động trong ngắn hạn
sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn với mức độ 6.4%. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài
viết đề xuất một vài giải pháp để phát triển thtrường chứng khoán Việt Nam một cách bền vững.
Từ khóa: Lợi tức chứng khoán, tỷ giá hối đoái, giá dầu thô, giá vàng
Kinh
Kinh
Kinh
Kinh Kinh
tÕ
tÕ
tÕ
tÕ tÕ
vµ
vµ
vµ
vµ vµ
qun
qun
qun
qun qun
lý
lý
lý
lýlý
khoa hoïc
thöông maïi
2
Sè 143/2020
?
1.https://www.adb.org/countries/viet-nam/economy
những c động nhất định đến dòng vốn đầu
trong ngoài ớc, thể dẫn tới sự biến động của
thị trường chứng khoán. Việt Nam trước đây quốc
gia phải nhập khẩu 100% lượng xăng dầu để phục vụ
cho qtrình sản xuất phát triển kinh tế. Gdầu
trong nước chịu nhiều tác động bởi giá dầu thế giới.
Những biến động lớn của giá dầu tác động trực tiếp
đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp trong nước
ảnh hưởng gián tiếp tới giá chứng khoán. Ngoài ra,
thị trường vàng Việt Nam ng luôn nhiều biến
động, không chỉ đến từ tác động của thị trường vàng
thế giới còn đến từ tâm các nhà đầu tư. Giá
vàng tăng hay giảm mạnh tác động lớn đến nền kinh
tế cụ thể là tiền gửi trong dân từ đó tác động
đến thị trường chứng khoán.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát
triển thị trường chứng khoán Việt Nam duới tác
động của các chỉ số giá, mục tiêu chính của bài viết
tìm phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá
USD/VND, giá dầu giá vàng với chỉ số chứng
khoán (VN-Index). Dựa trên kết quả nghiên cứu từ
hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) trong giai
đoạn từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 10 năm 2019,
bài viết đưa ra một số chính sách để phát triển thị
trường chứng khoán nhằm hướng đến một nền kinh
tế phát triển bền vững.
2. Tng quan tình hình nghiên cu và cơ s lý thuyết
Thị trường chứng khoán đã đang là kênh thu
hút vốn hiệu quả với những đóng góp tích cực o sự
phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh những thành tựu
đạt được thì thị trường chứng khoán cũng luôn phải
đối măt với những khó khăn, thách thức do sự biến
động của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó tgiá
hối đoái các chỉ số giá như giá dầu giá vàng thế
giới. Tỷ giá hối đoái thể tác động lớn đến kết quả
kinh doanh khi doanh nghiệp có phát sinh dòng tiền
bằng ngoại tệ. Thêm vào đó, tỷ g còn ảnh hưởng
đến dòng tiền đầu của khối ngoại. Các nhà đầu
sẽ ch cực mua c phiếu khi đồng nội tệ bị yếu đi,
tuy nhiên nếu đồng nội tệ liên tục giảm gsẽ cản tr
dòng vốn ớc ngoài do những rủi ro tỷ giá mang lại.
Sự biến động của giá dầu thô trên thế giới thị
trường vàng cũng các kênh dự báo chu k phát
triển của nền kinh tế, từ đó tác động đáng kể đến tâm
c nhà đầu ảnh hưởng gián tiếp đến ng
vốn đầu vào thtrường chứng khoán.
Hiện nay đã nhiều bài nghiên cứu về mối
quan hệ giữa các chỉ số giá (tập trung chủ yếu vào
tỷ giá hối đoái) thị trường chứng khoán trên thế
giới, tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ ra không
xu hướng chung cho tất cả thị trường.
Khi phân tích tác động giữa tỷ ghối đoái thị
trường chứng khoán, mối quan hệ cùng chiều gần
đây đã được chỉ ra từ một số kết quả thực nghiệm
của Naseem và cộng sự (2019); Lee and
Brahmasrene (2018); Giri and Joshi (2017); trong
khi mối quan hệ ngược chiều lại được tìm thấy trước
đó bởi Hsing, (2011); Kuwornu (2011); Rahman
cộng sự (2009). Một số nghiên cứu chưa chỉ ra được
mối quan hệ giữa hai biến số y (Gay, 2008, 2016;
Rahman and Uddin, 2009). Về tác động của giá dầu
tới chỉ số chứng khoán, Sahu cộng sự, (2014)
Narayan and Narayan (2010) đã chỉ ra mối tương
quan dương trong khi Giri and Joshi (2017); Basher
cộng sự (2012); Park and Ratti (2008) tìm ra
mối quan hệ ngược chiều giữa các biến này; tuy
nhiên kết quả trong nghiên cứu của Cao Đinh Kiên
Đỗ Hữu Hưng (2017) không chỉ ra mối quan hệ
giữa hai chỉ số này trong dài hạn. Tương tự, mối
quan hệ giữa giá vàng chỉ số chứng khoán cũng
đã được tìm thấy trong một số kết quả nghiên cứu
(Bapci Karaca, 2013; Nordin cộng sự, 2014),
tuy nhiên cũng chưa kết quả thống nhất.
Tổng quan tình hình nghiên cứu cũng đã cho
thấy nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp
dụng. Giri Joshi (2017) sử dụng kết hợp ARDL
VECM để tìm mối quan hệ dài hạn ngắn hạn
giữa các yếu tố kinh tế mô lợi tức cổ phiếu
trong giai đoạn 1979-2014. Kết quả đã khẳng định
tác động tích cực từ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ
giá tác động ngược chiều từ giá dầu thô đối với
giá chứng khoán trong dài hạn; các mối liên hệ
nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế FDI
đến chỉ số thị trường chứng khoán trong ngắn hạn.
Nhấn mạnh VAR hình đa biến thành ng,
linh hoạt dễ ước tính nhất dành cho dữ liệu theo
chuỗi thời gian, Bapci Karaca (2013) đã sử dụng
VAR để phân tích tìm ra mối quan hệ giữa chỉ số
thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ với giá vàng, tỷ
giá hối đoái lượng xuất nhập khẩu trong giai đoạn
tháng 1 năm 1996 đến tháng 10 năm 2011.
Nordin và cộng s(2014) nghn cứu sự biến động
của FBMKLCI (là ch số thị tờng chứng khn
Malaysia dựa tn 100 doanh nghiệp lớn nhất được
niêm yết tn n chứng khn Bursa) dưới sự nh
ởng của giá ng hóa (giá dầu cọ, giá dầu g
ng) các chỉ skinh tế mô (lãi suất tgiá hối
đoái). Mô nh ARDL cho thấy tác động ngược chiều
của hai yếu tố kinh tế vĩ và c động cùng chiều
của giá dầu cọ đến lợi nhuận cphiếu trong cả dài hạn
ngắn hạn. Tuy nhiên, không có kết quo được
m thấy cho mối ln kết giữa g dầu và giá ng đối
với chsố thị tờng chứng khn Malaysia.
3
?
Sè 143/2020
Kinh
Kinh
Kinh
Kinh Kinh
tÕ
tÕ
tÕ
tÕ tÕ
vµ
vµ
vµ
vµ vµ
qun
qun
qun
qun qun
lý
lý
lý
lýlý
thương mi
khoa hc
?
Nghiên cứu của Morales (2007) sử dụng phương
pháp Johansen, ước lượng VECM kiểm định
nhân quả Granger để xác định mối quan hệ dài hạn
cũng như ngắn hạn tìm mối quan hệ nhân quả
giữa các biến khoảng thời gian từ năm 1999 đến
năm 2006. Kết quả thực nghiệm cho thấy tại
Slovakia tồn tại mối quan hệ ngắn hạn của tỷ giá hối
đoái giá cổ phiếu chỉ số giá chứng khoán của
Đức; tỷ giá của Hungary, tỷ giá của Ba Lan tỷ giá
của Slovakia tác động đáng kể đến chỉ số giá
chứng khoán Anh. Kết quả kiểm định nhân quả
cho thấy tỷ giá mối quan hệ nhân quả một chiều
tới chỉ số giá chứng khoán của Czech Republic,
Poland, Hungary; mối quan hệ nhân quả giữa giá
chứng khoán với giá chứng khoán cũng được tìm
thấy trong trường hợp của Anh lên Ba Lan, Hungary
lên Anh Mỹ lên Ba Lan.
Richards Simpson (2009) phân tích mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái (AUD/USD) chỉ số giá
chứng khoán All Ordinaries stock price Index của
Sở giao dịch chứng khoán Úc từ ngày 02 tháng 01
năm 2003 đến ngày 30 tháng 06 năm 2006. Các tác
giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng
mối quan hệ của 2 biến dựa trên chuỗi dữ liệu gốc
sai phân bậc nhất. Sau đó, bài viết sử dụng
hình VAR kiểm định nhân quả Granger để ước
lượng mối quan hệ giữa các biến được lựa chọn. Kết
quả thu được tồn tại mối quan hệ đồng liên kết
cùng chiều giữa hai biến. Quan hệ nhân quả Granger
xác nhận tồn tại tác động nhân quả từ giá cổ phiếu
lên tỷ giá.
Kisaka Mwasaru (2012) tiến hành nghiên cứu
về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái giá chứng
khoán tại Kenya nhằm thiết lập mối quan hệ nhân
quả giữa sự truyền dẫn giá cả vào thị trường chứng
khoán thị trường ngoại hối tại quốc gia này. Sử
dụng chuỗi dữ liệu từ tháng 11 năm 1993 đến tháng
05 năm 1999, kết quả từ hình VECM kiểm
định nhân quả Granger đã chỉ ra tác động của tỷ giá
lên giá chứng khoán tại Kenya. Theo đó, các sốc
của tỷ giá thể gây hoảng loạn cho các nhà đầu
ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Khi phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá giá cổ
phiếu tại hai quốc gia Châu Á Hàn Quốc Iran,
Dadashi Tavakoli (2013) sử dụng chuỗi dữ liệu
theo tháng từ tháng 07 năm 2002 đến tháng 03 năm
2002 trong khuôn khổ hình MGARCH để ước
lượng mối quan hệ giữa hai biến này. Kết quả chỉ
tìm ra mối quan hệ một chiều từ lợi tức chứng khoán
lên tỷ giá tại Hàn Quốc không mối quan hệ
nào được tìm thấy tại thị trường Iran.
Tại Việt Nam, đã nhiều nhà nghiên cứu tập
trung phân tích các yếu tố tác động đến thị trường
chứng khoán, trong đó chủ yếu tập trung vào nhóm
các nhân tố mô. dụ như trong nghiên cứu của
Phan Thị Bích Nguyệt Phạm Dương Phương
Thảo (2013), các nhân tố được chọn để xem
xét mối quan hệ tương quan với thị trường chứng
khoán tỷ giá hối đoái giá dầu, cùng với cung
tiền, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất trong
giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 09/2011. Kết
quả ước lượng hồi quy bội cho thấy giá dầu tương
quan dương trong khi đó tỷ giá hối đoái tương
quan âm với thị trường chứng khoán.
Nguyễn Thị Liên Hoa Lương Thị Thúy
Hường (2014) đã tìm hiểu về mối liên kết động giữa
tỷ giá hối đoái biến động thị trường chứng khoán
cho thị trường mới nổi ASEAN thời kỳ 2005-2013
trong đó có Vit Nam. Kết quả t hình
EGARCH-Markov cho thấy hệ số ước lượng của sự
thay đổi tỷ giá hối đoái mang giá trị âm ý
nghĩa thống với tất cả các thị trường, nghĩa
những biến động trên thị trường ngoại hối sẽ giảm
lợi tức trên thị trường chứng khoán.
Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự
thay đổi giá của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE,
Trương Đông Lộc (2014) sử dụng số liệu gồm giá
lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu
niêm yết trên HOSE, lãi suất cho vay, tỷ giá
USD/VND, giá vàng chỉ s giá tiêu dùng trong
giai đoạn từ 31/12/2006 đến 31/12/2012 với tần suất
quý. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy tỷ giá
USD/VND tương quan dương trong khi giá vàng
mối tương quan âm với tỷ suất sinh lời của các cổ
phiếu niêm yết HOSE.
Sử dụng hình ARDL để tìm ra tác động của
các nhân tố đến chỉ số chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 01/2001-12/2013, Hoàng Phong
Đặng Thị Bạch Vân (2015) đã chọn lọc các nhân tố
thường gặp trong các nghiên cứu thế giới để xét cụ
thể cho trường hợp Việt Nam bao gồm tỷ giá, lạm
phát, cung tiền, các lãi suất kỳ hạn một năm như lãi
suất trái phiếu chính phủ lãi suất cho vay. Kết quả
hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL cho thấy
trong ngắn hạn dài hạn, tỷ giá tác động ngược
chiều lên chỉ số giá chứng khoán Việt Nam.
Như vậy, chưa sự thống nhất về mối quan hệ
giữa các chỉ số giá và thị trường chứng khoán trên các
thị trường thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên,
việc phân ch tác động của c yếu tố giá đến thị
trường chứng khoán Việt Nam - một th trường mở
cửa mới nổi - là cần thiết. Do vậy, ba nhân tố (t
giá, gdầu, gvàng) đã được lựa chọn đđưa vào
Sè 143/2020
4
Kinh tÕ vµ qun lý
thương mi
khoa hc
nghiên cứu mối quan htương quan với chỉ số chứng
khoán tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2019.
3. hình nghiên cứu
3.1. Lựa chọn biến nghiên cứu
Bài nghiên cứu lựa chọn VN-Index đại diện cho
thị trường chứng khoán Việt Nam do chỉ số VN-
Index được tính toán từ giá cổ phiếu của các công ty
hoạt động ổn định, giá trị vốn hóa lớn tính đại
diện nhất cho nền kinh tế Việt Nam. Chỉ số này được
thu thập từ trang web chính thức của Sở giao dịch
chng khoán Tnh ph Hồ Chí Minh
(http://www.hsx.vn). Để phân tích các tác động tới
chỉ số cổ phiếu VN-Index, bài viết thu thập số liệu
tỷ giá USD/VND, giá dầu thô giá vàng từ
Bloomberg, Tổng Cục thống (www.gso.gov.vn)
các nguồn dữ liệu thứ cấp khác trong giai đoạn
tháng 10/2007 đến tháng 10/2019.
3.2. hình nghiên cứu
Bài nghiên cu s dng mô hình phân phi tr t hi
quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) (Pesaran
& Shin, 1998; Pesaran và cng s, 2001; Pesaran &
Pesaran, 2009) đ kim tra mi quan h gia giá chng
khoán và t giá hi đoái, giá du, giá vàng như sau:
Trong đó:
LSP, LER, LOP, LGP lần lượt logarit tự nhiên
của các biến chỉ số giá chứng khoán, tỷ giá hối đoái,
giá dầu giá vàng thế giới
Δ hiệu toán lấy sai phân
α
i
, β , γ , δ các hệ số hồi quy
i i i
u
t
phần
Để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các biến
chuỗi thời gian, nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng
phương pháp đồng liên kết Johansen (1988, 1995)
Johansen & Juselius (1990). Gần đây, các nghiên
cứu của Pesaran & Shin (1998); Pesaran cộng sự
(2001); Pesaran & Pesaran (2009) đã giới thiệu một
kỹ thuật kiểm tra tính đồng liên kết khác phương
pháp phân phối trễ tự hồi quy - ARDL. Điểm ưu việt
của phương pháp ARDL so với phương pháp của
Johansen hình ARDL cho ý nghĩa thống tốt
hơn trong các nghiên cứu kích thước mẫu nhỏ.
Ngoài ra, những phương pháp đồng liên kết khác
đều yêu cầu thực hiện trên các chuỗi dữ liệu cùng
bậc sai phân, trong khi đó hình ARDL được sử
dụng trên các chuỗi dữ liệu I(0) hoặc I(1). Thêm
vào đó, ARDL thể ước lượng đồng thời mối quan
hệ ngắn hạn dài hạn, loại bỏ các vấn đề về bỏ sót
biến tự tương quan (Pesaran and Shin, 1999;
Pesaran et al., 2001).
4. Kết quả thực nghiệm
4.1. Thống tả
Bảng 1 cho thấy biến chỉ số giá thị trường chứng
khoán độ lệch chuẩn khá cao so với các biến còn
lại, thể hiện sự biến động mạnh của thị trường chứng
khoán. Biến tỷ giá hối đoái cho thấy mức độ biến
động thấp hơn so với các
biến còn lại. Điều này thể
gii thích do tỷ giá
USD/VND được tham chiếu
theo rổ tiền tệ thế giới tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm
soát nhất định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Thống Jarque-Bera giá trị p-value cho thấy giá
trị p-value của biến LSP LGP lớn hơn mức ý
nghĩa α = 5% cho thấy 2 biến này phân phối
chuẩn. Mặt khác, giá trị p-value của biến LER
LOP nhỏ hơn mức ý nghĩa α = 5% cho thấy 2 biến
này không phân phối chuẩn.
Từ bảng 2 thể thấy mối tương quan thuận
chiều giữa biến phụ thuộc LSP (chỉ số chứng khoán)
biến độc lập LER (tỷ giá hối đoái) với hệ số
5
?
Sè 143/2020
Kinh
Kinh
Kinh
Kinh Kinh
tÕ
tÕ
tÕ
tÕ tÕ
vµ
vµ
vµ
vµ vµ
qun
qun
qun
qun qun
lý
lý
lý
lýlý
thương mi
khoa hc
Bảng 1: Thống tả các biến
Nguồn: Kết quả từ Eviews 10.0
LSP LER LOP LGP
Trung bình 6.358 9.935 4.262 7.125
Jarque-Bera 3.073 23.567 8.115 3.969
Bảng 2: Ma trận tương quan giữa các biến
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
LSP LER LOP LGP
LSP 1.000
-----
LER 0.492 1.000
0.0000 -----
LOP -0.306 -0.434 1.000
0.000 0.000 -----
LGP -0.009 0.626 0.168 1.000
0.913 0.000 0.043 -----
?
tương quan 0.492173 mối tương quan nghịch
chiều với 2 biến độc lập còn lại LOP (giá dầu thế
giới) với hệ số tương quan -0.306637 tại mức ý
nghĩa α = 5%. Biến LGP (giá vàng thế giới) không
ý nghĩa thống tại mức ý nghĩa α = 5%.
Sau khi lấy sai phân bậc nhất thì tương quan giữa
các biến đã sự thay đổi. Cthể, biến phụ thuộc
DLSP (sai phân bậc nhất của biến chỉ số chứng
khoán) lại mối quan hệ ngược chiều với biến độc
lập DLER (sai phân bậc nhất của biến tỷ giá hối
đoái) với hệ số tương quan lần lượt -0.269
mối quan hệ cùng chiều với 2 biến độc lập còn lại
DLOP (sai phân bậc nhất của biến giá dầu)
DLGP (sai phân bậc nhất của biến giá vàng) với hệ
số tương quan lần lượt 0.261 0.046.
4.2. Kiểm định tính dừng
Cả hai phương pháp kiểm định ADF theo
Dickey and Fuller (1979, 1981) kiểm định
PP theo Phillips-Perron (1988) được sử dụng
để kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu
bao gồm chuỗi dữ liệu chỉ số chứng khoán,
tỷ giá hối đoái, giá dầu thế giới giá vàng
thế giới.
Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị của các
chuỗi dữ liệu bằng kiểm định Augmented
Dickey-Fuller (ADF) Phillips-Perron (PP)
từ Bảng 4 cho thấy chuỗi dữ liệu ch số g
chứng khoán (LSP) giá trị tuyệt đối của thống
τ nhỏ hơn các giá trị tới hạn mức ý nghĩa 1%, 5%,
10%. Như vậy, kết quả cho thấy các gi thuyết H0
được chấp nhận. Biến ch số chứng khoán n vậy
nh dừng sai phân bậc 0.
Trong khi đó, tỷ giá hối đoái (LER), giá dầu thế
giới (LOP), giá vàng thế giới (LGP), giá trị tuyệt đối
của thống τ lớn hơn các giá trị tới hạn mức ý
nghĩa 1%, 5%, 10%. Như vậy, kết quả cho thấy các
giả thuyết H0 bị bác bỏ, chấp nhận giả thuyết H1
kết luận các biến lựa chọn không nghiệm đơn vị
hay chuỗi dữ liệu tính dừng. Như vậy, cả 2
kiểm định ADF PP thống nhất rằng các chuỗi dữ
liệu gồm tỷ giá hối đoái, giá dầu thế giới giá vàng
thế giới chuỗi dữ liệu không dừng chỉ dừng
sai phân bậc 1, tức I(1). Trong khi đó, chuỗi dữ
liệu chỉ số chứng khoán chuỗi dữ liệu thời gian
tính dừng, tức I(0). Các biến trong hình
nghiên cứu sự khác nhau về tính dừng, đây
điều kiện cần thiết đáp ứng được yêu cầu sử dụng
hình ARDL (Pesaran cộng sự, 2001).
4.3. Kết quả ước lượng hình ARDL
Kết quả kiểm định đường bao (Bounds Test) từ
bảng 5 cho thấy giá trị thống F = 3.777079, lớn
hơn giá trị I(1) mức ý nghĩa α = 5% (có giá trị =
3.67). Như vậy, tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn
giữa các biến.
Để ước lượng hình ARDL, độ trễ tối ưu được
lựa chọn theo tiêu chuẩn AIC với độ trễ lớn nhất
bằng 8. Bảng 6 trình bày kết quả ước lượng hình
được lựa chọn ARDL (7,4,8,0).
Kết quả cho thấy, trong dài hạn các biến được lựa
chọn (bao gồm tỷ giá hối đoái, giá vàng, giá dầu)
đều tác động quan trọng đến chỉ số chứng khoán
(LSP) mức ý nghĩa thống 10%. Sự biến động
Sè 143/2020
6
Kinh tÕ vµ qun lý
thương mi
khoa hc
Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến
tại sai phân bậc nhất
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
*, **tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%.
DLSP DLER DLOP DLGP
DLSP 1.000
-----
DLER -0.270* 1.000
0.001 -----
DLOP 0.261* -0.003 1.000
0.001 0.973 -----
DLGP 0.046 0.060 0.185** 1.000
0.582 0.472 0.026 -----
Bảng 4: Kiểm định tính dừng của các biến
theo ADF PP
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
ADF PP
LSP -4.682* -9.2173* -4.604* -9.217*
LER -1.782 -10.676* -1.592 -12.991*
LOP -2.872 -8.987* -2.583 -9.037*
LGP -2.192 -13.695* -2.092 -13.841*
Bảng 5: Kết quả kiểm định Bounds test
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
F (LSP|LER, LOP, LGP) 3.777079*
10%
2.37 3.2
5%
2.79 3.67
2.5%
3.15 4.08
1%
3.65 4.66
của chỉ số chứng khoán cũng được giải
thích bởi độ trễ của các biến (bao gồm cả
độ trễ của chính chỉ số này). Tỷ giá hối
đoái giá vàng tương quan nghịch
chiều trong khi giá dầu lại tương quan
thuận chiều với chỉ số chứng khoán.
Để phân tích tác động của các biến
độc lập lên biến phụ thuộc trong ngắn
hạn, bài viết sử dụng hình hiệu chỉnh
sai số ECM được trình bày trong Bảng 7. Phần sai
số hiệu chỉnh cung cấp thông tin phản hồi hay tốc độ
điều chỉnh của các hệ số ngắn hạn quy tụ về cân
bằng dài hạn trong hình. Hệ số của phần sai số
hiệu chỉnh ECM(-1) ý nghĩa thống mức 1%
để đảm bảo rằng nghiên cứu tồn tại mối quan hệ
đồng tích hợp như đã tìm ra phần kiểm định
Bounds test. Phần sai số hiệu chỉnh nằm trong
khoảng [-1< -0.06427 < 0]. Điều này cho thấy mức
độ điều chỉnh tới 6,4% sự sai lệch giữa giá trị ngắn
hạn để đạt cân bằng dài hạn.
Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn chỉ số chứng
khoán (LSP) tương quan nghịch chiều với biến
độc lập tỷ giá hối đoái (LER). Ngoài ra, LSP lại
tương quan thuận chiều với biến độc lập giá dầu thế
giới (LOP). Sự biến động của giá vàng thế giới
không giải thích được cho sự biến động của chỉ số
chứng khoán trong ngắn hạn.
4.4. Kết quả kiểm định khuyết tật của hình
ARDL (7,4,8,0)
Kết quả kiểm định từ bảng 8 cho thấy, phần
của hình không hiện tượng tự tương quan,
phân phối chuẩn hình được lựa chọn phù
hợp. Tuy hình còn tồn tại phương sai sai số thay
đổi, nhưng hiện tượng này thể được khắc phục
bằng cách sử dụng các sai số chuẩn mạnh (robust
standard errors), kết quả các hệ số của hình vẫn
không đổi, chỉ độ lệch chuẩn thay đổi (White,
1980) (Phụ lục 1).
Để khẳng định sự ổn định của hình, Hình 1
trình bày kết quả kiểm định tổng tích lũy của phần
CUSUM (Cumulative Sum of Recursive
Residuals) tổng tích lũy hiệu chỉnh của phần
CUSUMSQ (Cumulative Sum of Square of
Recursive Residuals). Kết quả cho thấy tổng tích lũy
của phần hiệu chỉnh phần nằm trong dải
tiêu chuẩn với mức ý nghĩa α = 5% nên thể kết
luận phần của hình tính ổn định nên
hình tính ổn định.
4.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Như vậy, trong dài hạn, biến động của tgiá hối
đoái giá vàng tác động ngược chiều với biến
động của chỉ số VN-Index trên thị trường chứng
7
?
Sè 143/2020
Kinh
Kinh
Kinh
Kinh Kinh
tÕ
tÕ
tÕ
tÕ tÕ
vµ
vµ
vµ
vµ vµ
qun
qun
qun
qun qun
lý
lý
lý
lýlý
thương mi
khoa hc
Bảng 6: Kết quả ước lượng hình ARDL (7,4,8,0)
Ghi chú: R = 0.9778; Adjusted R = 0.9735; F-
2 2
stat = 228.4109 (0.000); and DW = 2.2186.
*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%,
10%.
Nguồn: Kết quả ARDL(7,4,8,0) từ phần mềm
Eviews 10.0
LSP(-1) 1.027* 0.099817
LSP(-2) -0.237*** 0.130796
LSP(-4) 0.307* 0.129095
LSP(-6) -0.326* 0.135814
LSP(-7) 0.220* 0.083283
LER -2.215* 0.490574
LER(-1) 2.153* 0.676297
LER(-4) 1.933* 0.807308
LOP 0.205* 0.060918
LOP(-1) -0.145*** 0.081055
LOP(-6) 0.166** 0.082938
LOP(-7) -0.267* 0.068568
LOP(-8) 0.132* 0.048051
LGP -0.081*** 0.046452
C -0.343 0.888853
Bảng 8: Kết quả kiểm định khuyết tật của hình
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
Bảng 7: Kết quả ước lượng các hệ số ngắn hạn
của hình ARDL(7,4,8,0)
Ghi chú: R = 0.5212; Adjusted R = 0.2281; F-
2 2
stat = 219.1839 (0.000); and DW = 2.2186.
*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 1%,
5%, 10%.
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
D(LSP(-2)) -0.146*** 0.075595
D(LSP(-3)) -0.262* 0.073527
D(LSP(-6)) -0.220* 0.064219
D(LER) -2.215* 0.512865
D(LER(-3)) -1.933* 0.552843
D(LOP) 0.205* 0.052632
D(LOP(-2)) 0.189* 0.054063
D(LOP(-4)) 0.092*** 0.054170
D(LOP(-6)) 0.134** 0.056367
D(LOP(-7)) -0.132** 0.054449
ECM(-1)* -0.064* 0.014536
?
khoán, trong khi đó giá dầu thế giới tác động
cùng chiều đến chỉ số chứng khoán này. Kết quả ước
lượng các hệ số ngắn hạn của hình ARDL cho
thấy thị trường chứng khoán Việt Nam chịu tác động
từ các sốc của chính nó, tỷ giá hối đoái giá dầu
thế giới. Giá vàng trong ngắn hạn không tác động
đến chỉ số thị trường chứng khoán. Bất kỳ sự thay
đổi trong ngắn hạn nào cũng sẽ được điều chỉnh với
tốc độ 6.42% giai đoạn tiếp theo để trở lại trạng thái
cân bằng dài hạn. Các kết quả này phù hợp với một
số nghiên cứu trước đây (như Kisaka Mwasaru,
2012; Dadgar Nazari, 2012) khi khẳng định lại
mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ giá hối đoái giá
chứng khoán. Mối quan hệ này cũng được giải thích
dựa trên thực tế Việt Nam duy trì nhập siêu nhiều
năm, kỹ thuật khoa học cũng chưa thực sự phát triển
nên chủ yếu nhập máy móc nguyên vật liệu từ
nước ngoài. Đô la Mỹ ngoại tệ giá mạnh so với
Việt Nam đồng, giá cả của nhiều sản phẩm căn cứ
trên USD để định giá. Doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay ưa chuộng loại hình vay ngoại tệ đặc biệt
USD cũng như người dân tâm nắm giữ USD
như hình thức để tránh rủi ro. Do đó, khi tỷ giá
tăng hay Việt Nam đồng mất giá đã tạo ra tâm bất
an cho các nhà đầu tư, từ đó khiến TTCK sụt giảm.
Kết quả thực nghiệm cũng khẳng định lại kết
luận của Nordin cộng sự (2014) về mối quan hệ
ngược chiều giữa giá vàng chỉ số chứng khoán
trong dài hạn, cũng như ủng hộ kết luận của Hsing,
(2011); Kuwornu (2011); Rahman cộng s
(2009) về mối quan hệ cùng chiều giữa giá dầu
chỉ số chứng khoán. Các kết luận này được cho
phù hợp trong bối cảnh Việt Nam. Giá vàng tăng hay
giá dầu giảm đều những dấu hiệu bất ổn của nền
kinh tế, từ đó khả năng tác động tiêu cực đến tâm
của nhà đầu trên thị trường chứng khoán.
5. Hàm ý chính sách kết luận
Mối quan hệ giữa các biến kinh tế thị
trường chứng khoán luôn chđề thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả nghiên cứu
trong ngoài nước. Tuy nhiên,
phần lớn các nghiên cứu này đều
không sự thống nhất về mối
quan hệ cũng như mức độ tác
động của các biến sự khác nhau
về đặc thù kinh tế, chính sách
từng quốc gia hay một quốc gia
vào các thời kỳ khác nhau. Bài
nghiên cứu đã thực hiện phân tích
tác động của tỷ giá hối đoái, cùng
với giá dầu giá vàng lên thị
trường chứng khoán Việt Nam
trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 10
năm 2019 tìm ra được mối quan hệ dài hạn cũng
như ngắn hạn giữa các biến. Cụ thể, trong dài hạn
ngắn hạn, tỷ giá hối đoái tác động ngược chiều trong
khi giá dầu tác động cùng chiều đến chỉ số VN-
Index. Giá vàng cũng thể giải thích được sự biến
động của chỉ số chứng khoán trong dài hạn với mối
quan hệ ngược chiều. Các thay đổi trong ngắn hạn
sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn
với tốc độ 6.4% trong giai đoạn tiếp theo.
Trên sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất
một số giải pháp nhằm phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam như sau:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến
động của tỷ giá hối đoái tạo ra sốc tiêu cực lên
TTCK. Do đó, khi tỷ giá ổn định kết hợp với chế
điều chỉnh linh hoạt sẽ giúp các doanh nghiệp kích
thích xuất khẩu cũng như c doanh nghiệp nhập
khẩu an tâm sản xuất, nhà đầu trong ngoài
nước thể dự đoán được tình hình kinh tế vậy
giá cổ phiếu dao động quanh giá trị thật của nó. Việc
can thiệp, điều hành, kiểm soát chặt chẽ tỷ giá
USD/VND của NHNN cần linh hoạt, đáp ứng được
sự cân băng tổng thể của nền kinh tế nhằm đảm bảo
các cân đối mô, kiểm soát lạm phát, kích thích
xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, khuyến khích đầu
nước ngoài vào Việt Nam, tăng quỹ dự trữ ngoại
tệ của NHNN để thể can thiệp khi cần thiết.
Ngoài ra, NHNN cũng nên cho thực hiện thanh toán
quốc tế bằng các ngoại tệ khác, thay thế USD để
giảm áp lực lên cung tiền ngoại tệ này. Đồng thời,
cho các doanh nghiệp thực hiện các nhóm công cụ
phái sinh như hợp đồng hạn, quyền chọn để vấn
đề cung cầu ngoại tệ không gây trở ngại cho hoạt
động sản xuất kinh doanh do đó, chứng khoán
các công ty này tăng trưởng ổn định hơn.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
TTCK Việt Nam cũng sự nhạy cảm nhất định với
các mức giá quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, do đó các nhà hoạch định chính sách cũng
Sè 143/2020
8
Kinh tÕ vµ qun lý
thương mi
khoa hc
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
Hình 1: Kết quả kiểm định CUSUM CUSUMSQ
-40
-30
-20
-10
0
10
20
30
40
40 50 60 70 80 90 100 110 120 130 140
CUSUM 5% Significance
-0.2
0.0
0.2
0.4
0.6
0.8
1.0
1.2
40 50 60 70 80 90 100 110 120 130 140
CUSUM of Squares 5% Significance
cần phản ứng kịp thời với các chế điều chỉnh giá
dầu giá vàng thích hợp nhằm tránh các sốc về
giá, ảnh hưởng đến tâm của các nhà đầu trong
ngoài nước.
Mặc chứng minh được mối quan hệ dài hạn
ngắn hạn giữa chỉ số chứng khoán với tỷ giá hối
đoái, giá dầu thô giá ng, bài viết vẫn còn tồn
tại một số hạn chế và kỳ vọng s khắc phục được
bằng các nghiên cứu tiếp theo trong ơng lai. Th
nhất, việc sử dụng chỉ s đại diện thị trường sẽ
không phản ánh được tác động riêng lẻ của các
biến độc lập lên từng nhóm cổ phiếu đơn lhay các
nhóm ngành cụ thể. , thị trường chứng Th hai
khoán Việt Nam còn khá mới mẻ so với nhiều thị
trường phát triển khác trên thế giới nên sự sẵn có
về dữ liệu nghiên cứu n hạn chế dẫn đến kết quả
nghiên cứu chưa được toàn diện. , i Thứ ba
nghiên cứu n chưa xét đến một số biến kinh tế vĩ
cũng c động lên thị trường chứng khoán Việt
Nam như ch s giá tiêu dùng CPI, lạm phát hay
cung tiền.u
Tài liệu tham khảo:
1. Bapci, E. S. and Karaca, S. S. (2013), The
Determinants of Stock Market Index: VAR Approach
to Turkish Stock Market, International Journal of
Economics and Financial Issues, 3(1), 163-171.
2. Basher, S. A., Haug, A. A. and Sadorsky, P.
(2012), Oil prices, exchange rates and emerging
stock markets, Energy Economics, 34(1), 227-240.
3. Cao Đinh Kiên Nguyễn Hữu Hưng (2017),
Do Oil Prices still matter? The Case of Vietnamese
Stock Market, External Economics Review, No. 96
(7/2017), 16-26.
4. Dadashi, M. and Tavakoli, A. (2013),
Dynamic Linkages between Exchange Rates and
Stock Prices: Evidence from Iran and South Korea,
International Economics Studies, 42(1), 23-30.
5. Dadgar, Y. and Nazari, R. (2012), The Analysis
of Relationship between Stock Prices and Exchange
Rates in Iran (2007-2012), World Finance and
Banking Symposium, 14.
6. Dickey, D. A. & Fuller, W. A. (1979),
Distributions of the Estimators for Autoregressive
Time Series with a Unit Root, Journal of the
American Statistical Association, 74, 427-431.
7. Dickey, D. A. & Fuller, W. A. (1981), The
Likelihood Ratio Statistics for Autoregressive Time
Series with a Unit Root, Econometrica, 49, 1057-1072.
8. Hsing, Y. (2011), Impacts of Macroeconomic
Variables on Stock Market in Bulgaria and Policy
Implications, East-West Journal of Economics and
Business, 14(2), 41-53.
9. Johansen, S. (1988), Statistical Analysis of
Cointegrating Vectors, Journal of Economic
Dynamics and Control, 12(2-3), 231-254.
10. Johansen, S. (1995), Likelihood-Based
Inference in Cointegrated Vector Autoregressive
Models, Oxford University Press: Oxford.
11. Johansen, S. and Juselius, C. (1990),
Maximum Likelihood Estimation and Inference on
Cointegration - With Applications to the Demand
for Money, Oxford Bulletin of Economics and
Statistics, 52(2), 169-210.
12. Kuwornu, J. K. M. (2011), Macroeconomic
Variables and Stock Market Returns: Full Information
Maximum Likelihood Estimation, Research Journal of
Accounting and Finance, 2(4), 49-63.
13. Gay, Jr., R. D. (2008), Effect of
Macroeconomic Variables on Stock Market Returns
for four Emerging Economies: Brazil, Russia, India,
and China, International Business and Economics
Research Journal, 7(3), 1-8.
14. Gay, Jr., R. D. (2016), Effect of
Macroeconomic Variables on Stock Market Returns
for Four Emerging Economies: Brazil, Russia,
India, and China, International Business and
Economics Research Journal, 15(3), 119-126. (This
manuscript was original published in the
International Business of Economics Research
Journal, 7(3), 1-8. Due to high download rates this
manuscript has been reprinted.)
15. Giri, A. K., Joshi, P. (2017), The Impact of
Macroeconomic Indicators on Indian Stock Prices:
An Empirical Analysis, Studies in Business and
Economics, 12(1), 61-78.
16. Kisaka, S. E. and Mwasaru, A. (2012), The
Causal Relationship between Exchange Rates and
Stock Prices in Kenya, Research Journal of Finance
and Accounting, 3(7), 121-130.
17. Lee, J. W. and Brahmasrene, T. (2018), An
Exploration of Dynamical Relationships between
Macroeconomic Variables and Stock Prices in
Korea, The Journal of Asian Finance, Economics
and Business, 5(3), 7-17.
18. Hoàng Phong Đặng Thị Bạch Vân
(2015), Kiểm chứng bằng hình ARDL tác động
của các nhân tố đến chỉ số chứng khoán Việt
Nam, Tạp chí Phát triển hội nhập, 20(30), 61-66.
19. Morales, L. (2007), The Dynamic
Relationship Between Stock Prices and Exchange
Rates: Evidence from Four Transition Economies
Rates: Evidence from Four Transition Economies,
9
?
Sè 143/2020
Kinh
Kinh
Kinh
Kinh Kinh
tÕ
tÕ
tÕ
tÕ tÕ
vµ
vµ
vµ
vµ vµ
qun
qun
qun
qun qun
lý
lý
lý
lýlý
thương mi
khoa hc
Dublin Institute of Technology,
Paper presented to the
Asociacn Espola de
Economía y Finanzas (AEEFI),
X Décimas Jornadas de
Economía International, June
20-22, Madrid, Spain.
20. Narayan, P. K. and
Narayan, S. (2010), Modelling
the impact of oil prices on
Vietnam's stock prices, Applied
Energy, 87(1), 356-361.
21. Trương Đông Lộc
(2014), c nhân t ảnh ởng
đến sự thay đổi của giá cổ phiếu:
c bằng chứng tSở giao dịch
chứng khn TP. Hồ C Minh,
Tạp chí Khoa học Trường Đại
học Cần T, 33, 72-78.
Summary
The central aim of this
paper is to analyze the impact
of exchange rates, international
gold prices and crude oil prices
on the Vietnamese stock market
during the period from October
2007 to October 2019. Using
the Autoregressive Distributed
Lag (ARDL) in combination
with the Bound tests to deter-
mine the long-term effects and
the error correction model
(ECM) afterwards to analyze
the short-term effects, the
empirical results reveal the long
and short-term linkages
between the selected price
indices and the VNIndex.
Particularly, exchange rates and
gold prices impact positively
while oil prices impact nega-
tively on the VN-Index in long-
term. The short-term fluctua-
tion will be corrected back to
the long-term equilibrium at
6.4%. Based on the research
findings, some recommenda-
tions are proposed in order to
develop sustanable stock mar-
ket for the case of Vietnam.
Sè 143/2020
10
Kinh tÕ vµ qun lý
thương mi
khoa hc
PHỤ LỤC 1 - Kết quả ước lượng sau khi khắc phục hiện tượng
phương sai sai số thay đổi
Dependent Variable: LSP
Method: ARDL
Date: 12/13/19 Time: 17:29
Sample (adjusted): 9 145
Included observations: 137 after adjustments
Maximum dependent lags: 8 (Automatic selection)
Model selection method: Akaike info criterion (AIC)
Dynamic regressors (8 lags, automatic): LER LOP LGP
Fixed regressors: C
Number of models evalulated: 5832
Selected Model: ARDL(7, 4, 8, 0)
White-Hinkley (HC1) heteroskedasticity consistent standard errors and
covariance
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob.*
LSP(-1) 1.026605 0.099817 10.28486 0.0000
LSP(-2) -0.237016 0.130796 -1.812105 0.0726
LSP(-3) -0.116251 0.120590 -0.964022 0.3371
LSP(-4) 0.307305 0.129095 2.380456 0.0189
LSP(-5) 0.060772 0.117225 0.518418 0.6052
LSP(-6) -0.325520 0.135814 -2.396799 0.0182
LSP(-7) 0.219836 0.083283 2.639641 0.0095
LER -2.215033 0.490574 -4.515186 0.0000
LER(-1) 2.153130 0.676297 3.183706 0.0019
LER(-2) -0.238117 0.734788 -0.324062 0.7465
LER(-3) -1.486414 0.990498 -1.500673 0.1362
LER(-4) 1.932864 0.807308 2.394210 0.0183
LOP 0.204764 0.060918 3.361332 0.0011
LOP(-1) -0.145414 0.081055 -1.794017 0.0755
LOP(-2) 0.104768 0.079336 1.320563 0.1893
LOP(-3) -0.100960 0.079622 -1.267998 0.2074
LOP(-4) 0.003448 0.087250 0.039516 0.9685
LOP(-5) -0.123497 0.092675 -1.332579 0.1853
LOP(-6) 0.166133 0.082938 2.003096 0.0475
LOP(-7) -0.266558 0.068568 -3.887470 0.0002
LOP(-8) 0.132164 0.048051 2.750498 0.0069
LGP -0.080672 0.046452 -1.736650 0.0852
C -0.342553 0.888853 -0.385388 0.7007
R-squared 0.977817 Mean dependent var 6.347303
Adjusted R-squared 0.973536 S.D. dependent var 0.329247
S.E. of regression 0.053561 Akaike info criterion -2.863999
Sum squared resid 0.327044 Schwarz criterion -2.373783
Log likelihood 219.1839 Hannan-Quinn criter. -2.664787
F-statistic 228.4109 Durbin-Watson stat 2.218595
Prob(F-statistic) 0.000000

Preview text:

ISSN 1859-3666 MỤC LỤC KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1. Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Việt Dũng và Tạ Thúy Quỳnh - Áp dụng mô hình ARDL nghiên cứu
tác động của các chỉ số giá đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Mã số: 143.1FiBa11 2
Application of ARDL model for studying the impact of price indicators on the Vietnamese stock market
2. Đỗ Thị Vân Trang, Đinh Hồng Linh và Lê Thùy Linh - Ứng dụng mô hình ARDL nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Mã số:143.1TrEM.11 11
Determinants of Foreign Direct Investment In Vietnam: ARDL Model
3. Vũ Văn Hùng và Hồ Kim Hương - Nghiên cứu tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối
với thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam. Mã số: 143.1DEco.12 19
A Study on the Impact of Vocational Training Policies on Household’s Income in Vietnam’s Rural Areas
4. Võ Thị Ánh Nguyệt và Nguyễn Hoàng Minh Trí - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ
gia đình ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Mã số: 143.1DEco.11 31
An Analysis of the Factors Affecting Household Spending in Mekong Delta QUẢN TRỊ KINH DOANH
5. Nguyễn Quốc Thịnh, Khúc Đại Long và Nguyễn Thu Hương - Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh
nghiệp Việt Nam - động lực cho sự khác biệt hóa. Mã số: 143.2BAdm.22 38
Intellectual Property Management in Vietnamese Businesses - Motivation for Diversification
6. Đặng Thị Thu Trang và Trương Thị Hiếu Hạnh - Ảnh hưởng của chất lượng tích hợp kênh lên
sự gắn kết của người tiêu dùng trong bán lẻ đa kênh tại Việt Nam. Mã số: 143.2BMkt.21 45
The Influence of Channel Integration Quality on Customer Engagement in Multi-channel Retail in Vietnam
7. Lê Công Thuận và Bùi Thị Thanh - Phong cách lãnh đạo ủy quyền và sự tham gia vào quá trình
sáng tạo của cấp dưới. Mã số: 143.2HRMg.21 54
Empowering leadership and followers’ creative process engagement
8. Nguyễn Chí Đức - Nghiên cứu hành vi tín nhiệm dựa trên lý thuyết trò chơi. Mã số: 143.2BAdm.21 61
Game analysis of credit behavior
9. Trịnh Thùy Anh, Lý Thanh Duy và Nguyễn Phạm Kiến Minh - Sự tác động của nhận dạng tổ
chức, nhận dạng nhân viên - khách hàng và định hướng khách hàng đến sự gắn kết của nhân viên tại
các công ty truyền thông trên địa bàn TP.HCM. Mã số: 143.2HRMg.21 67
The Impact of Organization Identity, Staff-Customer Identity, and Customer Orientation on
Staff Commitment at Communication Companies in Hochiminh City Ý KIẾN TRAO ĐỔI
10. Phan Thị Thu Hiền, Phạm Thị Cẩm Anh và Trần Bích Ngọc - Những điểm mới của bộ quy tắc
Incoterms 2020 và hàm ý áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế. Mã số: 143.3IBMg.32 76
New Points in Incoterms 2020 and Implications in International Goods Trading
11. Nguyễn Ngọc Mai và Nguyễn Thị Minh Thảo - Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ứng
dụng gọi xe: Trường hợp nghiên cứu tỉnh Bình Dương. Mã số: 143.3BMkt.31 82
Factors Affecting the Intention to Use Vehicle Booking Apps: a Case Study in Bình Dương Province khoa học Sè 143/2020 thương mại 1 Ki K n i h n h tÕ t Õ vµ v µ qu q ¶ u n ¶ n lý l
ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARDL NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHỈ SỐ GIÁ
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Nguyễn Thu Thuỷ
Trường Đại học Ngoại thương
Email: thuthuynguyen@ftu.edu.vn Nguyễn Việt Dũng
Trường Đại học Ngoại thương Email: vd.nguyen@ftu.edu.vn Tạ Thúy Quỳnh
Trường Đại học Ngoại thương Email: quynhtathuy@gmail.com Ngày nhận: 09/06/2020 Ngày nhận lại: 08/07/2020
Ngày duyệt đăng: 13/07/2020 M
ục tiêu của bài nghiên cứu là phân tích tác động của tỷ giá, giá dầu thô và giá vàng thế giới đến
thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn tháng 10/2007 đến tháng 10/2019. Sử dụng mô
hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) kết hợp với phương pháp kiểm định
đường bao (Bound test) làm cơ sở xác định tác động dài hạn, sau đó dùng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM)
để phân tích tác động ngắn hạn, kết quả thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn
giữa các chỉ số giá được lựa chọn với chỉ số VN-Index. Cụ thể, trong dài hạn, tỷ giá hối đoái và giá vàng tác
động ngược chiều trong khi giá dầu tác động cùng chiều đến chỉ số VN-Index. Sự biến động trong ngắn hạn
sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn với mức độ 6.4%. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài
viết đề xuất một vài giải pháp để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam một cách bền vững.
Từ khóa: Lợi tức chứng khoán, tỷ giá hối đoái, giá dầu thô, giá vàng 1. Giới thiệu chung
càng quyết tâm trong việc phát triển kinh tế thông
Thị trường chứng khoán là một trong những
qua nhiều chính sách mở cửa với các nền kinh tế
thành phần quan trọng của một nền kinh tế phát
khác trên thế giới. Thị trường chứng khoán Việt
triển, là kênh đầu tư hiệu quả và phổ biến của rất
Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt nhận
nhiều nhà đầu tư. Trải qua hơn 20 năm, thị trường
được dòng vốn đầu tư đáng kể từ nước ngoài. Biến
chứng khoán Việt Nam không ngừng phát triển và
động trên thị trường chứng khoán, cùng với rủi ro và
đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự thăng trầm
cơ hội, luôn là chủ đề hấp dẫn thu hút được sự quan
của thị trường chứng khoán do tác động của nhiều
tâm của các nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính
nhân tố, bao gồm nhóm nhân tố vĩ mô, các nhân tố
sách và nhiều nhà nghiên cứu.
vi mô trong nước và cả các tác động từ môi trường
Nền kinh tế Việt Nam nhập siêu trong những năm quốc tế.
trở lại đây đẩy cầu ngoại tệ lên cao, trong khi đó dự
Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng
trữ ngoại hối của Việt Nam còn thấp nên tạo áp lực
ấn tượng qua nhiều năm, tăng trưởng GDP năm
lên các cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát tỷ giá
2018 đạt 7.1% và năm 2019 đạt 7%, cao nhất trong
USD/VND. Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể
13 năm vừa qua (theo ADB1). Với sự kiện thị trường
tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó ảnh
chứng khoán chính thức đi vào hoạt động năm 2000
hưởng đến dòng tiền đầu tư nước ngoài và tác động
và Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
gián tiếp tới thị trường chứng khoán. Cùng với tỷ giả
(WTO) vào năm 2007, Chính Phủ Việt Nam ngày
hối đoái, các chỉ số giá như giá dầu và giá vàng cũng
1.https://www.adb.org/countries/viet-nam/economy khoa hoïc ? 2 thöông maïi Sè 143/2020 Ki K n i h n h tÕ t Õ vµ v µ qu q ¶ u n ¶ n lý l
có những tác động nhất định đến dòng vốn đầu tư
Khi phân tích tác động giữa tỷ giá hối đoái và thị
trong và ngoài nước, có thể dẫn tới sự biến động của
trường chứng khoán, mối quan hệ cùng chiều gần
thị trường chứng khoán. Việt Nam trước đây là quốc
đây đã được chỉ ra từ một số kết quả thực nghiệm
gia phải nhập khẩu 100% lượng xăng dầu để phục vụ của Naseem và cộng sự (2019); Lee and
cho quá trình sản xuất và phát triển kinh tế. Giá dầu
Brahmasrene (2018); Giri and Joshi (2017); trong
trong nước chịu nhiều tác động bởi giá dầu thế giới.
khi mối quan hệ ngược chiều lại được tìm thấy trước
Những biến động lớn của giá dầu tác động trực tiếp
đó bởi Hsing, (2011); Kuwornu (2011); Rahman và
đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp trong nước và
cộng sự (2009). Một số nghiên cứu chưa chỉ ra được
ảnh hưởng gián tiếp tới giá chứng khoán. Ngoài ra,
mối quan hệ giữa hai biến số này (Gay, 2008, 2016;
thị trường vàng ở Việt Nam cũng luôn nhiều biến
Rahman and Uddin, 2009). Về tác động của giá dầu
động, không chỉ đến từ tác động của thị trường vàng
tới chỉ số chứng khoán, Sahu và cộng sự, (2014) và
thế giới mà còn đến từ tâm lý các nhà đầu tư. Giá
Narayan and Narayan (2010) đã chỉ ra mối tương
vàng tăng hay giảm mạnh tác động lớn đến nền kinh
quan dương trong khi Giri and Joshi (2017); Basher
tế cụ thể là tiền gửi trong dân cư và từ đó tác động
và cộng sự (2012); và Park and Ratti (2008) tìm ra
đến thị trường chứng khoán.
mối quan hệ ngược chiều giữa các biến này; tuy
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát
nhiên kết quả trong nghiên cứu của Cao Đinh Kiên
triển thị trường chứng khoán Việt Nam duới tác
và Đỗ Hữu Hưng (2017) không chỉ ra mối quan hệ
động của các chỉ số giá, mục tiêu chính của bài viết
giữa hai chỉ số này trong dài hạn. Tương tự, mối
là tìm và phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá
quan hệ giữa giá vàng và chỉ số chứng khoán cũng
USD/VND, giá dầu và giá vàng với chỉ số chứng
đã được tìm thấy trong một số kết quả nghiên cứu
khoán (VN-Index). Dựa trên kết quả nghiên cứu từ
(Bapci và Karaca, 2013; Nordin và cộng sự, 2014),
mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) trong giai
tuy nhiên cũng chưa có kết quả thống nhất.
đoạn từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 10 năm 2019,
Tổng quan tình hình nghiên cứu cũng đã cho
bài viết đưa ra một số chính sách để phát triển thị
thấy nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp
trường chứng khoán nhằm hướng đến một nền kinh
dụng. Giri và Joshi (2017) sử dụng kết hợp ARDL
tế phát triển bền vững.
và VECM để tìm mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và lợi tức cổ phiếu
Thị trường chứng khoán đã và đang là kênh thu
trong giai đoạn 1979-2014. Kết quả đã khẳng định
hút vốn hiệu quả với những đóng góp tích cực vào sự
tác động tích cực từ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ
phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh những thành tựu
giá và tác động ngược chiều từ giá dầu thô đối với
đạt được thì thị trường chứng khoán cũng luôn phải
giá chứng khoán trong dài hạn; và các mối liên hệ
đối mă t với những khó khăn, thách thức do sự biến
nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế và FDI
động của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có tỷ giá
đến chỉ số thị trường chứng khoán trong ngắn hạn.
hối đoái và các chỉ số giá như giá dầu và giá vàng thế
Nhấn mạnh VAR là mô hình đa biến thành công,
giới. Tỷ giá hối đoái có thể tác động lớn đến kết quả
linh hoạt và dễ ước tính nhất dành cho dữ liệu theo
kinh doanh khi doanh nghiệp có phát sinh dòng tiền
chuỗi thời gian, Bapci và Karaca (2013) đã sử dụng
bằng ngoại tệ. Thêm vào đó, tỷ giá còn ảnh hưởng
VAR để phân tích và tìm ra mối quan hệ giữa chỉ số
đến dòng tiền đầu tư của khối ngoại. Các nhà đầu tư
thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ với giá vàng, tỷ
sẽ tích cực mua cổ phiếu khi đồng nội tệ bị yếu đi,
giá hối đoái và lượng xuất nhập khẩu trong giai đoạn
tuy nhiên nếu đồng nội tệ liên tục giảm giá sẽ cản trở
tháng 1 năm 1996 đến tháng 10 năm 2011.
dòng vốn nước ngoài do những rủi ro tỷ giá mang lại.
Nordin và cộng sự (2014) nghiên cứu sự biến động
Sự biến động của giá dầu thô trên thế giới và thị
của FBMKLCI (là chỉ số thị trường chứng khoán
trường vàng cũng là các kênh dự báo chu kỳ phát
Malaysia dựa trên 100 doanh nghiệp lớn nhất được
triển của nền kinh tế, từ đó tác động đáng kể đến tâm
niêm yết trên sàn chứng khoán Bursa) dưới sự ảnh
lý các nhà đầu tư và ảnh hưởng gián tiếp đến dòng
hưởng của giá hàng hóa (giá dầu cọ, giá dầu và giá
vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán.
vàng) và các chỉ số kinh tế vĩ mô (lãi suất và tỷ giá hối
Hiện nay đã có nhiều bài nghiên cứu về mối
đoái). Mô hình ARDL cho thấy tác động ngược chiều
quan hệ giữa các chỉ số giá (tập trung chủ yếu vào
của hai yếu tố kinh tế vĩ mô và tác động cùng chiều
tỷ giá hối đoái) và thị trường chứng khoán trên thế
của giá dầu cọ đến lợi nhuận cổ phiếu trong cả dài hạn
giới, tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ ra không có
và ngắn hạn. Tuy nhiên, không có kết quả nào được
xu hướng chung cho tất cả thị trường.
tìm thấy cho mối liên kết giữa giá dầu và giá vàng đối
với chỉ số thị trường chứng khoán Malaysia. khoa học ? thương mại 3 Sè 143/2020 Kinh tÕ vµ qu¶n lý
Nghiên cứu của Morales (2007) sử dụng phương
Tại Việt Nam, đã có nhiều nhà nghiên cứu tập
pháp Johansen, ước lượng VECM và kiểm định
trung phân tích các yếu tố tác động đến thị trường
nhân quả Granger để xác định mối quan hệ dài hạn
chứng khoán, trong đó chủ yếu tập trung vào nhóm
cũng như ngắn hạn và tìm mối quan hệ nhân quả
các nhân tố vĩ mô. Ví dụ như trong nghiên cứu của
giữa các biến khoảng thời gian từ năm 1999 đến
Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương
năm 2006. Kết quả thực nghiệm cho thấy tại
Thảo (2013), các nhân tố vĩ mô được chọn để xem
Slovakia tồn tại mối quan hệ ngắn hạn của tỷ giá hối
xét mối quan hệ tương quan với thị trường chứng
đoái và giá cổ phiếu và chỉ số giá chứng khoán của
khoán là tỷ giá hối đoái và giá dầu, cùng với cung
Đức; tỷ giá của Hungary, tỷ giá của Ba Lan và tỷ giá
tiền, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, và lãi suất trong
của Slovakia có tác động đáng kể đến chỉ số giá
giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 09/2011. Kết
chứng khoán ở Anh. Kết quả kiểm định nhân quả
quả ước lượng hồi quy bội cho thấy giá dầu tương
cho thấy tỷ giá có mối quan hệ nhân quả một chiều
quan dương trong khi đó tỷ giá hối đoái có tương
tới chỉ số giá chứng khoán của Czech Republic,
quan âm với thị trường chứng khoán.
Poland, Hungary; mối quan hệ nhân quả giữa giá
Nguyễn Thị Liên Hoa và Lương Thị Thúy
chứng khoán với giá chứng khoán cũng được tìm
Hường (2014) đã tìm hiểu về mối liên kết động giữa
thấy trong trường hợp của Anh lên Ba Lan, Hungary
tỷ giá hối đoái và biến động thị trường chứng khoán
lên Anh và Mỹ lên Ba Lan.
cho thị trường mới nổi ASEAN thời kỳ 2005-2013
Richards và Simpson (2009) phân tích mối quan
trong đó có Việt Nam. Kết quả từ mô hình
hệ giữa tỷ giá hối đoái (AUD/USD) và chỉ số giá
EGARCH-Markov cho thấy hệ số ước lượng của sự
chứng khoán All Ordinaries stock price Index của
thay đổi tỷ giá hối đoái mang giá trị âm và có ý
Sở giao dịch chứng khoán Úc từ ngày 02 tháng 01
nghĩa thống kê với tất cả các thị trường, có nghĩa
năm 2003 đến ngày 30 tháng 06 năm 2006. Các tác
những biến động trên thị trường ngoại hối sẽ giảm
giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng
lợi tức trên thị trường chứng khoán.
mối quan hệ của 2 biến dựa trên chuỗi dữ liệu gốc
Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự
và sai phân bậc nhất. Sau đó, bài viết sử dụng mô
thay đổi giá của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE,
hình VAR và kiểm định nhân quả Granger để ước
Trương Đông Lộc (2014) sử dụng số liệu gồm giá và
lượng mối quan hệ giữa các biến được lựa chọn. Kết
lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu
quả thu được là tồn tại mối quan hệ đồng liên kết
niêm yết trên HOSE, lãi suất cho vay, tỷ giá
cùng chiều giữa hai biến. Quan hệ nhân quả Granger
USD/VND, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng trong
xác nhận tồn tại tác động nhân quả từ giá cổ phiếu
giai đoạn từ 31/12/2006 đến 31/12/2012 với tần suất lên tỷ giá.
quý. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy tỷ giá
Kisaka và Mwasaru (2012) tiến hành nghiên cứu
USD/VND có tương quan dương trong khi giá vàng
về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng
có mối tương quan âm với tỷ suất sinh lời của các cổ
khoán tại Kenya nhằm thiết lập mối quan hệ nhân phiếu niêm yết HOSE.
quả giữa sự truyền dẫn giá cả vào thị trường chứng
Sử dụng mô hình ARDL để tìm ra tác động của
khoán và thị trường ngoại hối tại quốc gia này. Sử
các nhân tố vĩ mô đến chỉ số chứng khoán Việt Nam
dụng chuỗi dữ liệu từ tháng 11 năm 1993 đến tháng
giai đoạn 01/2001-12/2013, Lê Hoàng Phong và
05 năm 1999, kết quả từ mô hình VECM và kiểm
Đặng Thị Bạch Vân (2015) đã chọn lọc các nhân tố
định nhân quả Granger đã chỉ ra tác động của tỷ giá
thường gặp trong các nghiên cứu thế giới để xét cụ
lên giá chứng khoán tại Kenya. Theo đó, các cú sốc
thể cho trường hợp Việt Nam bao gồm tỷ giá, lạm
của tỷ giá có thể gây hoảng loạn cho các nhà đầu tư
phát, cung tiền, các lãi suất kỳ hạn một năm như lãi
và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
suất trái phiếu chính phủ và lãi suất cho vay. Kết quả
Khi phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá và giá cổ
mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL cho thấy
phiếu tại hai quốc gia Châu Á là Hàn Quốc và Iran,
trong ngắn hạn và dài hạn, tỷ giá có tác động ngược
Dadashi và Tavakoli (2013) sử dụng chuỗi dữ liệu
chiều lên chỉ số giá chứng khoán Việt Nam.
theo tháng từ tháng 07 năm 2002 đến tháng 03 năm
Như vậy, chưa có sự thống nhất về mối quan hệ
2002 trong khuôn khổ mô hình MGARCH để ước
giữa các chỉ số giá và thị trường chứng khoán trên các
lượng mối quan hệ giữa hai biến này. Kết quả chỉ
thị trường thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên,
tìm ra mối quan hệ một chiều từ lợi tức chứng khoán
việc phân tích tác động của các yếu tố giá đến thị
lên tỷ giá tại Hàn Quốc và không có mối quan hệ
trường chứng khoán Việt Nam - một thị trường mở
nào được tìm thấy tại thị trường Iran.
cửa và mới nổi - là cần thiết. Do vậy, ba nhân tố (tỷ
giá, giá dầu, giá vàng) đã được lựa chọn để đưa vào khoa học ? thương mại 4 Sè 143/2020 Ki K n i h n h tÕ t Õ vµ v µ qu q ¶ u n ¶ n lý l
nghiên cứu mối quan hệ tương quan với chỉ số chứng
4. Kết quả thực nghiệm
khoán tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2019. 4.1. Thống kê mô tả 3. Mô hình nghiên cứu
Bảng 1: Thống kê mô tả các biến
3.1. Lựa chọn biến nghiên cứu LSP LER LOP LGP
Bài nghiên cứu lựa chọn VN-Index đại diện cho
thị trường chứng khoán Việt Nam do chỉ số VN- Trung bình 6.358 9.935 4.262 7.125
Index được tính toán từ giá cổ phiếu của các công ty
hoạt động ổn định, giá trị vốn hóa lớn và có tính đại
diện nhất cho nền kinh tế Việt Nam. Chỉ số này được
thu thập từ trang web chính thức của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(http://www.hsx.vn). Để phân tích các tác động tới
chỉ số cổ phiếu VN-Index, bài viết thu thập số liệu
tỷ giá USD/VND, giá dầu thô và giá vàng từ
Bloomberg, Tổng Cục thống kê (www.gso.gov.vn) Jarque-Bera 3.073 23.567 8.115 3.969
và các nguồn dữ liệu thứ cấp khác trong giai đoạn
tháng 10/2007 đến tháng 10/2019. 3.2. Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Kết quả từ Eviews 10.0
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi
quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) (Pesaran
Bảng 1 cho thấy biến chỉ số giá thị trường chứng
& Shin, 1998; Pesaran và cộng sự, 2001; Pesaran &
khoán có độ lệch chuẩn khá cao so với các biến còn
Pesaran, 2009) để kiểm tra mối quan hệ giữa giá chứng
lại, thể hiện sự biến động mạnh của thị trường chứng
khoán và tỷ giá hối đoái, giá dầu, giá vàng như sau:
khoán. Biến tỷ giá hối đoái cho thấy mức độ biến
động thấp hơn so với các
biến còn lại. Điều này có thể giải thích do tỷ giá Trong đó: USD/VND được tham chiếu
LSP, LER, LOP, LGP lần lượt là logarit tự nhiên
theo rổ tiền tệ thế giới tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm
của các biến chỉ số giá chứng khoán, tỷ giá hối đoái,
soát nhất định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
giá dầu và giá vàng thế giới
Thống kê Jarque-Bera và giá trị p-value cho thấy giá
Δ là ký hiệu toán lấy sai phân
trị p-value của biến LSP và LGP lớn hơn mức ý
α , β , γ , δ là các hệ số hồi quy
nghĩa α = 5% cho thấy 2 biến này có phân phối i i i i u là phần dư
chuẩn. Mặt khác, giá trị p-value của biến LER và t
Để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các biến
LOP nhỏ hơn mức ý nghĩa α = 5% cho thấy 2 biến
chuỗi thời gian, nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng
này không có phân phối chuẩn.
phương pháp đồng liên kết Johansen (1988, 1995)
Bảng 2: Ma trận tương quan giữa các biến
và Johansen & Juselius (1990). Gần đây, các nghiên LSP LER LOP LGP
cứu của Pesaran & Shin (1998); Pesaran và cộng sự LSP 1.000
(2001); Pesaran & Pesaran (2009) đã giới thiệu một
kỹ thuật kiểm tra tính đồng liên kết khác là phương -----
pháp phân phối trễ tự hồi quy - ARDL. Điểm ưu việt LER 0.492 1.000
của phương pháp ARDL so với phương pháp của 0.0000 -----
Johansen là mô hình ARDL cho ý nghĩa thống kê tốt LOP -0.306 -0.434 1.000
hơn trong các nghiên cứu có kích thước mẫu nhỏ. 0.000 0.000 -----
Ngoài ra, những phương pháp đồng liên kết khác LGP -0.009 0.626 0.168 1.000
đều yêu cầu thực hiện trên các chuỗi dữ liệu cùng
bậc sai phân, trong khi đó mô hình ARDL được sử 0.913 0.000 0.043 -----
dụng trên các chuỗi dữ liệu I(0) và hoặc I(1). Thêm
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
vào đó, ARDL có thể ước lượng đồng thời mối quan
hệ ngắn hạn và dài hạn, loại bỏ các vấn đề về bỏ sót
Từ bảng 2 có thể thấy mối tương quan thuận
biến và tự tương quan (Pesaran and Shin, 1999;
chiều giữa biến phụ thuộc LSP (chỉ số chứng khoán) Pesaran et al., 2001).
và biến độc lập LER (tỷ giá hối đoái) với hệ số khoa học ? thương mại 5 Sè 143/2020 Kinh tÕ vµ qu¶n lý
tương quan là 0.492173 và mối tương quan nghịch
Bảng 4: Kiểm định tính dừng của các biến
chiều với 2 biến độc lập còn lại là LOP (giá dầu thế theo ADF và PP
giới) với hệ số tương quan là -0.306637 tại mức ý ADF PP
nghĩa α = 5%. Biến LGP (giá vàng thế giới) không
có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa α = 5%.
Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến LSP -4.682* -9.2173* -4.604* -9.217* tại sai phân bậc nhất LER -1.782 -10.676* -1.592 -12.991* DLSP DLER DLOP DLGP LOP -2.872 -8.987* -2.583 -9.037* DLSP 1.000 ----- LGP -2.192 -13.695* -2.092 -13.841* DLER -0.270* 1.000
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0 0.001 -----
nghĩa 1%, 5%, 10%. Như vậy, kết quả cho thấy các DLOP 0.261* -0.003 1.000
giả thuyết H0 bị bác bỏ, chấp nhận giả thuyết H1 và
kết luận các biến lựa chọn không có nghiệm đơn vị 0.001 0.973 -----
hay là chuỗi dữ liệu có tính dừng. Như vậy, cả 2 DLGP 0.046 0.060 0.185** 1.000
kiểm định ADF và PP thống nhất rằng các chuỗi dữ 0.582 0.472 0.026 -----
liệu gồm tỷ giá hối đoái, giá dầu thế giới và giá vàng
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
thế giới là chuỗi dữ liệu không dừng và chỉ dừng ở
*, **tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%.
sai phân bậc 1, tức là I(1). Trong khi đó, chuỗi dữ
liệu chỉ số chứng khoán là chuỗi dữ liệu thời gian có
Sau khi lấy sai phân bậc nhất thì tương quan giữa
tính dừng, tức là I(0). Các biến trong mô hình
các biến đã có sự thay đổi. Cụ thể, biến phụ thuộc
nghiên cứu có sự khác nhau về tính dừng, đây là
DLSP (sai phân bậc nhất của biến chỉ số chứng
điều kiện cần thiết đáp ứng được yêu cầu sử dụng
khoán) lại có mối quan hệ ngược chiều với biến độc
mô hình ARDL (Pesaran và cộng sự, 2001).
lập DLER (sai phân bậc nhất của biến tỷ giá hối
4.3. Kết quả ước lượng mô hình ARDL
đoái) với hệ số tương quan lần lượt là -0.269 và có
Kết quả kiểm định đường bao (Bounds Test) từ
mối quan hệ cùng chiều với 2 biến độc lập còn lại là
bảng 5 cho thấy giá trị thống kê F = 3.777079, lớn
DLOP (sai phân bậc nhất của biến giá dầu) và
hơn giá trị I(1) ở mức ý nghĩa α = 5% (có giá trị =
DLGP (sai phân bậc nhất của biến giá vàng) với hệ
3.67). Như vậy, tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn
số tương quan lần lượt là 0.261 và 0.046. giữa các biến.
4.2. Kiểm định tính dừng
Bảng 5: Kết quả kiểm định Bounds test
Cả hai phương pháp kiểm định ADF theo
Dickey and Fuller (1979, 1981) và kiểm định
PP theo Phillips-Perron (1988) được sử dụng F (LSP|LER, LOP, LGP) 3.777079*
để kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu
bao gồm chuỗi dữ liệu chỉ số chứng khoán, 10% 2.37 3.2
tỷ giá hối đoái, giá dầu thế giới và giá vàng 5% 2.79 3.67 thế giới. 2.5% 3.15 4.08
Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị của các 1% 3.65 4.66
chuỗi dữ liệu bằng kiểm định Augmented
Dickey-Fuller (ADF) và Phillips-Perron (PP)
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
từ Bảng 4 cho thấy chuỗi dữ liệu chỉ số giá
chứng khoán (LSP) có giá trị tuyệt đối của thống kê
Để ước lượng mô hình ARDL, độ trễ tối ưu được
τ nhỏ hơn các giá trị tới hạn ở mức ý nghĩa 1%, 5%,
lựa chọn theo tiêu chuẩn AIC với độ trễ lớn nhất
10%. Như vậy, kết quả cho thấy các giả thuyết H0
bằng 8. Bảng 6 trình bày kết quả ước lượng mô hình
được chấp nhận. Biến chỉ số chứng khoán như vậy
được lựa chọn ARDL (7,4,8,0).
có tính dừng ở sai phân bậc 0.
Kết quả cho thấy, trong dài hạn các biến được lựa
Trong khi đó, tỷ giá hối đoái (LER), giá dầu thế
chọn (bao gồm tỷ giá hối đoái, giá vàng, và giá dầu)
giới (LOP), giá vàng thế giới (LGP), giá trị tuyệt đối
đều có tác động quan trọng đến chỉ số chứng khoán
của thống kê τ lớn hơn các giá trị tới hạn ở mức ý
(LSP) ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Sự biến động khoa học ? thương mại 6 Sè 143/2020 Ki K n i h n h tÕ t Õ vµ v µ qu q ¶ u n ¶ n lý l
Bảng 6: Kết quả ước lượng mô hình ARDL (7,4,8,0)
sai số ECM được trình bày trong Bảng 7. Phần sai
số hiệu chỉnh cung cấp thông tin phản hồi hay tốc độ
điều chỉnh của các hệ số ngắn hạn quy tụ về cân LSP(-1) 1.027* 0.099817
bằng dài hạn trong mô hình. Hệ số của phần sai số LSP(-2) -0.237*** 0.130796
hiệu chỉnh ECM(-1) có ý nghĩa thống kê ở mức 1% LSP(-4) 0.307* 0.129095
để đảm bảo rằng nghiên cứu có tồn tại mối quan hệ LSP(-6) -0.326* 0.135814
đồng tích hợp như đã tìm ra ở phần kiểm định LSP(-7) 0.220* 0.083283
Bounds test. Phần sai số hiệu chỉnh nằm trong LER -2.215* 0.490574
khoảng [-1< -0.06427 < 0]. Điều này cho thấy mức LER(-1) 2.153* 0.676297
độ điều chỉnh tới 6,4% sự sai lệch giữa giá trị ngắn LER(-4) 1.933* 0.807308
hạn để đạt cân bằng dài hạn. LOP 0.205* 0.060918 LOP(-1) -0.145*** 0.081055
Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn chỉ số chứng LOP(-6) 0.166** 0.082938
khoán (LSP) có tương quan nghịch chiều với biến LOP(-7) -0.267* 0.068568
độc lập tỷ giá hối đoái (LER). Ngoài ra, LSP lại có LOP(-8) 0.132* 0.048051
tương quan thuận chiều với biến độc lập giá dầu thế LGP -0.081*** 0.046452
giới (LOP). Sự biến động của giá vàng thế giới C -0.343 0.888853
không giải thích được cho sự biến động của chỉ số
Ghi chú: R2 = 0.9778; Adjusted R2 = 0.9735; F-
chứng khoán trong ngắn hạn.
stat = 228.4109 (0.000); and DW = 2.2186.
4.4. Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình
*, **, và *** tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%, ARDL (7,4,8,0) và 10%.
Kết quả kiểm định từ bảng 8 cho thấy, phần dư
Nguồn: Kết quả ARDL(7,4,8,0) từ phần mềm
của mô hình không có hiện tượng tự tương quan, Eviews 10.0
phân phối chuẩn và mô hình được lựa chọn là phù
của chỉ số chứng khoán cũng được giải
Bảng 8: Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình
thích bởi độ trễ của các biến (bao gồm cả
độ trễ của chính chỉ số này). Tỷ giá hối
đoái và giá vàng có tương quan nghịch
chiều trong khi giá dầu lại có tương quan
thuận chiều với chỉ số chứng khoán.
Để phân tích tác động của các biến
độc lập lên biến phụ thuộc trong ngắn
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
hạn, bài viết sử dụng mô hình hiệu chỉnh
hợp. Tuy mô hình còn tồn tại phương sai sai số thay
Bảng 7: Kết quả ước lượng các hệ số ngắn hạn
đổi, nhưng hiện tượng này có thể được khắc phục của mô hình ARDL(7,4,8,0)
bằng cách sử dụng các sai số chuẩn mạnh (robust
standard errors), kết quả các hệ số của mô hình vẫn D(LSP(-2)) -0.146*** 0.075595
không đổi, chỉ có độ lệch chuẩn thay đổi (White, D(LSP(-3)) -0.262* 0.073527 1980) (Phụ lục 1). D(LSP(-6)) -0.220* 0.064219
Để khẳng định sự ổn định của mô hình, Hình 1 D(LER) -2.215* 0.512865
trình bày kết quả kiểm định tổng tích lũy của phần D(LER(-3)) -1.933* 0.552843 dư CUSUM (Cumulative Sum of Recursive D(LOP) 0.205* 0.052632
Residuals) và tổng tích lũy hiệu chỉnh của phần dư D(LOP(-2)) 0.189* 0.054063 CUSUMSQ (Cumulative Sum of Square of D(LOP(-4)) 0.092*** 0.054170
Recursive Residuals). Kết quả cho thấy tổng tích lũy D(LOP(-6)) 0.134** 0.056367
của phần dư và hiệu chỉnh phần dư nằm trong dải D(LOP(-7)) -0.132** 0.054449
tiêu chuẩn với mức ý nghĩa α = 5% nên có thể kết ECM(-1)* -0.064* 0.014536
luận phần dư của mô hình có tính ổn định nên mô hình có tính ổn định.
Ghi chú: R2 = 0.5212; Adjusted R2 = 0.2281; F-
4.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu
stat = 219.1839 (0.000); and DW = 2.2186.
Như vậy, trong dài hạn, biến động của tỷ giá hối
*, **, và *** tương ứng với mức ý nghĩa 1%,
đoái và giá vàng có tác động ngược chiều với biến 5%, và 10%.
động của chỉ số VN-Index trên thị trường chứng
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0 khoa học ? thương mại 7 Sè 143/2020 Kinh tÕ vµ qu¶n lý 40 1.2
trong và ngoài nước. Tuy nhiên, 30 1.0
phần lớn các nghiên cứu này đều 20 0.8
không có sự thống nhất về mối 10 0.6
quan hệ cũng như mức độ tác 0 0.4
động của các biến vì sự khác nhau -10 0.2
về đặc thù kinh tế, chính sách ở -20 -30 0.0
từng quốc gia hay một quốc gia -40 -0.2
vào các thời kỳ khác nhau. Bài 40 50 6 0 70 80 90 1 00 110 120 130 140 40 50 60 70 80 90 100 110 120 130 140
nghiên cứu đã thực hiện phân tích CUSUM 5% Signif icance CUSUM of Squares 5% Significance
tác động của tỷ giá hối đoái, cùng
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0
với giá dầu và giá vàng lên thị
Hình 1: Kết quả kiểm định CUSUM và CUSUMSQ
trường chứng khoán Việt Nam
khoán, trong khi đó giá dầu thế giới có tác động
trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 10
cùng chiều đến chỉ số chứng khoán này. Kết quả ước
năm 2019 và tìm ra được mối quan hệ dài hạn cũng
lượng các hệ số ngắn hạn của mô hình ARDL cho
như ngắn hạn giữa các biến. Cụ thể, trong dài hạn và
thấy thị trường chứng khoán Việt Nam chịu tác động
ngắn hạn, tỷ giá hối đoái tác động ngược chiều trong
từ các cú sốc của chính nó, tỷ giá hối đoái và giá dầu
khi giá dầu tác động cùng chiều đến chỉ số VN-
thế giới. Giá vàng trong ngắn hạn không có tác động
Index. Giá vàng cũng có thể giải thích được sự biến
đến chỉ số thị trường chứng khoán. Bất kỳ sự thay
động của chỉ số chứng khoán trong dài hạn với mối
đổi trong ngắn hạn nào cũng sẽ được điều chỉnh với
quan hệ ngược chiều. Các thay đổi trong ngắn hạn
tốc độ 6.42% giai đoạn tiếp theo để trở lại trạng thái
sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn
cân bằng dài hạn. Các kết quả này phù hợp với một
với tốc độ 6.4% trong giai đoạn tiếp theo.
số nghiên cứu trước đây (như Kisaka và Mwasaru,
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất
2012; Dadgar và Nazari, 2012) khi khẳng định lại
một số giải pháp nhằm phát triển thị trường chứng
mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ giá hối đoái và giá khoán Việt Nam như sau:
chứng khoán. Mối quan hệ này cũng được giải thích
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến
dựa trên thực tế Việt Nam duy trì nhập siêu nhiều
động của tỷ giá hối đoái tạo ra cú sốc tiêu cực lên
năm, kỹ thuật khoa học cũng chưa thực sự phát triển
TTCK. Do đó, khi tỷ giá ổn định kết hợp với cơ chế
nên chủ yếu nhập máy móc và nguyên vật liệu từ
điều chỉnh linh hoạt sẽ giúp các doanh nghiệp kích
nước ngoài. Đô la Mỹ là ngoại tệ có giá mạnh so với
thích xuất khẩu cũng như các doanh nghiệp nhập
Việt Nam đồng, giá cả của nhiều sản phẩm căn cứ
khẩu an tâm sản xuất, nhà đầu tư trong và ngoài
trên USD để định giá. Doanh nghiệp Việt Nam hiện
nước có thể dự đoán được tình hình kinh tế và vì vậy
nay ưa chuộng loại hình vay ngoại tệ đặc biệt là
giá cổ phiếu dao động quanh giá trị thật của nó. Việc
USD cũng như người dân có tâm lý nắm giữ USD
can thiệp, điều hành, kiểm soát chặt chẽ tỷ giá
như là hình thức để tránh rủi ro. Do đó, khi tỷ giá
USD/VND của NHNN cần linh hoạt, đáp ứng được
tăng hay Việt Nam đồng mất giá đã tạo ra tâm lý bất
sự cân bă ng tổng thể của nền kinh tế nhằm đảm bảo
an cho các nhà đầu tư, từ đó khiến TTCK sụt giảm.
các cân đối vĩ mô, kiểm soát lạm phát, kích thích
Kết quả thực nghiệm cũng khẳng định lại kết
xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, khuyến khích đầu
luận của Nordin và cộng sự (2014) về mối quan hệ
tư nước ngoài vào Việt Nam, tăng quỹ dự trữ ngoại
ngược chiều giữa giá vàng và chỉ số chứng khoán
tệ của NHNN để có thể can thiệp khi cần thiết.
trong dài hạn, cũng như ủng hộ kết luận của Hsing,
Ngoài ra, NHNN cũng nên cho thực hiện thanh toán
(2011); Kuwornu (2011); Rahman và cộng sự
quốc tế bằng các ngoại tệ khác, thay thế USD để
(2009) về mối quan hệ cùng chiều giữa giá dầu và
giảm áp lực lên cung tiền ngoại tệ này. Đồng thời,
chỉ số chứng khoán. Các kết luận này được cho là
cho các doanh nghiệp thực hiện các nhóm công cụ
phù hợp trong bối cảnh Việt Nam. Giá vàng tăng hay
phái sinh như hợp đồng kì hạn, quyền chọn để vấn
giá dầu giảm đều là những dấu hiệu bất ổn của nền
đề cung cầu ngoại tệ không gây trở ngại cho hoạt
kinh tế, từ đó có khả năng tác động tiêu cực đến tâm
động sản xuất kinh doanh và do đó, chứng khoán
lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
các công ty này tăng trưởng ổn định hơn.
5. Hàm ý chính sách và kết luận
Thứ hai, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và thị
TTCK Việt Nam cũng có sự nhạy cảm nhất định với
trường chứng khoán luôn là chủ đề thu hút được sự
các mức giá quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả nghiên cứu
quốc tế, do đó các nhà hoạch định chính sách cũng khoa học ? thương mại 8 Sè 143/2020 Ki K n i h n h tÕ t Õ vµ v µ qu q ¶ u n ¶ n lý l
cần phản ứng kịp thời với các cơ chế điều chỉnh giá
Implications, East-West Journal of Economics and
dầu và giá vàng thích hợp nhằm tránh các cú sốc về Business, 14(2), 41-53.
giá, ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư trong
9. Johansen, S. (1988), Statistical Analysis of và ngoài nước. Cointegrating Vectors, Journal of Economic
Mặc dù chứng minh được mối quan hệ dài hạn
Dynamics and Control, 12(2-3), 231-254.
và ngắn hạn giữa chỉ số chứng khoán với tỷ giá hối
10. Johansen, S. (1995), Likelihood-Based
đoái, giá dầu thô và giá vàng, bài viết vẫn còn tồn
Inference in Cointegrated Vector Autoregressive
tại một số hạn chế và kỳ vọng sẽ khắc phục được
Models, Oxford University Press: Oxford.
bằng các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. Thứ
11. Johansen, S. and Juselius, C. (1990),
nhất, việc sử dụng chỉ số đại diện thị trường sẽ
Maximum Likelihood Estimation and Inference on
không phản ánh được tác động riêng lẻ của các
Cointegration - With Applications to the Demand
biến độc lập lên từng nhóm cổ phiếu đơn lẻ hay các
for Money, Oxford Bulletin of Economics and
nhóm ngành cụ thể. Thứ hai, thị trường chứng Statistics, 52(2), 169-210.
khoán Việt Nam còn khá mới mẻ so với nhiều thị
12. Kuwornu, J. K. M. (2011), Macroeconomic
trường phát triển khác trên thế giới nên sự sẵn có
Variables and Stock Market Returns: Full Information
về dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế dẫn đến kết quả
Maximum Likelihood Estimation, Research Journal of
nghiên cứu chưa được toàn diện. Thứ ba, bài
Accounting and Finance, 2(4), 49-63.
nghiên cứu còn chưa xét đến một số biến kinh tế vĩ 13. Gay, Jr., R. D. (2008), Effect of
mô cũng tác động lên thị trường chứng khoán Việt
Macroeconomic Variables on Stock Market Returns
Nam như chỉ số giá tiêu dùng CPI, lạm phát hay
for four Emerging Economies: Brazil, Russia, India, cung tiền.u
and China, International Business and Economics Research Journal, 7(3), 1-8. Tài liệu tham khảo: 14. Gay, Jr., R. D. (2016), Effect of
Macroeconomic Variables on Stock Market Returns
1. Bapci, E. S. and Karaca, S. S. (2013), The
for Four Emerging Economies: Brazil, Russia,
Determinants of Stock Market Index: VAR Approach
India, and China, International Business and
to Turkish Stock Market, International Journal of
Economics Research Journal, 15(3), 119-126. (This
Economics and Financial Issues, 3(1), 163-171. manuscript was original published in the
2. Basher, S. A., Haug, A. A. and Sadorsky, P.
International Business of Economics Research
(2012), Oil prices, exchange rates and emerging
Journal, 7(3), 1-8. Due to high download rates this
stock markets, Energy Economics, 34(1), 227-240.
manuscript has been reprinted.)
3. Cao Đinh Kiên và Nguyễn Hữu Hưng (2017),
15. Giri, A. K., Joshi, P. (2017), The Impact of
Do Oil Prices still matter? The Case of Vietnamese
Macroeconomic Indicators on Indian Stock Prices:
Stock Market, External Economics Review, No. 96
An Empirical Analysis, Studies in Business and (7/2017), 16-26. Economics, 12(1), 61-78.
4. Dadashi, M. and Tavakoli, A. (2013),
16. Kisaka, S. E. and Mwasaru, A. (2012), The
Dynamic Linkages between Exchange Rates and
Causal Relationship between Exchange Rates and
Stock Prices: Evidence from Iran and South Korea,
Stock Prices in Kenya, Research Journal of Finance
International Economics Studies, 42(1), 23-30.
and Accounting, 3(7), 121-130.
5. Dadgar, Y. and Nazari, R. (2012), The Analysis
17. Lee, J. W. and Brahmasrene, T. (2018), An
of Relationship between Stock Prices and Exchange
Exploration of Dynamical Relationships between
Rates in Iran (2007-2012), World Finance and
Macroeconomic Variables and Stock Prices in Banking Symposium, 14.
Korea, The Journal of Asian Finance, Economics
6. Dickey, D. A. & Fuller, W. A. (1979), and Business, 5(3), 7-17.
Distributions of the Estimators for Autoregressive
18. Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân
Time Series with a Unit Root, Journal of the
(2015), Kiểm chứng bằng mô hình ARDL tác động
American Statistical Association, 74, 427-431.
của các nhân tố vĩ mô đến chỉ số chứng khoán Việt
7. Dickey, D. A. & Fuller, W. A. (1981), The
Nam, Tạp chí Phát triển và hội nhập, 20(30), 61-66.
Likelihood Ratio Statistics for Autoregressive Time 19. Morales, L. (2007), The Dynamic
Series with a Unit Root, Econometrica, 49, 1057-1072.
Relationship Between Stock Prices and Exchange
8. Hsing, Y. (2011), Impacts of Macroeconomic
Rates: Evidence from Four Transition Economies
Variables on Stock Market in Bulgaria and Policy
Rates: Evidence from Four Transition Economies, khoa học ? thương mại 9 Sè 143/2020 Kinh tÕ vµ qu¶n lý
Dublin Institute of Technology,
PHỤ LỤC 1 - Kết quả ước lượng sau khi khắc phục hiện tượng Paper presented to the
phương sai sai số thay đổi Asociación Española de Dependent Variable: LSP Economía y Finanzas (AEEFI), Method: ARDL X Décimas Jornadas de Date: 12/13/19 Time: 17:29 Economía International, June Sample (adjusted): 9 145 20-22, Madrid, Spain.
Included observations: 137 after adjustments 20. Narayan, P. K. and
Maximum dependent lags: 8 (Automatic selection) Narayan, S. (2010), Modelling
Model selection method: Akaike info criterion (AIC) the impact of oil prices on
Dynamic regressors (8 lags, automatic): LER LOP LGP
Vietnam's stock prices, Applied Fixed regressors: C Energy, 87(1), 356-361.
Number of models evalulated: 5832 21. Trương Đông Lộc
Selected Model: ARDL(7, 4, 8, 0)
(2014), Các nhân tố ảnh hưởng
White-Hinkley (HC1) heteroskedasticity consistent standard errors and
đến sự thay đổi của giá cổ phiếu: covariance
Các bằng chứng từ Sở giao dịch Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob.*
chứng khoán TP. Hồ Chí Minh,
Tạp chí Khoa học Trường Đại LSP(-1) 1.026605 0.099817 10.28486 0.0000 học Cần Thơ, 33, 72-78. LSP(-2) -0.237016 0.130796 -1.812105 0.0726 LSP(-3) -0.116251 0.120590 -0.964022 0.3371 Summary LSP(-4) 0.307305 0.129095 2.380456 0.0189 LSP(-5) 0.060772 0.117225 0.518418 0.6052 The central aim of this LSP(-6) -0.325520 0.135814 -2.396799 0.0182
paper is to analyze the impact LSP(-7) 0.219836 0.083283 2.639641 0.0095
of exchange rates, international LER -2.215033 0.490574 -4.515186 0.0000
gold prices and crude oil prices LER(-1) 2.153130 0.676297 3.183706 0.0019
on the Vietnamese stock market LER(-2) -0.238117 0.734788 -0.324062 0.7465
during the period from October LER(-3) -1.486414 0.990498 -1.500673 0.1362 2007 to October 2019. Using
the Autoregressive Distributed LER(-4) 1.932864 0.807308 2.394210 0.0183 Lag (ARDL) in combination LOP 0.204764 0.060918 3.361332 0.0011 with the Bound tests to deter- LOP(-1) -0.145414 0.081055 -1.794017 0.0755
mine the long-term effects and LOP(-2) 0.104768 0.079336 1.320563 0.1893 the error correction model LOP(-3) -0.100960 0.079622 -1.267998 0.2074 (ECM) afterwards to analyze LOP(-4) 0.003448 0.087250 0.039516 0.9685 the short-term effects, the LOP(-5) -0.123497 0.092675 -1.332579 0.1853
empirical results reveal the long LOP(-6) 0.166133 0.082938 2.003096 0.0475 and short-term linkages LOP(-7) -0.266558 0.068568 -3.887470 0.0002 between the selected price LOP(-8) 0.132164 0.048051 2.750498 0.0069 indices and the VNIndex. LGP -0.080672 0.046452 -1.736650 0.0852
Particularly, exchange rates and C -0.342553 0.888853 -0.385388 0.7007 gold prices impact positively while oil prices impact nega- R-squared 0.977817 Mean dependent var 6.347303
tively on the VN-Index in long- Adjusted R-squared 0.973536 S.D. dependent var 0.329247 term. The short-term fluctua- S.E. of regression
0.053561 Akaike info criterion -2.863999
tion will be corrected back to Sum squared resid 0.327044 Schwarz criterion -2.373783 the long-term equilibrium at Log likelihood 219.1839 Hannan-Quinn criter. -2.664787 6.4%. Based on the research F-statistic 228.4109 Durbin-Watson stat 2.218595 findings, some recommenda- Prob(F-statistic) 0.000000
tions are proposed in order to develop sustanable stock mar- ket for the case of Vietnam.
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews 10.0 khoa học thương mại 10 Sè 143/2020