Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC
ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG. RÚT RA NHẬN XÉT Nhóm: 06
Lớp học phần: 241_HCMI0131_16
Người hướng dẫn: Lê Văn Nguyên
Hà Nội, Tháng 10 năm 2024 Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 1/42 MỤC LỤC
BIÊN BẢN HỌP NHÓM................................................................................................................3
ĐÁNH GIÁ CHUNG......................................................................................................................5
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................6
NỘI DUNG......................................................................................................................................7
I. Giới thiệu chung:.........................................................................................................................7
1. Bối cảnh lịch sử thế giới sau 1975...........................................................................................7
1.1 Thuận lợi.....................................................................................................................................7
1.2 Khó khăn:....................................................................................................................................8

2. Bối cảnh lịch sử đất nước:........................................................................................................9
2.1 Mô hình kinh tế cổ điển, những vướng mắc và những thử thách tháo gỡ ở miền Bắc......9
2.2 Đất nước sau ngày giải phóng...............................................................................................11

II. Ba bước đột phá kinh tế (1979-1986).......................................................................................14
1. Bước đột phá thứ nhất: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979)..............................14
1.1 Hoàn cảnh.................................................................................................................................14
1.2 Những chủ trương thể hiện tính đột phá của Đảng..............................................................14
1.3 Minh chứng vận dụng chủ trương vào thực tế......................................................................17
1.4 Kết quả và ý nghĩa.......................................................................................................................18

2. Bước đột phá thứ hai: Hội nghị trung ương 8 khóa V (tháng 6/1985)...................................20
2.1 Hoàn cảnh.................................................................................................................................20
2.2 Những chủ trương thể hiện tính đột phá của Đảng..............................................................20
2.3 Minh chứng vận dụng chủ trương vào thực tế......................................................................28
2.4 Kết quả và ý nghĩa....................................................................................................................30

3. Bước đột phá thứ ba: Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (tháng 8/1986) “Kết luận đối với một số
vấn đề thuộc về quan niệm kinh tế”...........................................................................................31
3.1 Hoàn cảnh.................................................................................................................................31
3.2 Những chủ trương thể hiện tính đột phá của Đảng..............................................................31
3.3 Minh chứng vận dụng chủ trương vào thực tế......................................................................33
3.4 Kết quả và ý nghĩa....................................................................................................................35

III. Rút ra nhận xét.........................................................................................................................37
1. Thành tựu:...................................................................................................................................37
2. Tồn tại:........................................................................................................................................38

KẾT LUẬN...................................................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................42 Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 2/42
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Nhóm 6 – Lớp học phần: 241_HCMI0131_16 GVGD: Lê Văn Nguyên
Học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Thời gian: 25/09/2024 Lần họp thứ nhất
Địa điểm: Online google meet
I. Thành viên tham gia: Tất cả thành viên
II. Mục dích cuộc họp: Lập đề cương chi tiết cho bài thảo luận
III. Nội dung công việc
- Nhóm trưởng giao nhiệm vụ cho các thành viên đóng góp đề cương.
- Các thành viên thảo luận, thống nhất về dàn ý của bài thảo luận.
- Nhóm trưởng tổng hợp ý kiến và hoàn thiện đề cương chi tiết của bài thảo luận.
- Tất cả các thành viên của nhóm đều đồng ý với đề cương bài thảo luận. IV. Đánh giá chung
Buổi họp diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Hà nội, ngày 25 tháng 09 năm 2024 Thư ký Nhóm trưởng Nhài Nghĩa
Hoàng Thị Nhài Lê Thái Nghĩa Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 3/42
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Nhóm 6 – Lớp học phần: 241_HCMI0131_16 GVGD: Lê Văn Nguyên
Học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Thời gian: 30/09/2024 Lần họp thứ hai
Địa điểm: Online google meet
I. Thành viên tham gia: Tất cả thành viên
II. Mục dích cuộc họp: Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên
III. Nội dung công việc
- Nhóm trưởng đề xuất vị trí công việc và số lượng thành viên ở mỗi công việc
- Cả nhóm trao đổi, thống nhất nhận nhiệm vụ và thời gian hoàn thành IV. Đánh giá chung
Buổi họp diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Hà nội, ngày 30 tháng 09 năm 2024 Thư ký Nhóm trưởng Nhài Nghĩa
Hoàng Thị Nhài Lê Thái Nghĩa Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 4/42 ĐÁNH GIÁ CHUNG STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ Điểm Chữ ký 51 Thân Thị Nga 22D190111 Thuyết trình (Phản biện) 52 Hoàng Thanh Ngân 22D107131 Powerpoint (Phản biện) 53 Trần Thị Hoài Ngân 22D107132 Nội dung 54 Lê Thái Nghĩa 22D107133 Nhóm Trường, nội dung, soát lại bài 55 Hoàng Thị Nhài 22D107146 Nội dung, làm word, thư ký 56 Bùi Thị Thanh Nhàn 22D107147 Nội dung 57 Nghiêm Thị Nhàn 22D107148 Nội dung 58 Lê Thị Yến Nhi 22D107149 Nội dung 59 Lê Thị Nhị 22D107150 Nội dung 60 An Hồng Nhung 22D107151 Nội dung Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 5/42 LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn
giữ vai trò then chốt, dẫn dắt dân tộc vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, đặc biệt là trong
công cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Sau khi giành được độc lập và
thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đối diện với vô vàn khó khăn và thách thức,
đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài, cùng với sự
tồn tại của cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp đã khiến nền kinh tế quốc gia rơi vào tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Đời sống của người dân lâm vào cảnh khó khăn, thiếu
thốn, sản xuất đình trệ, thất nghiệp tràn lan, và hệ thống quản lý kinh tế thiếu hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam với tầm nhìn chiến lược đã sớm
nhận ra sự cần thiết của việc đổi mới tư duy và đường lối phát triển kinh tế, đề ra những
bước đột phá nhằm cứu vãn nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Những thay đổi
này không chỉ là kết quả của sự sáng tạo mà còn phản ánh sự nhạy bén của lãnh đạo
Đảng trước tình hình thực tế đất nước. Đặc biệt, trước khi bước vào công cuộc đổi mới
toàn diện vào năm 1986, ba bước đột phá kinh tế đã được triển khai, mở ra con đường
thoát khỏi sự trì trệ và định hướng phát triển mới cho nền kinh tế quốc dân.
Trong bài thảo luận này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về ba bước đột phá quan trọng
trong lĩnh vực kinh tế trước thời kỳ đổi mới của Đảng. Qua đó, không chỉ nhìn lại quá
trình vượt qua khủng hoảng kinh tế của đất nước trong giai đoạn khó khăn này, mà còn
rút ra những bài học quý giá về tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc đặt nền móng
cho sự phát triển vượt bậc sau này. Việc nghiên cứu các bước đột phá đó sẽ giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về vai trò tiên phong của Đảng trong việc điều chỉnh chính sách, cải cách
kinh tế và tạo nên những tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 6/42 NỘI DUNG
I. Giới thiệu chung:
1. Bối cảnh lịch sử thế giới sau 1975
Đường lối đối ngoại của từng quốc gia được hình thành dựa trên cơ sở tình hình
phát triển đất nước và bối cảnh quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể. Đường lối đối ngoại
của Đảng Cộng sản Việt Nam trước đổi mới cũng chịu sự tác động của bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ.
1.1 Thuận lợi
Phong trào đấu tranh cho hòa bình và độc lập dân tộc tiếp tục phát triển: Chiến thắng
của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều
phong trào giải phóng dân tộc khác trên thế giới. Nhiều quốc gia, đặc biệt là ở châu Phi
và châu Á, đã tìm kiếm độc lập và tự do từ các thế lực thực dân. Chiến thắng của Việt
Nam đã trở thành một biểu tượng của cuộc kháng chiến chống lại sự áp bức và thực dân,
chứng minh rằng một quốc gia nhỏ bé và nghèo khó cũng có thể đánh bại những cường
quốc quân sự hùng mạnh như Mỹ. Điều này đã củng cố niềm tin cho nhiều quốc gia đang
trong quá trình tìm kiếm độc lập và tự do.
Mô hình XHCN trên thế giới tiếp tục đạt được những thành tựu nhất định: Mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung vẫn là nền tảng của các nước XHCN, với sự điều hành
chặt chẽ của nhà nước. Liên Xô tiếp tục đạt được những thành tựu đáng kể trong công
nghiệp nặng và công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng với các dự án khai thác
dầu mỏ và năng lượng hạt nhân. Điều này giúp quốc gia này giữ vững vị thế một trong
những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Trong khối XHCN, Đông Đức (CHDC
Đức) được coi là một trong những nước phát triển nhất với nền công nghiệp hiện đại và
lực lượng lao động có trình độ cao. Đông Đức đạt được những bước tiến lớn trong sản
xuất máy móc, điện tử và công nghệ cao, tạo ra một hệ thống kinh tế vững chắc trong khu
vực Đông u. Các nước Đông u khác như Ba Lan, Tiệp Khắc và Hungary cũng đạt được
sự phát triển nhất định trong ngành công nghiệp nặng và chế tạo máy móc.
Sự biến đổi và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHKT: Sau khi Việt Nam
được giải phóng vào năm 1975, cuộc cách mạng KHCN đã có ảnh hưởng to lớn đến sự
phát triển của LLSX trên toàn thế giới. Cách mạng KHCN là một trong những yếu tố Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 7/42
quan trọng thúc đẩy sự thay đổi nhanh chóng trong cấu trúc kinh tế, xã hội và quân sự
của các quốc gia, và nó đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành những xu thế mới
trong sản xuất và phân phối nguồn lực toàn cầu. 1.2 Khó khăn:
Nền kinh tế của toàn bộ hệ thống XHCN đã bộc lộ những khó khăn, trì trệ: Sau khi
Việt Nam được giải phóng vào năm 1975, mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN)
trên thế giới đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng nền kinh tế của toàn bộ hệ
thống này bắt đầu bộc lộ những khó khăn và trì trệ nghiêm trọng. Đặc biệt, từ cuối những
năm 1970 và trong suốt thập niên 1980, các nền kinh tế XHCN, đặc biệt là Liên Xô và
các nước Đông u, phải đối mặt với một loạt thách thức kinh tế khiến mô hình kinh tế tập
trung kế hoạch hóa trở nên kém hiệu quả. Hầu hết các nước trong hệ thống XHCN đều
dựa vào mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó các nguồn lực cho sản xuất
được phân bổ một cách tập trung, thống nhất thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội mà các cơ quan kế hoạch của nhà nước đã soạn thảo, ban hành. Kế hoạch phát triển
kinh tế được xây dựng theo chu kỳ 5 năm. Tuy nhiên, hệ thống này bộc lộ sự cứng nhắc
khi phải đối mặt với những thay đổi nhanh chóng của thị trường và yêu cầu linh hoạt
trong việc phân bổ tài nguyên. Việc các nhà hoạch định kế hoạch phải tiếp nhận quá
nhiều thông tin khiến cho họ bị quá tải thông tin, không thể bao quát được toàn bộ kế
hoạch sản xuất và tiêu dùng.
CNTB điều chỉnh lại chiến lược với Đông Nam Á: Sau thất bại về quân sự trong
cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đã chuyển hướng chiến lược từ đối đầu quân sự sang
hợp tác kinh tế và thương mại với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, thực thi chiến
lược ‘diễn biến hòa bình” gây đủ mọi sức ép cho các nước trong khu vực. Các nước Đông
Nam Á ký hiệp ước “thân thiện và hợp tác Đông Nam Á” (Hiệp ước Bali) (tháng 2/1976)
mở ra cục diện hòa bình, hợp tác trong khu vực. Tổ chức ASEAN dần trở thành một diễn
đàn quan trọng cho các nước Đông Nam Á hợp tác với nhau và với các quốc gia ngoài
khu vực, đặc biệt là các quốc gia tư bản phát triển. Nhưng điều này cũng khiến cho các
nước XHCN gặp muôn vàn khó khăn trong việc cạnh tranh về mặt kinh tế.
Mỹ tập hợp các lực lượng phản động chống phá phong trào cách mạng thế giới và
hệ thống XHCN: Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong nội bộ hệ thống có sự thay đổi
cơ bản. Tây u và Nhật Bản trở thành những trung tâm kinh tế mới cạnh tranh gay gắt với
Mỹ. Từ năm 1970 đến năm 1977, xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện
hòa hoãn giữa các nước lớn, hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây u - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 8/42
u, Nhật Bản với Trung Quốc. Nhưng quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng
căng thẳng. Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc để chĩa mũi nhọn vào Liên Xô. Từ
năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước
XHCN. Chiến lược ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
2. Bối cảnh lịch sử đất nước:
2.1 Mô hình kinh tế cổ điển, những vướng mắc và những thử thách tháo gỡ ở miền Bắc
Sau khi tiếp quản miền Bắc năm 1954, Đảng Lao động Việt Nam đã áp dụng mô
hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dựa trên kinh nghiệm của Liên Xô, để xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tuy nhiên, mô hình này đã bộc lộ nhiều bất cập và vướng mắc
khi áp dụng vào thực tế Việt Nam.
Có thể nói rằng, mô hình cụ thể về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được áp dụng trực
tiếp ở Liên Xô từ thập kỷ 30 đến cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX thì được quy định cho
toàn phe XHCN tại hai Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân Quốc Tế tại Moskva
năm 1957-1960. Trong văn kiện, có nêu lên 8 nguyên tắc, mà hai nguyên tắc quan trọng nhất là:
Chế độ công hữu XHCN dưới hai hình thức toàn dân và tập thể
Toàn bộ nền kinh tế hoạt động theo kế hoạch tập trung thống nhất. Nguyên tắc này
cũng có nghĩa là không thể tồn tại thị trường tự do, không có giá cả thị trường tự do.
Miền Bắc đã chuẩn bị tiền đề đi vào mô hình này từ những năm cuối của thập kỉ
50, với hai cuộc cải tạo lớn: Cải tạo nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp trong 3 năm 1958-1960.
Năm 1960 với Đại hội Đảng lần thứ III và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965),
miền Bắc bước vào trực tiếp xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Những
nguyên tắc tổ chức và quản lý nền kinh tế đó đã dần dần hình thành. Cũng từ đây đã
có một số tìm tòi, đột phá ở miền Bắc trong thời kì này:
Một là, trong nông nghiệp, nền nông nghiệp hợp tác hóa hình thành từ 1960 đã sớm
bộc lộ những nhược điểm. Bởi vậy, chỉ 1-2 năm sau khi hoàn thành hợp tác hóa, đã
xuất hiện những mũi đột phá. Trước hết là Kiến An (nay thuộc Thành phố Hải Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 9/42
Phòng) và năm 1962, tại hai huyện Vĩnh Bảo và Kiến Thụy đã áp dụng hình thức
“khoán chui” đối với một số sản phẩm như thuốc lào, rau đậu. Đến năm 1966 thì
Vĩnh Phúc áp dụng hình thức khoán này trên toàn tỉnh trong hai năm 1966-1967.
Kết quả của phương thức khoán này đã được chứng minh trong thực tế. Nhưng vào
lúc đó thì đột phá công khai như vậy trên một lĩnh vực tối hệ trọng như nông
nghiệp là điều khó có thể chấp nhận.
Hai là, trong công nhiệp, ngay từ những năm đầu cũng đã xuất hiện những nhược
điểm của mô hình tập trung quan liêu. Hiện tượng không hoàn thành kế hoạch, lãng
phí, chất lượng sản phẩm kém, đời sống của người lao động chậm được cải
thiện,... đã đặt ra trước nhà quản lý và người nghiên cứu hàng loạt vấn đề
Ba là, trong thương nghiệp và giá cả, hệ thống mua bán theo kế hoạch và hệ thống
giá chỉ đạo đã sớm bộc lộ những nhược điểm của nó. Ngay từ những năm đầu thập
kỷ 60 đã có những kiến nghị xem xét lại và sửa đổi giá thu mua cho sát với giá thành thực tế
Bốn là, trong lĩnh vực ngoại thương, tập trung quản lý ngoại thương và ngoại hối là
một nguyên tắc, nhưng cơ chế này cũng gặp nhiều ách tắc. Từ năm 1963 đã có ý
tưởng muốn phát huy ưu thế của nông nghiệp nhiệt đới để đổi lấy máy móc thiết bị,
như một trong những phương tiện tối ưu để công nghiệp hóa đất nước. Đương
nhiên quan điểm này cũng không dễ được chấp nhận.
Nhìn chung, những đột phá thời đó chưa đi tới kết quả hiện thực vì những lý do sau đây:
Những húy kỵ về lý thuyết còn rất nặng nề. Đồng thời, những nét ưu việt của nền
kinh tế Xô Viết vẫn còn có những ảnh hưởng lớn và sức thuyết phục rất mạnh ở
nước ta. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được áp dụng một cách cứng nhắc,
bê nguyên xi từ Liên Xô, mà chưa có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trình độ và kinh nghiệm của quần chúng, của giới nghiên cứu và quản lý còn hạn
chế. Nguồn lực cán bộ quản lý kinh tế còn thiếu và yếu, chưa có kinh nghiệm trong
việc quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Khó khăn trong việc vận hành: Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung tỏ ra không
phù hợp với tâm lý và tập quán sản xuất nhỏ, manh, tự do của người nông dân Việt
Nam. Việc bao cấp, phân phối lương thực, nhu yếu phẩm gặp nhiều khó khăn.
Lịch sử vẫn còn lưu lại nhiều ấn tượng nặng nề mặt tiêu cực của nền kinh tế thị Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 10/42
trường, kinh tế tư nhân, về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc
Viện trợ to lớn và sự giúp đỡ của các nước anh em cũng có tác dụng che lấp và giảm
nhẹ những căn bệnh của mô hình kinh tế cũ. Với viện trợ và giá nhập khẩu hữu
nghị thì lỗ có thể thành lãi. Một nền kinh tế còn được nuôi bằng nguồn sữa viện trợ,
thì dù làm chưa đủ ăn nó vẫn sống
Những nỗ lực này chưa đủ để tạo ra bước đột phá cho nền kinh tế miền Bắc. Phải
đến sau năm 1986, với chính sách Đổi Mới, nền kinh tế Việt Nam mới thực sự
bước vào thời kỳ phát triển mới.
2.2 Đất nước sau ngày giải phóng 2.2.1 Thuận lợi:
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Tổ quốc hòa bình, thống nhất, cả
nước xậy dựng chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ
đại. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tự quan trọng. Đây
là những thuận lợi rất cơ bản của cách mạng nước ta 2.2.2 Khó khăn:
Sau khi giải phóng năm 1975, nước ta đang vừa phải tập trung khắc phục hâu quả
nặng nề của 30 chiến tranh, lại vừa phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và
biên giới phía Bắc. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn thâm độc
chống phá cách mạng Việt Nam. Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982) nhận định:
“đất nước ta đang ở trong tình thế vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với một kiểu
chiến tranh phá hoại nhiều mặt”. Ngoài ra do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến
nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn đã dẫn đến những khó khăn về kinh kế - xã hội.
Từ năm 1979, qua nhiều chỉ tiêu trong kế hoạch đề ra đa không đạt, nông nghiệp
sa sút, công nghiệp trì trệ, lưu thông rối loạn, lạm phát tăng nhanh…Cả nước bước vào
giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong thời kì này không giống với các cuộc
khủng hoảng chu kì trong nền kinh tế các nước tư bản, cũng không giống như các cuộc
khủng hoảng tài chính, tiền tệ hay khủng hoảng năng lượng, lương thực, khủng hoảng Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 11/42
thừa hay khủng hoảng thiếu… Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đặc biệt. Nhìn
một cách tổng quan, cuộc khủng hoảng này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội không phải diễn ra trong một lĩnh vực kinh
tế nào đó mà trong tất cá các lĩnh vực của đời sống kinh tế, là sự khung hoảng toàn bộ cơ
chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yêu
bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống
dưới. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Nông nghiệp:
Sau năm 1975, hệ thống sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là tại miền
Nam, đã gặp nhiều khó khăn do tình trạng ruộng đất manh mún và lạc hậu. Một phần lớn
diện tích đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền sở hữu của các địa chủ hoặc bị chia nhỏ sau
cuộc cải cách ruộng đất, trong khi tại miền Bắc, hệ thống hợp tác xã nông nghiệp được
xây dựng nhưng vẫn chưa hiệu quả, dẫn đến sản xuất bị phân tán và thiếu tập trung. Cơ
sở hạ tầng thủy lợi và giao thông phục vụ cho nông nghiệp kém phát triển, đặc biệt là tại
miền Nam (do vừa bị chiến tranh tàn phá), làm cho việc khai thác và canh tác nông
nghiệp gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, phần lớn nông dân vẫn sử dụng công cụ lao động
thủ công, với kỹ thuật canh tác lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khiến
công nghệ máy móc trong nông nghiệp gần như không phát triển. Điều này dẫn đến năng
suất lao động thấp và không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu lương thực cho toàn quốc, thu
nhập của nông dân bấp bênh, giảm sút, đời sống không được đảm bảo. Mô hình tập thể
hóa nông nghiệp đã rơi vào khủng hoảng. Công nghiệp:
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách quốc hữu
hóa các cơ sở công nghiệp của tư sản mại bản và tư sản công nghiệp lớn chạy ra nước
ngoài cải tạo, chuyển các tư bản vừa và nhỏ thành công tư hợp doanh. Điều này dẫn đến
sự thiếu chủ động trong quản lý, khi các cơ sở công nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào sự
chỉ đạo, phân bổ nguồn lực và nguồn vốn từ nhà nước, thiếu tính cạnh tranh khốc liệt. Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 12/42
Tốc đọ tăng trưởng không ổn định. Tốc độ phát triển công nghiệp bình quân hằng năm
thấp, công nghiệp dần đi vào đình đốn
Thương nghiệp - tài chính - tiền tệ:
Cơ cấu thương nghiệp mất cân đối nghiêm trọng, luôn trong tình trạng nhập siêu,
giá trị hàng hóa nhập khẩu luôn lớn hơn xuất khẩu. Điều này không chỉ phản ánh sự thiếu
hụt hàng hóa nội địa mà còn cho thấy sự phụ thuộc vào các nước khác, dẫn đến thâm hụt
thương mại và làm nền kinh tế dễ bị tổn thương trước biến động của thị trường quốc tế.
Hơn nữa, sự phụ thuộc vào nhập khẩu đã làm cạn kiệt nguồn dự trữ hàng hóa trong nước,
thương nghiệp quốc doanh quốc doanh rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, thua lỗ, phải
bù đắp bằng trợ cấp trong ngân sách quốc gia. Chính sách trợ cấp không chỉ tạo gánh
nặng cho ngân sách nhà nước mà còn khuyến khích sự lạm dụng, làm giảm tính tự chủ và
hiệu quả của các doanh nghiệp. Ngân sách nhà nước bội chi càng lớn, nền ngoại thương
bước vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng.
Tài chính từ 1979-1980 khủng hoảng trầm trọng, ngân sách luôn bị thâm hụt. Bội
chi ngân sách dẫn đến bội chi tiền mặt, số lượng tiền mặt lưu thông tăng đột biến, đồng
tiền mất giá, lạm phát. Giá cả trên thị trường tự do cách xa mức giá nhà nước quy định.
Bù giá trong ngân sách nhà nước ngày càng cao
Thứ hai: khủng hoảng ở cơ sở của nền kinh tế, thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa.
+ Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp duy trì quá lâu, hình thức sở hữu
ngoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng.
+ Cơ cấu thành phần kinh tế mất cân đối, các thành phần kinh tế bị chèn ép, bộ máy
quản lý còng kềnh, nhiều cấp trung gian kém năng động tạo ra phong cách cửa quyền, quan liêu.
+ Thời kì này nhà nước sử dụng các hình thức bao cấp: Bao cấp qua giá
 Bao cấp qua chế độ tem phiếu
Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân hàng nhưng không có chế tài ràng buộc
trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn.
Thứ ba: cuộc khủng hoảng mô hình trước đổi mới và có tính chất quốc tế, khủng hoảng
của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa, không chỉ riêng của Việt Nam. Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 13/42
II. Ba bước đột phá kinh tế (1979-1986)
1. Bước đột phá thứ nhất: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979) 1.1 Hoàn cảnh
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, chúng ta có tư tưởng chủ
quan, nóng vội muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn. Nhưng do
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó về quản lý kinh tế, những khuyết
điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bộc lộ ngày càng gay gắt, dẫn tới đất
nước dần dần lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng. Miền Bắc thì xuất hiện tình
trạng “khoán chui” từ những năm 1960. Ở miền Nam, tình hình ruộng đất rất phức tạp,
việc làm thí điểm hợp tác xã ở miền Trung và Tây Nguyên diễn ra thuận lợi nhưng thiếu
vững chắc, ở Nam Bộ diễn ra phức tạp và lúng túng, sản xuất nông nghiệp có chiều hướng suy giảm.
Trên phạm vi cả nước, từ năm 1976 đến năm 1979, đầu tư của nhà nước cho nông
nghiệp không ngừng tăng, nhưng năng suất và sản lượng lương thực lại giảm đến mức
thấp nhất. Nhà nước đã phải nhập khẩu lương thực ngày càng lớn. Về phát triển công
nghiệp, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 0,6%, tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng bình
quân 1,4% hàng năm, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4%, trong khi dân số tăng 2,24%. Đặc
biệt, từ cuối năm 1979, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội: Sản xuất trì trệ,
năng suất, chất lượng hiệu quả thấp; giá cả tăng vọt, đồng tiền mất giá; đời sống nhân dân
nhất là cán bộ, viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang rất khó khăn.
Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề sống còn là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng,
tìm tòi đổi mới, khắc phục những sai lầm khuyết điểm, đưa đất nước tiến lên theo mục
tiêu con đường đã chọn. Muốn vậy, trước hết phải thay đổi mạnh mẽ cách nghĩ, cách làm.
Từ đó có những tìm tòi thử nghiệm và cách làm ăn mới, đưa ra những lời giải đáp mới
cho những vấn đề đặt ra. Từ năm 1979 đến tháng 8 năm 1986 là thời kỳ đổi mới từng
phần, có vị trí rất quan trọng đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
1.2 Những chủ trương thể hiện tính đột phá của Đảng
Trước đổi mới, do áp lực gay gắt của tình hình trong nước và quốc tế buộc chúng
ta không còn con đường nào khác phải tiến hành đổi mới, buộc Hội nghị phải “phá rào”
về chương trình nghị sự, chuyển sang bàn về chủ đề cơ chế kinh tế. Cuối cùng, Hội nghị Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 14/42
đã ra 2 bản Nghị quyết. Một bản Nghị quyết về sản xuất hàng tiêu dùng, một Nghị quyết
về sửa đổi cơ chế kinh tế, cho phép “bung ra” và “cởi trói” cho sản xuất.
Hoạt động đầu tiên để tiến hành đổi mới chính là đổi mới tư duy mà trước tiên là
đổi mới tư duy kinh tế.
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách "làm cho
sản xuất bung ra", là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó. Hội
nghị chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà
nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hóa;
đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương
thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối nội bộ hợp tác xã nông nghiệp,
bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng,v.v... Đó là những bước đi ban đầu “cởi trói”
cho sản xuất, kinh doanh, được nhân dân đón nhận và đi nhanh vào cuộc sống.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 đã nhanh chóng được nhân dân cả nước đón
nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn kinh tế
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, tháng 9-1979, Hội đồng Chính phủ ra
quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hóa được trả thù lao
thích đáng và được sử dụng toàn bộ sản phẩm, được miễn thuế. Tháng 10-1979, Hội đồng
Chính phủ công bố quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ. Người
sản xuất có quyền đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường không phải nộp thuế sau khi
làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Được sự quan tâm của Nhà nước trong đầu tư phát
triển nông nghiệp và cố gắng của nhân dân, năm 1979 sản lượng lương thực tăng
1.718.500 tấn so với năm 1978.
Trước hiện tượng “khoán chui” ở một số các hợp tác xã nông nghiệp, ngày 22-6-
1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địa phương mở
rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với cây lúa trong các hợp tác xã nông
nghiệp. Rút kinh nghiệm qua khoán thí điểm cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp,
ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100/CT-TW về khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp. Theo tinh thần của Chỉ thị này, mỗi xã
viên nhận mức khoán trên một diện tích nhất định và tự mình làm 3 khâu, cấy, chăm sóc
và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm. Nếu thu hoạch vượt mức
khoán thì xã viên được hưởng. Phương hướng chủ yếu trong cải tiến khoán là khuyến
khích lợi ích chính đáng của người lao động làm cho mọi người tham gia các khâu trong Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 15/42
quá trình sản xuất và quản lý hợp tác xã đều gắn với sản phẩm cuối cùng. Chỉ thị ra đời
được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận. Chưa có hình thức kinh tế nào khi xuất hiện lại
được nhiều người bàn luận sôi nổi và được mở rộng nhanh chóng, biến thành một phong
trào quần chúng sâu rộng, thu hút hàng triệu nông dân, không những đem lại hiệu quả
kinh tế lớn mà còn mở ra triển vọng tốt đẹp cho việc cải tiến quản lý nông nghiệp như Chỉ thị 100.
Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng “xé rào” và làm thí
điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và Long An, ngày
21-1-1981, Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-CP về quyền chủ động sản xuất kinh
doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Quyết định nêu rõ: Cần
lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh
doanh có lãi; cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba
phần (phần Nhà nước giao, phần tự làm, phần sản xuất phụ). Cùng ngày 21-1-1981, Hội
đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương
khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh
doanh của Nhà nước. Những chủ trương chính sách nêu trên giúp cơ sở tự giải quyết một
phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước. Năm 1981, lần đầu tiên sau chiến
tranh sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%.
Trên mặt trận phân phối lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
26/NQ- TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông. Đây là lĩnh vực rất nóng bỏng
trong đời sống kinh tế-xã hội ở nước ta thời đó. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu, biện pháp
và các bước cụ thể của việc cải tiến công tác phân phối lưu thông. Tuy nhiên, hạn chế của
Nghị quyết là chủ trương khuyến khích sản xuất trước (bước 1) rồi trên cơ sở sản xuất
phát triển mới cải tiến công tác phân phối lưu thông (bước 2 và 3). Trong khi thực tiễn lại
yêu cầu phải cải tiến ngay công tác phân phối lưu thông để phát triển sản xuất. Vì thế,
tình hình phân phối lưu thông sau Nghị quyết 26 vẫn chưa có chuyển biến đáng kể.
Cùng với những chủ trương đổi mới từng phần trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, Đảng
còn quan tâm kiện toàn bộ máy Nhà nước và tăng cường công tác xây dựng Đảng.
Nội dung các chỉ thị, quyết định trên là nhằm giải phóng sức sản xuất. Những điều
chỉnh này đã tạo ra hình thái song song tồn tại giữa kinh tế công hữu kế hoạch hóa với
phi công hữu và thị trường tự do. Đây là nét đặc thù sau Hội nghị trung ương 6. “Cộng Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 16/42
sinh” và “xung đột” giữa hai loại cơ chế kinh tế, hai loại thị trường là đặc trưng cơ bản
của thời kỳ manh nha cho sự ra đời của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trên lĩnh vực cải tạo xã hội chủ nghĩa, vấn đề sử dụng nhiều thành phần kinh tế đã
được đặt ra; lấy hiệu quả kinh tế làm căn cứ, tiêu chí để vận dụng linh hoạt các hình thức
tổ chức sản xuất thích hợp; chính sách đối với kinh tế cá thể từng bước được điều chỉnh
cho sát với thực tế hơn; nhấn mạnh chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, mệnh
lệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống.
1.3 Minh chứng vận dụng chủ trương vào thực tế
Tại Hội nghị lần thứ 6 của Đảng khóa với chủ trương mà Đảng đề ra đó là khắc
phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,
phá bỏ những rào cản với mục tiêu “làm cho sản xuất bung ra” hay nói cách khác “cởi
trói cho sản xuất” nhằm tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Chiến dịch cải
tạo tháng 3 năm 1978 cũng bao gồm cải tạo ngành vận tải, minh chứng rõ nét cho sự việc
cải tạo ngành vận tải này đó chính là Khoán ở Công ty Xe khách liên tỉnh miền Đông Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước giải phóng do nguồn nhập khẩu quá dễ dàng và dư thừa nên những nhà kinh
doanh rất ít khi nghĩ tới sự dự trữ. Dự trữ bao giờ cũng kèm theo những phí tổn về vốn,
về kho vậy nên miền Nam thường không dự trữ quá một tháng về nhiên liệu, hầu hết toàn
xe mới nhập nên cũng không có nhu cầu dự trữ thay thế. Nhưng một vài tháng sau ngày
giải phóng miền Nam thì việc cung cấp xăng dầu cho các xe vận tải hành khách cũng
được Nhà nước đảm bảo một phần. Nhà nước chỉ cung cấp 50% không thể thoả mãn toàn
bộ nhu cầu nên các chủ doanh nghiệp đã bắt đầu săn đón nguồn xăng bất hợp pháp ở chợ đen.
Tình hình ngày càng trượt khỏi sự kiểm soát của Nhà nước nên từ cuối 1976, Nhà
nước đã có chủ trương tập hợp tất cả các xe vận tải hành khách và vận tải hàng hóa của tư
nhân vào khuôn khổ của các công ty quốc doanh, xe được trưng mua với giá do Nhà
nước định, chỉ bằng 1% giá mà các chủ xe đã mua trước đây. Những xe vận tải hành
khách trên các tuyến đường từ Sài Gòn ra các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Trung và
miền Bắc đã được cải tạo, tức tập trung vào Công ty Xe khách liên tỉnh miền Đông. Tuy
nhiên, tình trạng sa sút ngày càng bộc lộ rõ, số xe chết tăng lên từng ngày, từng tháng.
Công ty Xe khách liên tỉnh miền Đông có tổng hơn 900 đầu xe. Đến giữa năm 1979 chỉ Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 17/42
còn 200-300 đầu xe hoạt động, số xe hoạt động vẫn tốt, nhưng chỉ vì thiếu một thứ nào
đó là không chạy được: cái thì thiếu lốp, cái thì thiếu bộ chế, hỏng đầu bơm, cái thì thiếu
vòng bi, và đa số là thiếu săm lốp và thiếu xăng…. Trong suốt thời kỳ 1977-1980, khách
phải ăn chực nằm chờ để mua vé. Nhiều lái xe đề nghị với giám đốc cho khoán theo đầu
xe, tài xế xin nhận đầu xe “chết”, tự làm cho “sống” lại, tậu lốp mới, mua phụ tùng, mua
xăng ở ngoài và chở khách theo giá ngoài kế hoạch, vẫn nộp đủ khấu hao và lãi cho Công
ty. Để ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ lại dùng hành chính, Ngày 28 tháng 6 năm
1977, phó Thủ tướng Phạm Hùng ký Chỉ thị số 266-TTg quy định cấm các xe của các cơ
quan xí nghiệp và đơn vị bộ đội lợi dụng phương tiện vận tải và xăng dầu để kinh doanh vận tải.
Từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, công ty Miền Đông đã mạnh
dạn “bung ra”, tự cởi trói, cho áp dụng rộng rãi cơ chế này từ giữa năm 1979 với tư tưởng
mới đó là "Phải kết hợp ba lợi ích, lợi ích của xã hội, lợi ích của tập thể, và lợi ích của cá
nhân." Họ đã cùng người dân đề ra phương án, trước hết, công ty áp dụng chế độ khoán
về nhiên liệu đối với các lái xe, mỗi xe sẽ được công ty cung cấp theo kế hoạch (phần này
công ty sẽ thu đầy đủ) số còn lại sẽ phải tự mua (công ty thu một khoản ít hơn). Rất
nhanh, hàng trăm xe lần lượt sống lại. Công ty đỡ phải lo chạy xăng dầu và phụ tùng. Lái
xe có thu nhập, công ty có lợi nhuận. Bến xe đỡ hẳn nạn ách tắc. Vé chợ đen không còn.
Hành khách vui vẻ chấp nhận giá cao nhưng hợp lý, vì ăn trực nằm chờ nhiều ngày và
mua vé chợ đen còn tốn kém hơn nhiều.
1.4 Kết quả và ý nghĩa a, Kết quả
Nhờ chủ trương “cởi trói sản xuất” mà nước ta đã có thể mở cửa và giao lưu với
các nước trong cả lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp đặc biệt là công nghiệp. Dù vậy
nước ta vẫn tiếp tục lựa chọn chủ trương chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo vệ độc
lập và chủ quyền của Tổ quốc. Nhưng vẫn thực hiện bước đầu mở rộng quan hệ hợp tác
quốc tế, nhất là với các nước XHCN anh em và các nước có quan hệ hữu nghị với Việt
Nam. Không những vậy, còn tạo ra những bước đi đầu tiên trong quá trình khôi phục nền
kinh tế các chính sách và chủ trương đề ra trong Hội nghị đã đóng góp quan trọng vào
việc khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, đặc biệt trong việc đưa ra các giải pháp sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp. Đặc biệt những chủ trương của hội nghị lần thứ 6 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV còn giúp cải cách hành chính Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 18/42
và quản lý Nhà nước đã giúp tăng cường hiệu quả của các cơ quan nhà nước, hướng đến
một bộ máy tổ chức gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả hơn.
Với hình thức khoán, tuy còn ở trình độ thấp nhưng đã tạo nên không khí phấn
khởi trong nông dân. Nhiều hiện tượng tiêu cực, lãng phí ngày công đã từng tồn tại từ
nhiều năm trong các hợp tác xã nông nghiệp thì chỉ trong một vụ đông xuân (1981-1982)
áp dụng cách khoán mới đã giảm nhiều, theo đó sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong
thời kỳ 1981-1985 đã có những bước tiến đáng kể. Nếu so với mức bình quân hàng năm
của thời kỳ trước đó 1976-1980 là 1,9% thì tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp trong thời
kỳ 1981-1985 là 4,9%, sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng, mức tăng bình
quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu tấn trong
thời kỳ 1981-1985. Diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1%; đàn bò tăng 33,2%;
đàn lợn tăng 22%; lương thực cung cấp cho Nhà nước tăng 2 lần.
Mặc dù chủ trương của Hội nghị đem lại nhiều điểm tích cực là vậy nhưng những
giải pháp Hội nghị Trung ương sáu nêu ra chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn. Sau một thời
gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới: Sản xuất bung ra nhưng không đúng
hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiện nhiều; giá cả ngày càng cao, chưa hoàn toàn giải
quyết được các vấn đề cấp bách dù có các chủ trương về kinh tế và hành chính, nhưng
những vấn đề lớn như đói nghèo, thiếu hụt vật tư, và khôi phục ngành công nghiệp trọng
điểm vẫn là những thách thức lớn mà Hội nghị chưa thể giải quyết hoàn toàn như việc
giải quyết triệt để vấn đề cung cấp săm lốp, nhiên liệu cho các công ty xe khách lúc bấy
giờ. Hay việc chưa kịp triển khai các cải cách về xã hội, Hội nghị Trung ương 6 chủ yếu
tập trung vào các vấn đề kinh tế và tổ chức Đảng, nhưng chưa đưa ra các cải cách xã hội
mạnh mẽ để đối phó với những vấn đề như giáo dục, y tế, và an sinh xã hội. Họ mới chỉ
đưa tư tưởng "Phải kết hợp ba lợi ích, lợi ích của xã hội, lợi ích của tập thể, và lợi ích của
cá nhân" vào các chủ trương nên những chính sách an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe
nhân dân không được cải thiện rõ rệt, dẫn đến tình trạng khó khăn trong đời sống của
người dân, đặc biệt là trong giai đoạn hậu chiến. b, Ý nghĩa:
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV
là một cột mốc quan trọng, đưa ra các chủ trương trọng tâm cho việc củng cố bộ máy
chính quyền sau chiến tranh và ổn định nền kinh tế đặc biệt là vấn đề sản xuất, những ý
tưởng ban đầu của đổi mới tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 19/42
mở đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới toàn diện sau này.
Những đổi mới nêu trên chưa đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra vì nó
vẫn nằm trong bối cảnh chung là mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, tư duy về kinh tế tập
trung, quan liêu bao cấp cơ bản còn tồn tại. Từ đây đặt ra yêu cầu thực tiễn đòi hỏi Đảng
phải tiếp tục tìm tòi đổi mới.
2. Bước đột phá thứ hai: Hội nghị trung ương 8 khóa V (tháng 6/1985) 2.1 Hoàn cảnh
Từ sau ngày giải phóng miền Nam, điều kiện kinh tế - tài chính của nước ta thay
đổi căn bản: viện trợ không hoàn lại hầu như không còn nữa; số vốn vay dài hạn của các
nước anh em và bè bạn để nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và hàng tiêu dùng bị giảm đi
nhiều. Mặc dù nhà nước ta đã tích cực phát triển sản xuất trong nước, cố gắng đẩy mạnh
hoạt động xuất nhập khẩu và đã đạt được một số thành tựu đáng phấn khởi, nhất là từ
năm 1981 trở đi, song số của cải do sản xuất trong nước tăng thêm vẫn chưa nhiều hơn số
của cải từ các nguồn bên ngoài giảm đi. Hai cuộc chiến tranh xâm lược do bọn phản động
... gây ra ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc nước ta cùng những hoạt động phá hoại
về nhiều mặt của chúng đã gây cho ta nhiều thiệt hại. Dân số lại tăng lên quá nhanh. Vì
vậy, thu nhập quốc dân sử dụng bình quân đầu người, sau khi đã giảm đột ngột 20% năm
1975, vẫn tiếp tục giảm mỗi năm 2-3%. Trong khi đó thì nhu cầu tiêu dùng xã hội tăng
hơn trước, nhu cầu quốc phòng và chi về xây dựng cơ bản vẫn phải duy trì ở mức cao.
2.2 Những chủ trương thể hiện tính đột phá của Đảng
Tháng 6-1985, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tám để bàn
về vấn đề giá, lương, tiền với mong muốn đưa giá cả các mặt hàng theo sát với chi phí
sản xuất, sát với giá thực tế trên thị trường do tình hình kinh tế, nhất là thị trường, giá cả
vẫn tiếp tục diễn biến xấu, tiền lương thực tế liên tục bị giảm sút. Hội nghị quyết định:
"Phải dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập
trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì mới đẩy mạnh được
sản xuất, kinh doanh có hiệu quả"
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa V (6-1985) đã cho ra đời một nghị quyết lịch
sử, được coi là bước đột phá thứ hai của quá trình đổi mới tơ duy kinh tế ở Việt Nam bởi
những chủ trương đổi mới mạnh dạn và quyết đoán. Đảng đã chủ trương xóa bỏ cơ chế Nhóm 6 241_HCMI0131_16 Trang 20/42