Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 1
BÀI 2
QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
Xin chào anh, chị sinh viên!
Nội dung bài học tiếp theo của học phần Luật Hành chính Việt Nam, chúng ta sẽ
được tìm hiểu những vấn đề bản của quy phạm pháp luật nh chính quan hệ pháp
luật hành chính.
Bài học gồm 2 phần:
Phần 1. Quy phạm pháp luật hành chính;
Phần 2. Quan hệ pháp luật hành chính.
Mục tiêu chung
Đây là những nội dung quan trọng cung cấp cho các anh chị những kiến thức chung
nhất quy phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính.
Mục tiêu cụ thể
- Hiểu được v quy phm pháp lut hành chính các hình thc thc hin quy
phm pháp lut hành chính
- Hiểu được v quan h pháp lut hành chính, ch th ca quan h pháp lut hành
chính và cơ s làm phát sinh, thay đổi, chm dt các quan h pháp lut hành chính.
Để nắm được những nội dung bản của bài này anh/chị nhớ ôn tập bằng cách trả
lời câu hỏi ở cuối bài.
Chúc anh/chị đạt kết quả tốt!
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 2
1. Quy phạm pháp luật hành chính
1.1. Khái niệm và đặc điểm quy phạm pháp luật hành chính
1.1.1 Khái niệm
Trong quản hành chính nhà nước, các chủ thể quản nhà nước cần đến quy
phạm pháp luật để định ra các khuôn mẫu xử sự chung cho nhiều nhân, tổ chức (đối
tượng quản lí) trong những tình huống được dự liệu trước và có thể lặp lại nhiều lần trong
thực tiễn. Mặt khác, khi tiến hành các hoạt động quản lí hành chính nhà nước thì giữa chủ
thể đối tượng quản đã phát sinh các quan hệ hội cần được pháp luật điều chỉnh -
đó chính các quan hquản hành chính nhà nước. Do đặc trưng của quan hệ quản
hành chính nhà nước quan hệ “quyền lực - phục tùng”, quan hệ sự bất bình đẳng về
ý chí giữa các bên tham gia nên việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại quan hệ này
có những điểm riêng biệt cả về phương pháp điều chỉnh và loại quy phạm điều chỉnh.
Những quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan hệ quản hành
chính nhà nước các quy phạm pháp luật hành chính. Do đó, thể hiểu: Quy phạm
pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều
chỉnh các quan hệ hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính theo phương pháp
mệnh lệnh - đơn phương.
1.1.2 Đặc điểm
một dạng c thể của quy phạm pháp luật nên các quy phạm pháp luật hành
chính đầy đủ các đặc điểm chung của quy phạm pháp luật như: quy tắc xử sự
chung thể hiện ý chí của nhà nước; được nhà nước bảo đảm thực hiện; tiêu chuẩn để
xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người về tính hợp pháp.
Bên cạnh đó, quy phạm pháp luật hành chính có những đặc điểm sau đây:
- Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà ớc
ban hành.
Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các quan hành chính nhà ớc
hoặc người có thẩm quyền trongquan hành chính nhà nước ban hành trên cơ sở cụ thể
hoá, chi tiết hoá các quy định của hiến pháp, luật pháp lệnh trong lĩnh vực quản
hành chính nhà nước. Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành
chính cho một số chủ thể quản lí hành chính nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quan
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 3
hành chính nhà nước người thẩm quyền trong quan hành chính nhà nước còn
phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản lí hành chính nhà nước.
- Các quy phạm pháp luật hành chính số lượng lớn hiệu lực pháp khác
nhau.
Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất
đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính số ợng lớn.
Trong đó những quy phạm hiệu lực pháp trên phạm vi cả nước chung cho các
ngành, lĩnh vực quản nhưng cũng những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi
một ngành, một lĩnh vực quản lí hay trong một địa phương nhất định. Mặt khác cũng
những quy phạm được áp dụng chung đối với cả nhân tổ chức, những quy phạm
chỉ được áp dụng đối với cá nhân hoặc chỉ được áp dụng đối với tổ chức.
- Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên sở các
nguyên tắc pháp lí nhất định.
Mặc các quy phạm pháp luật hành chính số lượng lớn hiệu lực pháp
khác nhau nhưng do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp luật trong quảnlí hành chính nhà
nước các quy phạm nàỵ cần phải hợp thành một hệ thống. Để bảo đảm yêu cầu nêu
trên, các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính trách nhiệm
tuân thủ các nguyên tắc pháp lí thống nhất sau đây:
Thứ nhất, c quy phạm pháp luật hành chính do quan nhà nước cấp dưới ban
hành phải phù hợp với nội dung mục đích của quy phạm pháp luật do quan nhà
nước cấp trên ban hành.
Thứu hai, các quy phạm pháp luật hành chính do quan hành chính nhà nước,
Chủ tịch nước, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân ban hành phải phù hợp với nội
dung mục đích của quy phạm pháp luật do quan quyền lực nhà nước cùng cấp ban
hành.
Thứ ba, các quy phạm pháp luật hành chính do quan hành chính nhà nước
thẩm quyền chuyên n ban hành phải phù hợp với nội dung mục đích của quy phạm
pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp ban hành.
Thứ tư, các quy phạm pháp luật hành chính do người thẩm quyền trong quan
nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung mục đích của quy phạm pháp luật do
tập thể cơ quan đó ban hành.
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 4
Thứ năm, bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hành
chính do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lí ban hành.
Thứ sáu, các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo đúng thủ tục
và dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định.
1.2 Phân loại quy phạm pháp luật hành chính
Căn cứ vào chủ thể ban hành, các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân
loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do Chủ tịch nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do quan hành chính nhà nước hoặc người
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao ban hành.
Căn cứ vào cách thức ban hành, các quy phạm pháp luật hành chính thể được
phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm pháp luật hành chính do một cơ quan hay người có thẩm quyền độc lập
ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính liên tịch.
Căn cứ vào mối quan hệ được điều chỉnh, các quy phạm pháp luật hành chính
thể được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm nội dung loại quy phạm được ban hành để quy định nội dungquyền
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản hành chính nhà nước. Các quy phạm
này được ban hành chủ yếu để quy định về địa vị pháp lí hành chính của các chủ thể tham
gia quan hệ quản hành chính nhà ớc. dụ: Quy định về thẩm quyền xử vi phạm
hành chính của chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp hay quy định về nghĩa vụ lao động công
ích của công dân v.v..
- Quy phạm thủ tục là loại quy phạm được ban hành để quy định những thủ tục cần
thiết các bên tham gia quan hệ quản hành chính nhà nước phải tuân theo khi thực
hiện quyền nghĩa vcủa mình do các quy phạm pháp luật nội dung quy định. Ví dụ:
Các quy phạm quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, thtục giải quyết khiếu
nại hành chính v.v..
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 5
Căn cứ vào hiệu lực pháp lí về thời gian, các quy phạm pháp luật hành chính có thể
được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm áp dụng lâu dài loại quy phạm trong văn bản ban hành chúng
không ghi thời hạn áp dụng. Các quy phạm này chỉ hết hiệu lực khi bị bãi bỏ, thay thế.
Các quy phạm nàysố lượng rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh lâu
dài và ổn định các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà nước.
- Quy phạm áp dụng thòi hạn là loại quy phạm được ban hành để điều chỉnh các
quan hệ quản hành chính nhà nước chỉ phát sinh trong những tình huống đặc biệt hay
chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định. Khi tình huống đó không còn hay hết thời
hạn đó thì quy phạm hết hiệu lực.
- Quy phạm tạm thời loại quy phạm được ban nh để điều chỉnh một số loại
quan hệ quản hành chính nhà nước trên một phạm vi, trong khoảng thờigian nhất định
làm cơ sở tổng kết để ban hành chính thức nếu phù hợp.
Căn cứ vào hiệu lực pháp về không gian, các quy phạm pháp luật hành chính
thể được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm có hiệu lực pháp trên phạm vi cả nước. Các quy phạm này do các
quan nhà ớc hoặc người thẩm quyền trong quan nhà nước trung ương ban
hành.
- Quy phạm hiệu lực pháp trên phạm vi từng địa phương nhất định. Các quy
phạm này chủ yếu do các quan nhà nước địa phương ban hành để đáp ứng nhu cầu
điều chỉnh các quan hệ quản hành chính nhà nước phù hợp với đặc thù của địa phương
mình. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
trung ương thể ban hành những quy phạm pháp luật hành chính hiệu lực pháp
trên phạm vi từng địa phương nhất định để điều chỉnh riêng biệt một số loại quan hệ quản
lí hành chính nhà nước quan trọng có tính đặc thù ở địa phương đó.
Việc phân loại quy phạm pháp luật hành chính theo hiệu lực pháp về không gian
nêu trên chỉ mang tính tương đối. nếu căn cứ vào hiệu lực pháp về đối tượng áp
dụng của các quy phạm thì chúng ta sẽ thấy có những quy phạm pháp luật hành chính của
Việt Nam được áp dụng đối với công dân và tổ chức của Việt Nam ở nước ngoài.
1.3 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 6
Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính việc các quan, tchức, nhân xử
sự phù hợp với các u cầu của quy phạm pháp luật hành chính khi tham gia vào quản
hành chính nhà nước. Tuỳ thuộc vào nội dung của quy phạm pháp luật hành chính được
thực hiện cách tham gia vào quản hành chính nhà nước của các quan, tchức,
cá nhân mà việc thực hiện các quy phạm này có những hình thức cụ thể sau đây:
- Sử dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các quan, tổ chức, nhân thực hiện những hành vi được pháp luật hành
chính cho phép. dụ: Công dân thực hiện quyền khiếu nại đối với các quyết định hành
chính, hành vi hành chính, thực hiện quyền tự do đi lại, cư trú v.v..
- Tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các quan, tổ chức, cá nhân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp
luật hành chính ngăn cấm. dụ: Công dân không đi ngược đường một chiều, không tẩy
xoá chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu v.v..
- Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các quan, tổ chức, nhân thực hiện những hành vi pháp luật hành chính
đòi hỏi họ phải thực hiện. dụ: Thực hiện nghĩa vụ lao động công ích; thực hiện nghĩa
vụ đăng kí tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật, v.v..
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các quan, tổ chức, nhân thẩm quyền căn cứ vào quy phạm pháp luật
hành chính hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản
hành chính nhà nước.
Khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, các chủ thể quản hành chính nhà
nước đơn phương ban hành các quyết định hành chính hay thực hiện các hành vi hành
chính để tổ chức việc thực hiện pháp luật một cách trực tiếp đối với các đối tượng quản
thuộc quyền. Do đó, áp dụng quy phạm pháp luật hành chính sự kiện pháp trực tiếp
làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một số quan hệ pháp luật cụ thể.
Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu pháp
nhất định để bảo đảm hiệu lực quản của nhà ớc các quyền, lợi ích hợp pháp của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Những yêu cầu đó là:
+ Áp đụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung, mục đích của
quy phạm pháp luật được áp dụng.
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 7
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam phải được thực hiện bởi chủ
thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam phải được thực hiện đúng thủ
tục do pháp luật quy định.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện trong thời hạn, thời
hiệu do pháp luật quy định
+ Kết quả áp đụng quy phạm pháp luật hành chính phải trả lời công khai, chính
thức cho các đối ợng liên quan phải được thể hiện bằng văn bản (trừ trường hợp
pháp luật quy định khác).
+ Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật nh chính phải được c đối tượng
liên quan tôn trọng và được bảo đảm thực hiện trên thực tế.
2. Quan hệ pháp luật hành chính
2.1 Khái niệm và đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính
2.1.1 Khái niệm
Các quan hệ xã hội trong quản lý hành chính nhà nước được điều chỉnh bởi các quy
phạm pháp luật hành chính là các quan hệ pháp luật hành chính.
Trong khoa học pháp , quan hệ pháp luật hành chính quan hệ hội phát sinh
45 trong quá trình quản hành chính nhà nƣớc, đƣợc điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với
nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
2.1.2 Đặc điểm
Ngoài những đặc điểm chung như các quan hệ pháp luật khác, các quan hệ pháp
luật hành chính có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- Quan hệ pháp luậtnh chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể
quản lý hay đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Sở dĩ các quan hệ pháp luật hành chính có đặc điểm này là vì: việc điều chỉnh pháp
đối với các quan hệ quản hành chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích bảo đảm
lợi ích của nhà nước mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong hội. Thẩm quyền quản hành chính của nhà nước chỉ thể được thực
hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía các đối tượng quản lý. Mặt khác, nhiều quyền lợi
của đối tượng quản lý hành chính nhà nước chỉ có thể được bảo đảm nếu có sự hỗ trợ tích
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 8
cực của các chủ thể quản lý bằng những hành vi pháp lí cụ thể. Trong quản lý hành chính
nhà nước, hoạt động quản nhà ớc được duy trì không đơn thuần từ phía các chủ thể
quản lý. Thẩm quyền của các chủ thể quản lý nhà nước chỉ thể được triển khai khi
sự phối hợp tham gia của đối tượng quản lý hành chính nhà nước. thế, hoạt động quản
hành chính nhà nước chỉ thực sự được thực hiện khi chủ thể quản hành chính nhà
nước trách nhiệm, nghĩa vthực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn pháp luật
quy định đối tượng quản ý thức thực hiện quyền nghĩa vpháp của mình
để tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Như vậy, chỉ cần một bên chủ thể quản
hành chính nhà ớc hoặc đối tượng quản yêu cầu hợp pháp là đã thể làm phát
sinh quan hệ pháp luật hành chính không cần phải sự đồng ý hay thỏa thuận của
phía bên kia.
- Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháphành
chính của các bên tham gia quan hệ đó.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức
hay nhân; thể nhân danh nhà nước, lợi ích của nhà nước hoặc nhân danh chính
mình nhưng họ đều thực hiện các quyền nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính
quy định. Việc quy định thực hiện các quyền nghĩa vụ này cần thiết đối với việc
xác lập và duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước.
- Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực nhà
nước.
Quan hệ pháp luật hành chính quan hệ quản hành chính nhà ớc được điều
chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. vậy, về cách cấu chủ thể của
quan hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với cách cấu chủ thể của quan hệ
quản hành chính nhà nước tương ứng. Nếu một bên tham gia quan hệ quản hành
chính nhà nước được sử dụng quyền lực nhà nước (chủ thể quản hành chính nhà nước)
thì chủ thể đó trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng sẽ được xác định chủ thể
đặc biệt. Mặt khác, trong quan hệ quản hành chính nhà nước, đối tượng quản bên
chủ thể không được sử dụng quyền lực nhà nước nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng
quyền lực nhà ớc của chủ thể quản thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương
ứng, các đối ợng này được xác định chủ thể thường. Như vậy, các chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt chủ thể thường. Trong
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 9
đó, chủ thể đặc biệt các quan, tổ chức, nhân được nhân danh sử dụng quyền
lực nhà nước trongquan hệ ấy. Từ đó thể nhận định quan hệ pháp luật hành chính
không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt.
- Quyền nghĩa vụ của hai bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam luôn gắn với hoạt động chấp hành - điều hành.
Các quan hệ xã hội phát sinh khi các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền
trong quan nhà ớc thực hiện hoạt động quản hành chính nhà nước chính các
quan hệ quản hành chính nhà nước. Bản chất của những quan hệ này quan hệ pháp
luật hành chính bởi chúng được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Việc
điều chỉnh đối với các quan hệ quản hành chính nhà nước vừa nhằm đảm bảo lợi ích
của nhà nước vừa đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của nhân, tổ chức trong hội
khi tham gia vào quản hành chính nhà nước. Đây chính do đkhẳng định quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính luôn gắn với
hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay còn gọi là hoạt động chấp hành - điều hành.
- Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được giải
quyết theo thủ tục hành chính.
Trong quan hệ pháp luật hành chính, khách thể hướng tới của các bên trong quan
hệ không phải quyền lợi ích của các n quyền lợi ích của nhà nước, tập
thể dung hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Bởi vậy, trong hầu hết các quan
hệ pháp luật hành chính khi đối tượng quản cho rằng, quyền lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm hại, không được bảo đảm, hsẽ làm đơn khiếu nại nhằm bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại chính biểu hiện của sự bất đồng về quyền lợi
ích giữa hai chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính. Khiếu nại cũng sự kiện pháp
làm phát sinh tranh chấp hành chính giữa chủ thể quản hành chính đối tượng
quản lý. Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì đối tượng của khiếu nại là quyết
định hành chính hoặc hành vi hành chính. Hầu hết các trường hợp khiếu nại quyết định
hành chính, hành vi hành chính của nhân tổ chức được giải quyết theo thủ tục giải
quyết khiếu nại do Luật Khiếu nại quy định, thủ tục này là thủ tục hành chính. Tuy nhiên,
với mục đích hướng tới một xã hội công dân và nhằm đảm bảo tính khách quan trong giải
quyết tranh chấp nh chính, theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, một
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 10
số tranh chấp nh chính được giải quyết theo thủ tục hành chính kết hợp với thủ tục tố
tụng hành chính.
- Bên tham gia quan hpháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật hành
chính phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước.
Bản chất của quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính nhà nước
với việc hướng tới sự bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích công, do vậy một trong các bên vi
phạm đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước với tư cách đại diện cho quyền lợi công.
Nếu bên vi phạm là chủ thể quản lý trong quan hệ pháp luật hành chính thì việc gánh chịu
trách nhiệm pháp lý của chủ thể này trước Nhà nước tất yếu bởi họ luôn thực hiện
thẩm quyền của mình nhân danh quyền lực nnước. Trong trường hợp bên vi phạm
đối tượng quản - chủ thể tham gia vào quản thì họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp
trước chthể quản nhà ớc, vi phạm của chthể thường vi phạm quyền
nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật hành chính.
2.2 Phân loại quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam thể được phân loại dựa vào hai tiêu chí
điển hình sau đây:
Dựa vào tính chất của mối liên hệ giữa hai bên chủ thể, quan hệ pháp luật hành
chính được chia thành hai loại quan hệ sau:
- Quan hệ pháp luật hành chính được hình thành giữa hai chủ thể mối quan hệ lệ
thuộc với nhau về tổ chức. Đây những quan hệ được hình thành trên sở phân cấp
trong quản hành chính, trên sở chỉ đạo điều hành trong quản hành chính nhà
nước hoặc trên cơ sở thanh tra, kiểm tra trong quản lý hành chính. Nhiều ý kiến cho rằng,
đây chính các quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam theo chiều dọc giữa cấp trên với
cấp dưới, quan điểm khác lại cho rằng, đây những quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam nội bộ trong hệ thống các quan hành chính nhà nước. Nhưng cách gọi như
thế nào thì chúng ta cần phải hiểu đây nhóm các quan hệ hành chính được hình thành
giữa hai chủ thể lệ thuộc nhau về tổ chức. dụ: Giữa Bộ Giáo dục Đào tạo với Viện
Đại học Mở Nội, giữa Chính phủ với bộ, quan ngang bộ, giữa UBND tỉnh với các
sở.
- Quan hpháp luật hành chính hình thành giữa hai chủ thể không sự lệ thuộc
với nhau về tổ chức. Đây nhóm quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam phát sinh
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 11
mọi lĩnh vực trong cuộc sống, phát sinh khi các cá nhân tổ chức thực hiện quyền và nghĩa
vụ pháp hành chính để tham gia vào quản hành chính nhà nước. thể gọi nhóm
quan hệ này nhóm quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam liên hệ bởi giữa hai chủ thể
trong nhóm quan hệ này chỉ liên hệ với nhau hoặc lệ thuộc nhau về hoạt động. loại
quan hệ này quyềnnghĩa vụ của hai chủ thể được xác lập trên nguyên tắc “quyền lưc -
phục tùng” giữa một bên Nhà nước với nhân, tổ chức khác trong hội. Ví dụ:
Quan hệ giữa UBND quận với ng dân về việc cấp giấy chứng nhận đăng giấy phép
kinh doanh; quan hệ giữa Bộ Giáo dục Đào tạo với Bộ pháp trong việc kiểm tra
các vấn đề liên quan đến hoạt động đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ luật học.
Dựa vào quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ, quan hệ pháp luật hành
chính có thể được phân thành hai loại sau:
- Quan hệ pháp luật hành chính nội dung:
Đây là nhóm quan hệ được thiết lập để các n chủ thể trong quan hệ trực tiếp thực
hiện quyền nghĩa vụ pháp của mình trong các lĩnh vực khác nhau của quản hành
chính nhà nước. Tất nhiên, nhóm quan hệ này được các quy phạm pháp luật hành chính
nội dung điều chỉnh. dụ: Quan hệ giữa UBND cấp với công dân A,B về việc
UBND cấp nơi thường trú của công dân A hoặc B cấp giấy chứng nhận kết hôn cho
công dân A và công dân B.
Quan hệ pháp luật hành chính thủ tục:
Đây là nhóm quan hệ được hình thành trong quá trình các chủ thể thực hiện các thủ
tục hành chính cần thiết cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật nội
dung. Nhóm quan hệ này sẽ được các quy phạm hành chính thtục điều chỉnh. Tóm lại,
quan hệ pháp luật hành chính thủ tục sở để thực hiện quan hệ pháp luật hành chính
nội dung. dụ: quan hệ giữa thủ trưởng quan đơn vị với công chức A về việc xác
nhận tại đơn xin đăng ký kết hôn của A.
2.3 Chủ thể, khách thể quan hệ pháp luật hành chính
2.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
Chủ thể quan hpháp luật hành chính c bên trong quan hệ pháp luật hành
chính Việt Nam, bao gồm: các quan, tổ chức, nhân năng lực chủ thể, mang
quyền nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Như vậy, để trở
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 12
thành chủ thể quan hệ pháp luật hành chính, nhân, quan, tổ chức phải năng lực
chủ thể quan hệ pháp luật hành chính.
Năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính khả năng pháp lý của quan, tổ
chức, nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên, năng lực chủ thể
quan hệ pháp luật hành chính của cơ quan, tổ chức hay cá nhân sẽ được xem xét và bị chi
phối bởi các yếu tố khác nhau.
- Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước.
Ngay từ khi được thành lập các quan nhà nước đã được pháp luật quy định cụ
thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Bởi vậy, kể từ thời điểm này các quan nhà
nước đầy đủ khả năng pháp để tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam. Như vậy, năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam của cơ quan nhà
nước phát sinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó giải thể.
- Đối với chủ thể là cán bộ, công chức.
Với cách cán bộ, công chức, năng lực chủ thể của đối ợng này hình thành
khi cán bộ, công chức được Nhà nước giao đảm nhận một công vụ, nhiệm vu, chức vụ,
chức danh cụ thể trong bộ máy nhà nước chấm dứt khi không còn đảm nhận công vụ,
nhiệm vụ, chức vụ đó nữa.
- Đối với chủ thể là tổ chức xã hội, tổ chức khác (gọi chung là tổ chức).
Năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính của tổ chức phát sinh khi các tổ
chức được thành lập một cách hợp pháp pháp luật hành chính Việt Nam quy định
quyền nghĩa vụ pháp cho tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của quản hành
chính nhà nước chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức đó bị giải
thể.
- Đối với chủ thể là cá nhân.
Năng lực chủ thể của nhân được xác lập bởi năng lực pháp luật hành chính
năng lực hành vi hành chính.
Năng lực pháp luật nh chính của nhân là khả năng hưởng các quyền nghĩa
vụ pháp lý do pháp luật hành chính quy định. Năng lực pháp luật hành chính của nhân
thể hiện địa vị pháp của nhân trong quản hành chính nhà nước. Thông thường
năng lực pháp luật hành chính của nhân phát sinh khi nhân đó sinh ra được c
định là công dân và chấm dứt khi cá nhân đó chết.
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 13
Năng lực hành vi của nhân khả năng bằng chính hành vi của mình thực hiện
các quyền nghĩa vụ pháp lý do pháp luật hành chính quy định trong thực tế được
Nhà nước thừa nhận. Chúng ta có thể xem xét năng lực hành vi hành chính của cá nhân
cả hai khía cạnh: Độ tuổi năng lực nhận thức hành vi của nhân. Tùy từng quan hệ
pháp luật hành chính năng lực hành vi hành chính của nhân được xác định độ
tuổi khác nhau theo quy định của pháp luật hành chính Việt Nam.
2.3.2 Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính
Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh các lĩnh vực khác nhau của đời sống hội sẽ
có khách thể khác nhau trật tự quản mỗi lĩnh vực cụ thể. dụ: Quan hệ pháp luật
hành chính giữa UBND nhân, tổ chức về việc cấp thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Khách thể của quan hpháp luật hành chính này trật tự quản
hành chính nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai.
2.4 Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Dưới góc độ luận sở để làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp
luật hành chính bao gồm 3 yếu tố: Quy phạm pháp luật hành chính, năng lực chủ thể của
cơ quan, cá nhân, tổ chức, sự kiện pháp lý hành chính. Tong đó, quy phạm pháp luật hành
chính, năng lực chủ thể của quan, nhân, tổ chức điều kiện chung cho việc phát
sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính.
Sự kiện pháp nh chính sự kiện thực tế phù hợp với sự dự liệu tại các quy
phạm pháp luật hành chính \. Như vậy, sự kiện pháp lý hành chính là cơ sở thực tế để làm
phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Sự kiện pháp
lý hành chính có thể là hành vi (hành động hoặc không hành động) và sự biến.
- Hành vi sự kiện pháp hành chính tính ý chí. Đây sự kiện khi xảy ra
trên thực tế gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành
chính cụ thể. Hành vi được chia thành hành vi hợp pháp hành vi không hợp pháp.
Hành vi hợp pháp những hành vi của nhân tổ chức phù hợp không trái với quy
phạm pháp luật nh chính, đó thể yêu cầu, sáng kiến của cá nhân, tổ chức hay
thể hành động công vụ của cán bộ, công chức. Hành vi bất hợp pháp những hành vi
không phù hợp, trái với quy phạm pháp luật hành chính như: hành vi vi phạm pháp luật
hành chính, hành vi hành chính trái quy định của pháp luật… Những hành vi bất hợp
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 14
pháp dẫn đến sự xuất hiện các quan hệ pháp luật về bảo vệ, quan hệ pháp luật về xử lý kỷ
luật hoặc quan hệ pháp luật về xử vi phạm hành chính. dụ: Hành vi không đội
bảo hiểm khi đi mô tô, hành vi tự ý bỏ việc của cán bộ công chức.
- Sự biến là sự kiện pháp lý hành chính không mang tính ý chí. Đó là những sự kiện
thực tế xảy ra theo quy luật khách quan không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự
biến chỉ được coi sự kiện pháp hành chính khi sự biến đó đã được dự liệu tại quy
phạm pháp luật hành chính.
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 15
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân biệt các hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam.
2. Phân tích các yêu cầu đối với hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
Việt Nam. Lấy ít nhất 03 ví dụ minh họa.
3. Thông qua dụ cụ thể để phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hành
chính Việt Nam.
4. Phân tích điều kiên để làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật
hành chính Việt Nam.
5. Phân tích điều kiên để một nhân trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành
chính Việt Nam. Cho ví dụ minh họa
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lut Hành chính Việt Nam, Trường Đại hc M Hà Nội, năm 2020;
2. Lut Hành chính Việt Nam, Trường Đại hc Lut Hà Ni, năm 2019
3. Hiến pháp 2013;
4. Lut cán b, công chc năm 2008 (sa đi, b sung năm 2019);
5. Lut viên chức năm 2010 (sa đi, b sung năm 2019);
6. Lut khiếu nại năm 2011;
7. Lut t cáo năm 2018;
8. Lut X vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi năm 2020);
9. Lut t chc Chính ph năm 2015 (sửa đi b sung năm 2019);
10. Lut t chc chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi b sung năm
2019);
11. Lut Ban hành VBQPPL 2015 (sa đi b sung năm 2020)
Chúc Anh/ Chị học tập tốt!

Preview text:

Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người BÀI 2
QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
Xin chào anh, chị sinh viên!
Nội dung bài học tiếp theo của học phần Luật Hành chính Việt Nam, chúng ta sẽ
được tìm hiểu những vấn đề cơ bản của quy phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính. Bài học gồm 2 phần:
Phần 1. Quy phạm pháp luật hành chính;
Phần 2. Quan hệ pháp luật hành chính. Mục tiêu chung
Đây là những nội dung quan trọng cung cấp cho các anh chị những kiến thức chung
nhất quy phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính. Mục tiêu cụ thể
- Hiểu được về quy phạm pháp luật hành chính và các hình thức thực hiện quy
phạm pháp luật hành chính
- Hiểu được về quan hệ pháp luật hành chính, chủ thể của quan hệ pháp luật hành
chính và cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính.
Để nắm được những nội dung cơ bản của bài này anh/chị nhớ ôn tập bằng cách trả
lời câu hỏi ở cuối bài.
Chúc anh/chị đạt kết quả tốt!
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 1
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
1. Quy phạm pháp luật hành chính
1.1. Khái niệm và đặc điểm quy phạm pháp luật hành chính 1.1.1 Khái niệm
Trong quản lí hành chính nhà nước, các chủ thể quản lí nhà nước cần đến quy
phạm pháp luật để định ra các khuôn mẫu xử sự chung cho nhiều cá nhân, tổ chức (đối
tượng quản lí) trong những tình huống được dự liệu trước và có thể lặp lại nhiều lần trong
thực tiễn. Mặt khác, khi tiến hành các hoạt động quản lí hành chính nhà nước thì giữa chủ
thể và đối tượng quản lí đã phát sinh các quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh -
đó chính là các quan hệ quản lí hành chính nhà nước. Do đặc trưng của quan hệ quản lí
hành chính nhà nước là quan hệ “quyền lực - phục tùng”, quan hệ có sự bất bình đẳng về
ý chí giữa các bên tham gia nên việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại quan hệ này
có những điểm riêng biệt cả về phương pháp điều chỉnh và loại quy phạm điều chỉnh.
Những quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan hệ quản lí hành
chính nhà nước là các quy phạm pháp luật hành chính. Do đó, có thể hiểu: Quy phạm
pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính theo phương pháp
mệnh lệnh - đơn phương. 1.1.2 Đặc điểm
Là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật nên các quy phạm pháp luật hành
chính có đầy đủ các đặc điểm chung của quy phạm pháp luật như: Là quy tắc xử sự
chung thể hiện ý chí của nhà nước; được nhà nước bảo đảm thực hiện; là tiêu chuẩn để
xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người về tính hợp pháp.
Bên cạnh đó, quy phạm pháp luật hành chính có những đặc điểm sau đây:
- Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành trên cơ sở cụ thể
hoá, chi tiết hoá các quy định của hiến pháp, luật và pháp lệnh trong lĩnh vực quản lí
hành chính nhà nước. Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành
chính cho một số chủ thể quản lí hành chính nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quan
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 2
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước còn
phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản lí hành chính nhà nước.
- Các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lí khác nhau.
Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất
đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn.
Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp lí trên phạm vi cả nước và chung cho các
ngành, lĩnh vực quản lí nhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi
một ngành, một lĩnh vực quản lí hay trong một địa phương nhất định. Mặt khác cũng có
những quy phạm được áp dụng chung đối với cả cá nhân và tổ chức, có những quy phạm
chỉ được áp dụng đối với cá nhân hoặc chỉ được áp dụng đối với tổ chức.
- Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ sở các
nguyên tắc pháp lí nhất định.
Mặc dù các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lí
khác nhau nhưng do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp luật trong quảnlí hành chính nhà
nước mà các quy phạm nàỵ cần phải hợp thành một hệ thống. Để bảo đảm yêu cầu nêu
trên, các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có trách nhiệm
tuân thủ các nguyên tắc pháp lí thống nhất sau đây:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới ban
hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước cấp trên ban hành.
Thứu hai, các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước,
Chủ tịch nước, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân ban hành phải phù hợp với nội
dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp ban hành.
Thứ ba, các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm
pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp ban hành.
Thứ tư, các quy phạm pháp luật hành chính do người có thẩm quyền trong cơ quan
nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do
tập thể cơ quan đó ban hành.
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 3
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Thứ năm, bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hành
chính do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lí ban hành.
Thứ sáu, các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo đúng thủ tục
và dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định.
1.2 Phân loại quy phạm pháp luật hành chính
Căn cứ vào chủ thể ban hành, các quy phạm pháp luật hành chính có thể được phân
loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do Chủ tịch nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính do Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
Căn cứ vào cách thức ban hành, các quy phạm pháp luật hành chính có thể được
phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm pháp luật hành chính do một cơ quan hay người có thẩm quyền độc lập ban hành.
- Quy phạm pháp luật hành chính liên tịch.
Căn cứ vào mối quan hệ được điều chỉnh, các quy phạm pháp luật hành chính có
thể được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm nội dung là loại quy phạm được ban hành để quy định nội dungquyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước. Các quy phạm
này được ban hành chủ yếu để quy định về địa vị pháp lí hành chính của các chủ thể tham
gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước. Ví dụ: Quy định về thẩm quyền xử lí vi phạm
hành chính của chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp hay quy định về nghĩa vụ lao động công ích của công dân v.v..
- Quy phạm thủ tục là loại quy phạm được ban hành để quy định những thủ tục cần
thiết mà các bên tham gia quan hệ quản lí hành chính nhà nước phải tuân theo khi thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình do các quy phạm pháp luật nội dung quy định. Ví dụ:
Các quy phạm quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính v.v..
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 4
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Căn cứ vào hiệu lực pháp lí về thời gian, các quy phạm pháp luật hành chính có thể
được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm áp dụng lâu dài là loại quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng
không ghi thời hạn áp dụng. Các quy phạm này chỉ hết hiệu lực khi bị bãi bỏ, thay thế.
Các quy phạm này có số lượng rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh lâu
dài và ổn định các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà nước.
- Quy phạm áp dụng có thòi hạn là loại quy phạm được ban hành để điều chỉnh các
quan hệ quản lí hành chính nhà nước chỉ phát sinh trong những tình huống đặc biệt hay
chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định. Khi tình huống đó không còn hay hết thời
hạn đó thì quy phạm hết hiệu lực.
- Quy phạm tạm thời là loại quy phạm được ban hành để điều chỉnh một số loại
quan hệ quản lí hành chính nhà nước trên một phạm vi, trong khoảng thờigian nhất định
làm cơ sở tổng kết để ban hành chính thức nếu phù hợp.
Căn cứ vào hiệu lực pháp lí về không gian, các quy phạm pháp luật hành chính có
thể được phân loại thành các nhóm sau đây:
- Quy phạm có hiệu lực pháp lí trên phạm vi cả nước. Các quy phạm này do các cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành.
- Quy phạm có hiệu lực pháp lí trên phạm vi từng địa phương nhất định. Các quy
phạm này chủ yếu do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành để đáp ứng nhu cầu
điều chỉnh các quan hệ quản lí hành chính nhà nước phù hợp với đặc thù của địa phương
mình. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
ở trung ương có thể ban hành những quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lí
trên phạm vi từng địa phương nhất định để điều chỉnh riêng biệt một số loại quan hệ quản
lí hành chính nhà nước quan trọng có tính đặc thù ở địa phương đó.
Việc phân loại quy phạm pháp luật hành chính theo hiệu lực pháp lí về không gian
nêu trên chỉ mang tính tương đối. Vì nếu căn cứ vào hiệu lực pháp lí về đối tượng áp
dụng của các quy phạm thì chúng ta sẽ thấy có những quy phạm pháp luật hành chính của
Việt Nam được áp dụng đối với công dân và tổ chức của Việt Nam ở nước ngoài.
1.3 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 5
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân xử
sự phù hợp với các yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính khi tham gia vào quản lí
hành chính nhà nước. Tuỳ thuộc vào nội dung của quy phạm pháp luật hành chính được
thực hiện và tư cách tham gia vào quản lí hành chính nhà nước của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân mà việc thực hiện các quy phạm này có những hình thức cụ thể sau đây:
- Sử dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi được pháp luật hành
chính cho phép. Ví dụ: Công dân thực hiện quyền khiếu nại đối với các quyết định hành
chính, hành vi hành chính, thực hiện quyền tự do đi lại, cư trú v.v..
- Tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp
luật hành chính ngăn cấm. Ví dụ: Công dân không đi ngược đường một chiều, không tẩy
xoá chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu v.v..
- Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính
đòi hỏi họ phải thực hiện. Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ lao động công ích; thực hiện nghĩa
vụ đăng kí tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật, v.v..
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào quy phạm pháp luật
hành chính hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà nước.
Khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, các chủ thể quản lí hành chính nhà
nước đơn phương ban hành các quyết định hành chính hay thực hiện các hành vi hành
chính để tổ chức việc thực hiện pháp luật một cách trực tiếp đối với các đối tượng quản lí
thuộc quyền. Do đó, áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là sự kiện pháp lí trực tiếp
làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một số quan hệ pháp luật cụ thể.
Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu pháp lí
nhất định để bảo đảm hiệu lực quản lí của nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Những yêu cầu đó là:
+ Áp đụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung, mục đích của
quy phạm pháp luật được áp dụng.
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 6
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam phải được thực hiện bởi chủ
thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam phải được thực hiện đúng thủ
tục do pháp luật quy định.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện trong thời hạn, thời
hiệu do pháp luật quy định
+ Kết quả áp đụng quy phạm pháp luật hành chính phải trả lời công khai, chính
thức cho các đối tượng có liên quan và phải được thể hiện bằng văn bản (trừ trường hợp
pháp luật quy định khác).
+ Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được các đối tượng có
liên quan tôn trọng và được bảo đảm thực hiện trên thực tế.
2. Quan hệ pháp luật hành chính
2.1 Khái niệm và đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính 2.1.1 Khái niệm
Các quan hệ xã hội trong quản lý hành chính nhà nước được điều chỉnh bởi các quy
phạm pháp luật hành chính là các quan hệ pháp luật hành chính.
Trong khoa học pháp lí, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội phát sinh
45 trong quá trình quản lý hành chính nhà nƣớc, đƣợc điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với
nhau theo quy định của pháp luật hành chính. 2.1.2 Đặc điểm
Ngoài những đặc điểm chung như các quan hệ pháp luật khác, các quan hệ pháp
luật hành chính có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể
quản lý hay đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Sở dĩ các quan hệ pháp luật hành chính có đặc điểm này là vì: việc điều chỉnh pháp
lí đối với các quan hệ quản lý hành chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích bảo đảm
lợi ích của nhà nước mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong xã hội. Thẩm quyền quản lý hành chính của nhà nước chỉ có thể được thực
hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía các đối tượng quản lý. Mặt khác, nhiều quyền lợi
của đối tượng quản lý hành chính nhà nước chỉ có thể được bảo đảm nếu có sự hỗ trợ tích
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 7
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
cực của các chủ thể quản lý bằng những hành vi pháp lí cụ thể. Trong quản lý hành chính
nhà nước, hoạt động quản lý nhà nước được duy trì không đơn thuần từ phía các chủ thể
quản lý. Thẩm quyền của các chủ thể quản lý nhà nước chỉ có thể được triển khai khi có
sự phối hợp tham gia của đối tượng quản lý hành chính nhà nước. Vì thế, hoạt động quản
lý hành chính nhà nước chỉ thực sự được thực hiện khi chủ thể quản lý hành chính nhà
nước có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn mà pháp luật
quy định và đối tượng quản lý có ý thức thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình
để tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Như vậy, chỉ cần một bên chủ thể quản lý
hành chính nhà nước hoặc đối tượng quản lý có yêu cầu hợp pháp là đã có thể làm phát
sinh quan hệ pháp luật hành chính mà không cần phải có sự đồng ý hay thỏa thuận của phía bên kia.
- Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành
chính của các bên tham gia quan hệ đó.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức
hay cá nhân; có thể nhân danh nhà nước, vì lợi ích của nhà nước hoặc nhân danh chính
mình nhưng họ đều thực hiện các quyền và nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính
quy định. Việc quy định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ này là cần thiết đối với việc
xác lập và duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước.
- Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực nhà nước.
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính nhà nước được điều
chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Vì vậy, về tư cách và cơ cấu chủ thể của
quan hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với tư cách và cơ cấu chủ thể của quan hệ
quản lý hành chính nhà nước tương ứng. Nếu một bên tham gia quan hệ quản lý hành
chính nhà nước được sử dụng quyền lực nhà nước (chủ thể quản lý hành chính nhà nước)
thì chủ thể đó trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng sẽ được xác định là chủ thể
đặc biệt. Mặt khác, trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước, đối tượng quản lý là bên
chủ thể không được sử dụng quyền lực nhà nước và có nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng
quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương
ứng, các đối tượng này được xác định là chủ thể thường. Như vậy, các chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt và chủ thể thường. Trong
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 8
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
đó, chủ thể đặc biệt là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân danh và sử dụng quyền
lực nhà nước trongquan hệ ấy. Từ đó có thể nhận định quan hệ pháp luật hành chính
không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt.
- Quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam luôn gắn với hoạt động chấp hành - điều hành.
Các quan hệ xã hội phát sinh khi các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước chính là các
quan hệ quản lý hành chính nhà nước. Bản chất của những quan hệ này là quan hệ pháp
luật hành chính bởi chúng được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Việc
điều chỉnh đối với các quan hệ quản lý hành chính nhà nước vừa nhằm đảm bảo lợi ích
của nhà nước vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội
khi tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Đây chính là lý do để khẳng định quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính luôn gắn với
hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay còn gọi là hoạt động chấp hành - điều hành.
- Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được giải
quyết theo thủ tục hành chính.
Trong quan hệ pháp luật hành chính, khách thể hướng tới của các bên trong quan
hệ không phải là quyền và lợi ích của các bên mà là quyền và lợi ích của nhà nước, tập
thể dung hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Bởi vậy, trong hầu hết các quan
hệ pháp luật hành chính khi đối tượng quản lý cho rằng, quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm hại, không được bảo đảm, họ sẽ làm đơn khiếu nại nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại chính là biểu hiện của sự bất đồng về quyền và lợi
ích giữa hai chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính. Khiếu nại cũng là sự kiện pháp
lý làm phát sinh tranh chấp hành chính giữa chủ thể quản lý hành chính và đối tượng
quản lý. Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì đối tượng của khiếu nại là quyết
định hành chính hoặc hành vi hành chính. Hầu hết các trường hợp khiếu nại quyết định
hành chính, hành vi hành chính của cá nhân tổ chức được giải quyết theo thủ tục giải
quyết khiếu nại do Luật Khiếu nại quy định, thủ tục này là thủ tục hành chính. Tuy nhiên,
với mục đích hướng tới một xã hội công dân và nhằm đảm bảo tính khách quan trong giải
quyết tranh chấp hành chính, theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, một
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 9
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
số tranh chấp hành chính được giải quyết theo thủ tục hành chính kết hợp với thủ tục tố tụng hành chính.
- Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật hành
chính phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước.
Bản chất của quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính nhà nước
với việc hướng tới sự bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích công, do vậy một trong các bên vi
phạm đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước với tư cách đại diện cho quyền lợi công.
Nếu bên vi phạm là chủ thể quản lý trong quan hệ pháp luật hành chính thì việc gánh chịu
trách nhiệm pháp lý của chủ thể này trước Nhà nước là tất yếu bởi họ luôn thực hiện
thẩm quyền của mình nhân danh quyền lực nhà nước. Trong trường hợp bên vi phạm là
đối tượng quản lý - chủ thể tham gia vào quản lý thì họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp
lý trước chủ thể quản lý nhà nước, vì vi phạm của chủ thể thường là vi phạm quyền và
nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật hành chính.
2.2 Phân loại quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam có thể được phân loại dựa vào hai tiêu chí điển hình sau đây:
Dựa vào tính chất của mối liên hệ giữa hai bên chủ thể, quan hệ pháp luật hành
chính được chia thành hai loại quan hệ sau:
- Quan hệ pháp luật hành chính được hình thành giữa hai chủ thể có mối quan hệ lệ
thuộc với nhau về tổ chức. Đây là những quan hệ được hình thành trên cơ sở phân cấp
trong quản lý hành chính, trên cơ sở chỉ đạo điều hành trong quản lý hành chính nhà
nước hoặc trên cơ sở thanh tra, kiểm tra trong quản lý hành chính. Nhiều ý kiến cho rằng,
đây chính là các quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam theo chiều dọc giữa cấp trên với
cấp dưới, quan điểm khác lại cho rằng, đây là những quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam nội bộ trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Nhưng dù là cách gọi như
thế nào thì chúng ta cần phải hiểu đây là nhóm các quan hệ hành chính được hình thành
giữa hai chủ thể lệ thuộc nhau về tổ chức. Ví dụ: Giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Viện
Đại học Mở Hà Nội, giữa Chính phủ với bộ, cơ quan ngang bộ, giữa UBND tỉnh với các sở.
- Quan hệ pháp luật hành chính hình thành giữa hai chủ thể không có sự lệ thuộc
với nhau về tổ chức. Đây là nhóm quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam phát sinh ở
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 10
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
mọi lĩnh vực trong cuộc sống, phát sinh khi các cá nhân tổ chức thực hiện quyền và nghĩa
vụ pháp lý hành chính để tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Có thể gọi nhóm
quan hệ này là nhóm quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam liên hệ bởi giữa hai chủ thể
trong nhóm quan hệ này chỉ liên hệ với nhau hoặc lệ thuộc nhau về hoạt động. Ở loại
quan hệ này quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể được xác lập trên nguyên tắc “quyền lưc -
phục tùng” giữa một bên là Nhà nước với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Ví dụ:
Quan hệ giữa UBND quận với công dân về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký giấy phép
kinh doanh; quan hệ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Tư pháp trong việc kiểm tra
các vấn đề liên quan đến hoạt động đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ luật học.
Dựa vào quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ, quan hệ pháp luật hành
chính có thể được phân thành hai loại sau:
- Quan hệ pháp luật hành chính nội dung:
Đây là nhóm quan hệ được thiết lập để các bên chủ thể trong quan hệ trực tiếp thực
hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành
chính nhà nước. Tất nhiên, nhóm quan hệ này được các quy phạm pháp luật hành chính
nội dung điều chỉnh. Ví dụ: Quan hệ giữa UBND cấp xã với công dân A,B về việc
UBND cấp xã nơi thường trú của công dân A hoặc B cấp giấy chứng nhận kết hôn cho
công dân A và công dân B.
Quan hệ pháp luật hành chính thủ tục:
Đây là nhóm quan hệ được hình thành trong quá trình các chủ thể thực hiện các thủ
tục hành chính cần thiết cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật nội
dung. Nhóm quan hệ này sẽ được các quy phạm hành chính thủ tục điều chỉnh. Tóm lại,
quan hệ pháp luật hành chính thủ tục là cơ sở để thực hiện quan hệ pháp luật hành chính
nội dung. Ví dụ: quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan đơn vị với công chức A về việc xác
nhận tại đơn xin đăng ký kết hôn của A.
2.3 Chủ thể, khách thể quan hệ pháp luật hành chính
2.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính là các bên trong quan hệ pháp luật hành
chính Việt Nam, bao gồm: các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực chủ thể, mang
quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Như vậy, để trở
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 11
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
thành chủ thể quan hệ pháp luật hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có năng lực
chủ thể quan hệ pháp luật hành chính.
Năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính là khả năng pháp lý của cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên, năng lực chủ thể
quan hệ pháp luật hành chính của cơ quan, tổ chức hay cá nhân sẽ được xem xét và bị chi
phối bởi các yếu tố khác nhau.
- Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước.
Ngay từ khi được thành lập các cơ quan nhà nước đã được pháp luật quy định cụ
thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Bởi vậy, kể từ thời điểm này các cơ quan nhà
nước có đầy đủ khả năng pháp lý để tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính Việt
Nam. Như vậy, năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam của cơ quan nhà
nước phát sinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó giải thể.
- Đối với chủ thể là cán bộ, công chức.
Với tư cách là cán bộ, công chức, năng lực chủ thể của đối tượng này hình thành
khi cán bộ, công chức được Nhà nước giao đảm nhận một công vụ, nhiệm vu, chức vụ,
chức danh cụ thể trong bộ máy nhà nước và chấm dứt khi không còn đảm nhận công vụ,
nhiệm vụ, chức vụ đó nữa.
- Đối với chủ thể là tổ chức xã hội, tổ chức khác (gọi chung là tổ chức).
Năng lực chủ thể quan hệ pháp luật hành chính của tổ chức phát sinh khi các tổ
chức được thành lập một cách hợp pháp và pháp luật hành chính Việt Nam quy định
quyền và nghĩa vụ pháp lý cho tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành
chính nhà nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức đó bị giải thể.
- Đối với chủ thể là cá nhân.
Năng lực chủ thể của cá nhân được xác lập bởi năng lực pháp luật hành chính và
năng lực hành vi hành chính.
Năng lực pháp luật hành chính của cá nhân là khả năng hưởng các quyền và nghĩa
vụ pháp lý do pháp luật hành chính quy định. Năng lực pháp luật hành chính của cá nhân
thể hiện địa vị pháp lý của cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước. Thông thường
năng lực pháp luật hành chính của cá nhân phát sinh khi cá nhân đó sinh ra và được xác
định là công dân và chấm dứt khi cá nhân đó chết.
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 12
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng bằng chính hành vi của mình thực hiện
các quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật hành chính quy định trong thực tế và được
Nhà nước thừa nhận. Chúng ta có thể xem xét năng lực hành vi hành chính của cá nhân ở
cả hai khía cạnh: Độ tuổi và năng lực nhận thức hành vi của cá nhân. Tùy từng quan hệ
pháp luật hành chính mà năng lực hành vi hành chính của cá nhân được xác định ở độ
tuổi khác nhau theo quy định của pháp luật hành chính Việt Nam.
2.3.2 Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính
Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội sẽ
có khách thể khác nhau là trật tự quản lý ở mỗi lĩnh vực cụ thể. Ví dụ: Quan hệ pháp luật
hành chính giữa UBND và cá nhân, tổ chức về việc cấp và thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính này là trật tự quản lý
hành chính nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai.
2.4 Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Dưới góc độ lý luận cơ sở để làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp
luật hành chính bao gồm 3 yếu tố: Quy phạm pháp luật hành chính, năng lực chủ thể của
cơ quan, cá nhân, tổ chức, sự kiện pháp lý hành chính. Tong đó, quy phạm pháp luật hành
chính, năng lực chủ thể của cơ quan, cá nhân, tổ chức là điều kiện chung cho việc phát
sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính.
Sự kiện pháp lý hành chính là sự kiện thực tế phù hợp với sự dự liệu tại các quy
phạm pháp luật hành chính \. Như vậy, sự kiện pháp lý hành chính là cơ sở thực tế để làm
phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Sự kiện pháp
lý hành chính có thể là hành vi (hành động hoặc không hành động) và sự biến.
- Hành vi là sự kiện pháp lý hành chính có tính ý chí. Đây là sự kiện mà khi xảy ra
trên thực tế gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành
chính cụ thể. Hành vi được chia thành hành vi hợp pháp và hành vi không hợp pháp.
Hành vi hợp pháp là những hành vi của cá nhân tổ chức phù hợp và không trái với quy
phạm pháp luật hành chính, đó có thể là yêu cầu, sáng kiến của cá nhân, tổ chức hay có
thể là hành động công vụ của cán bộ, công chức. Hành vi bất hợp pháp là những hành vi
không phù hợp, trái với quy phạm pháp luật hành chính như: hành vi vi phạm pháp luật
hành chính, hành vi hành chính trái quy định của pháp luật… Những hành vi bất hợp
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 13
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
pháp dẫn đến sự xuất hiện các quan hệ pháp luật về bảo vệ, quan hệ pháp luật về xử lý kỷ
luật hoặc quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Ví dụ: Hành vi không đội mũ
bảo hiểm khi đi mô tô, hành vi tự ý bỏ việc của cán bộ công chức.
- Sự biến là sự kiện pháp lý hành chính không mang tính ý chí. Đó là những sự kiện
thực tế xảy ra theo quy luật khách quan không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự
biến chỉ được coi là sự kiện pháp lý hành chính khi sự biến đó đã được dự liệu tại quy
phạm pháp luật hành chính.
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 14
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân biệt các hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính Việt Nam.
2. Phân tích các yêu cầu đối với hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
Việt Nam. Lấy ít nhất 03 ví dụ minh họa.
3. Thông qua ví dụ cụ thể để phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam.
4. Phân tích điều kiên để làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam.
5. Phân tích điều kiên để một cá nhân trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành
chính Việt Nam. Cho ví dụ minh họa
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 15
Trường Đại học Mở Hà Nội Mở cơ hội học tập cho mọi người
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Mở Hà Nội, năm 2020; 2.
Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2019 3. Hiến pháp 2013; 4.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); 5.
Luật viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); 6.
Luật khiếu nại năm 2011; 7. Luật tố cáo năm 2018; 8.
Luật Xử lí vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi năm 2020); 9.
Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019); 10.
Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019); 11.
Luật Ban hành VBQPPL 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2020)
Chúc Anh/ Chị học tập tốt!
Luật Hành chính Việt Nam – Bài 2 Trang 16