
22
MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA N
VỀ CH T L NG THÔNG TIN TH NG K ƯỢ
ThS. Hà Mạnh Hùng
*
Tóm tắt:
Nghiên cứu về mức độ hài lòng của người sử dụng về chất lượng dịch vụ đã thu hút
nhiều sự quan tâm từ các học giả các nhà nghiên cứu khoa học. Các hình đánh giá sự
hài lòng không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng mà còn tiến xa hơn nữa trong việc đánh
giá mối quan hệ giữa chất lượng với sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ.
Do chất lượng tiền đề cũng nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng của
khách hàng, làm cho khách hàng hài lòng, chính vậy việc đánh giá sự hài lòng của khách
hàng thường liên quan chặt chẽ đến việc đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Bài viết
này chúng tôi tập trung nghiên cứu và giới thiệu 5 hình tiêu biểu đánh giá chất lượng dịch
vụ, phân tích đặc điểm các hình qua đó đưa ra các căn cứ đề xuất hình đánh giá
mức độ hài lòng của người sử dụng về chất lượng thông tin thống kê ở Việt Nam, mối quan h
giữa các thành phần của mô hình.
Từ khóa: Chất lượng thống kê, đánh giá chất lượng thống kê, mức độ hài lòng, mức độ
hài lòng chất lượng thống kê, hình mức độ hài lòng, hình mức độ hài lòng chất lượng
thống kê.
1. Mô hình “Kỳ vọng – C m nh ận”
hình “Kỳ vọng C m nh ận” của
Oliver để ứu đánh giá về nghiên c sự hài lòng
của khách hàng, Oliver (1980) đã đưa ra
hình “Kỳ ận”, trong đó đề vọng - Cảm nh cập
đế n 2 quá trình nhỏ tác động độ ập đếc l n s
hài lòng c v ng v ủa khách hàng. Đó kỳ
dịch v c khi mua c m nh n th c t ụ trướ ế
về d ch v sau khi tr i nghi m (d n theo
Lovelock, L., 2001). Theo hình này, trước
khi s d ng d ch vụ, khách hàng đã hình
thành trong suy nghĩ của mình các kỳ vọng
* o, b n Giám đốc Trung tâm Đào tạ ồi dưỡng và tư vấ
thống kê
về các y u t c u thành nên ch ng d ch ế ất lượ
vụ nhà cung c p có th mang l i cho h .
Sau đó, việc mua sử dụng dịch vụ sẽ hình
thành nên c m nh n th c t c a khách hàng ế
về hi c s c a d ch v h s ệu năng thự
dụng. B ng s so sánh gi a nh ng h k
vọng trước khi sử dụng dịch vvới những
h th c t nh c sau khi s d ng, ế ận đượ
khách hàng s s xác nh n so v i k
vọng. 3 kh x y ra v i hình ả năng sẽ
này: (1) N u c m nh n th c t hoàn toàn ế ế
trùng v i k v ng thì k v ng s c xác ẽ đượ
nhận khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng;
(2) N u c m nh n th c t l v ng ế ế ớn hơn kỳ
thì s xác nh n s mang tính tích c c, t c
23
khách hàng s r c l i, ất hài lòng; (3) Ngượ
nếu cảm nhận thực tế nh vỏ hơn kỳ ọng thì
sự xác nhận sẽ mang tính tiêu cực, tức
khách hàng s không hài lòng (th t v ọng).
Hình 1: Mô hình Kỳ vọng – Cảm nhận
(nguồn: Lovelock, L., 2001)
2. hình ch s hài lòng khách
hàng c a M
Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng
(Customer Satisfaction Index CSI), do
Fornell C (1992) đề xướng, ngày nay đã được
rất nhiều ớc sử dụng để đo lường mức độ
hài lòng của khách hàng. Chỉ số (barometer)
đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đời tại
Thụy Điển (Swedish Customer Satisfaction
Barometer – SCSB) vào năm 1989 nhằm thiết
lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với
việc mua và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ
nội địa. Sau đó chỉ số này đã được phát triển
và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước, điền hình
Mỹ (American Customer Satisfaction
Index – ACSI) châu Âu (European
Customer Satisfaction Index ECSI) (Phan
Thăng, 2012: 84). Điểm cốt lõi của hình
CSI chính sự hài lòng khách hàng, được
định nghĩa như một sự đánh giá toàn diện
về việc sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động
sau bán hàng của doanh nghiệp (DN). Chỉ số
hài hài lòng của khách hàng bao gồm c
nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành
từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc
trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Xung
quanh biến số sự hài lòng này một hệ
thống các mối quan hệ nhân quả xuất phát
từ những biến số ban đầu các biến số kết
quả. Các biến số ban đầu ảnh hưởng đến sự
hài lòng của khách hàng bao gồm: smong
đợi (expectations) của khách ng về sản
phẩm, dịch vụ; hình ảnh (image) liên quan
đến tên tuổi thương hiệu của DN sản
phẩm, dịch vụ; chất lượng cảm nhận
(perceived quality), bao gồm 2 loại: chất
lượng được cảm nhận về bản thân sản phẩm
(hữu hình) chất lượng được cảm nhận về
các dịch vụ liên quan (vô hình) như bảo
hành, dịch vụ hậu mãi, các điều kiện trưng
bày sản phẩm, tài liệu hướng dẫn sử dụng,…;
giá trị cảm nhận (perceived value) là sự đánh
giá, cảm nhận của khách hàng về chất lượng
P<E P=E P>E
Xác nh n tiêu c c Xác nh n tích c c
Không hài lòng Hài lòng R t hài lòng
Xác nh n
Cảm nh n th c
tế (P)
Kỳ v ng (E)
Quá trình so sánh, đánh giá

24
sản phẩm, dịch vụ so với giá phải trả.
Các biến số kết quả của sự hài lòng sẽ
sự trung thành (customer loyalty) hay sự
than phiền của khách hàng (customer
complaints). Trong hình chỉ số hài lòng
của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác
động bởi chất lượng cảm nhận sự mong
đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của
khách hàng có tác động trực tiếp đến chất
lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi
càng cao, thể tiêu chuẩn về chất lượng
cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm
càng cao hoặc ngược lại. Do vậy, yêu cầu về
chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp
cho khách hàng cần phải đảm bảo được
thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ.
Hình 2: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer Satisfaction
Index ACSI)
(Nguồn: Fornell C, 1992)
S hài ng ca khách hàng đưc
to thành trên sở cht ng cảm
nhn, s mong đợi và giá tr cảm nhận,
nếu cht lưng và giá tr cm nhn cao
hơn sự mong đi s to nên lòng trung
thành đi vi khách hàng, trưng hp
ngưc li, đy là s phàn nàn hay sthan
phin v sn phm mà h tiêu ng.
3. hình ch s hài lòng khách
hàng các qu c gia EU
Mô hình ch s hài lòng khách hàng
châu Âu (ECSI) có mt s khác bit nht
đnh. So vi ACSI, hình nh ca sn
phm, thương hiu có tác đng trc tiếp
đến s mong đi ca khách ng. Khi
đó, s hài lòng ca khách hàng là s tác
đng tng a ca 4 nhân t hình nh,
giá tr cảm nhận, cht ng cm nhn
v c sn phm hữu hình và vô hình.
Thông thưng, ch s ACSI thưng áp
dng cho lĩnh vc công còn ch s ECSI
thưng ng dụng đo lưng c sn
phm, các ngành.
Sự than phi n
Sự trung thành
Giá
trị
cảm
nhận
Sự hài
lòng
của
khách
hàng
Sự mong đợi
Chất lượng
cảm nh n
25
Hình 3: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer
Satisfaction Index ECSI)
(Nguồn: John A. Dotchin, John S. Oakland, 1994)
4. Mô hình của Grönroos (1984)
hình của Grönroos (1984) chỉ ra
rằng nhận thức của khách hàng về chất
lượng dịch vụ dựa trên 3 yếu tố chính: chất
lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình
ảnh của tổ chức, doanh nghiệp:
- Chất lượng kỹ thuật liên quan đến
những khách hàng nhận được (nhận được
cái gì, “What”).
- Chất lượng chức năng liên quan đến
việc khách hàng nhận được sản phẩm, dịch
vụ như thế nào. thể hiện quá trình thực
hiện dịch vụ của doanh nghiệp, phản ánh
việc dịch vụ được cung cấp như thế nào
(nhận như thế nào, “How”).
- Hình ảnh liên quan đến danh tiếng
của tổ chức, doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp tạo được hình ảnh tốt trong lòng
khách hàng thì họ dễ dàng bỏ qua những
thiếu sót xảy ra trong quá trình sử dụng dịch
vụ. Grönroos cũng chỉ ra rằng hình ảnh
doanh nghiệp tài sản giá của doanh
nghiệp tác động tích cực đến đánh giá
của khách hàng về chất lượng dịch vụ, giá trị
sản phẩm và sự hài lòng của họ.
Dựa trên các yếu tố này, sẽ hình thành
nên cảm nhận của khách hàng về chất lượng
dịch vụ. được đo bằng mối liên hệ giữa
cảm nhận thực tế về dịch vụ với những mong
đợi của họ về dịch vụ.
Hình nh
Sự mong đợi
Chất lượng cảm nh n v
sản ph m h u hình
Chất lượng cảm nh n v
sản ph m vô hình
Giá
trị
cảm
nhận
Sự hài
lòng
của
khách
hàng
Sự
trung
thành

26
Hình 4: Mô hình c a Grönroos
(Nguồn: Gro¨nroos, C., 1984)
Sự kỳ vọng hay sự mong đợi của khách
hàng được hình thành từ 4 nguồn: thông tin
truyền miệng, nhu cầu nhân, kinh nghiệm
đã trải qua quảng cáo. Trong 4 nguồn
trên chỉ nguồn thứ nằm trong tầm
kiểm soát của sở cung cấp dịch vụ. Sự
cảm nhận khách hàng về chất lượng được
chia thành 3 mức độ cơ bản:
- Chất lượng tốt: Dịch vụ cảm nhận
vượt quá sự trông đợi của khách hàng.
- Chất lượng thoả mãn: Dịch vụ cảm
nhận phù hợp với sự trông đợi của khách.
- Chất lượng tồi: Dịch vụ cảm nhận
dưới mức trông đợi của khách hàng.
5. hình ti trung gian ền đề
của Dabholkar
Đây hình thể được xem
toàn diện về chất lượng dịch vụ. Bên cạnh
việc cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về các
khái niệm chất lượng dịch vụ, hình xem
xét các yếu tố tiền đề, trung gian kết quả
của chất lượng dịch vụ như các yếu tố được
xem tiền đề giúp chất lượng dịch vụ tốt
hơn mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ
với sự hài lòng của khách hàng ý định
hành vi của khách hàng.
Hình 5: Mô hình tiền đề và trung gian
(Nguồn: Dabholkar và cộng sự, 2000)
Mô hình ti chền đề ất lượng dịch vụ
Mô hình trung gian s hài lòng c a khách hàng
Sự tin c y
Sự quan tâm t i cá
nhân
Sự tho i mái
Điểm đặc trưng
Chất
lượng
dịch
vụ
Sự hài lòng
của khách
hàng
Ý định
hành vi
Dịch vụ mong đợi Dịch vụ cảm nhận
Chất lượng kỹ
thuật
(cái gì?)
Hình ảnh
Truyền mi ng
Nhu c u cá nhân
Kinh nghi m
Truyền thông
Marketing
Cảm nh n v
ch
t lượng dịch vụ
Chất lượng
chức năng
(th
ế
nào?)
27
6. Căn cứ ất hình đánh đề xu
giá m hài lòng c i s d ng ức độ ủa ngườ
về chất lượng thông tin th ng kê
Trong c hình đánh giá sự hài
lòng của khách hàng về chất lượng sản
phẩm, dịch vụ đã được trình bày trên, điều
dễ nhận thấy các yếu tố tiền đề giúp chất
lượng dịch vụ tốt hơn mối quan hệ giữa
chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách
hàng ý định hành vi của khách hàng được
thỏa mãn hơn. Các hình “Kỳ vọng Cảm -
nhận” của Oliver, hình ACSI của Mỹ,
hình ECSI của Châu Âu hay mô hình “Tiền đề
Trung gian” của Dabholkar đều thống
nhất một điểm các yếu tố tiền đề của
chất lượng dịch vụ sẽ dẫn đến sự hài lòng
hay không hài lòng của khách hàng. Áp dụng
trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm đầu
ra của thông tin thống (TTTK), người sử
dụng TTTK, cụ thể đây các giảng viên,
nhà nghiên cứu, quan quản nhà nước,
hoạch định chính sách,… sẽ sự so sánh
đánh giá giữa những cái họ kỳ vọng,
mong muốn với thực tế TTTK được sản
xuất cung cấp, để từ đó được cảm
nhận về chất lượng của TTTK. Nếu cảm nhận
thực tế về chất lượng trùng hoặc lớn hơn
kỳ vọng thì người sử dụng (NSD) sẽ hài lòng.
Nếu cảm nhận thực tế về chất lượng mà nhỏ
hơn kỳ vọng thì NSD sẽ không hài lòng.
Trong các mô hình của của Oliver hay các mô
hình CSI, sự hài lòng còn được đặt trong mối
liên kết, tác động với một số khái niệm khác
liên quan như hình ảnh, giá cả hay sự
phàn nàn, sự trung thành. Tuy nhiên, những
vấn đề này không nằm trong phạm vi nghiên
cứu của bài viết vì những lý do sau:
- Hình ảnh thường gắn với một nhà
cung cấp cụ thể hay một chương trình thống
kê cụ thể. Hay nói cách khác thương hiệu của
từng đơn vị sản xuất TTTK, của chương trình
điều tra thống thể có tác động, ảnh
hưởng đến giá trị cảm nhận của NSD về chất
lượng của TTTK cũng như sự hài lòng của
họ. Nhưng để đánh giá sự hài lòng nói chung
về chất lượng TTTK từ nhiều đơn vị nhiều
chỉ tiêu thống kê khác nhau thì vấn đề sẽ trở
nên rất phức tạp khó định lượng do đối
tượng để đo lường quá đa dạng.
- Người sử dụng TTTK người sử
dụng sản phẩm đầu ra của hoạt động thống
không phải người trực tiếp trả tiền
cho quá trình sản xuất TTTK. Chính vậy,
việc đưa yếu tố giá cả vào trong hình
đánh giá sự hài lòng của NSD về chất lượng
TTTK là chưa hợp lý.
- Thêm vào đó, do đặc thù của thống
kê ở Việt Nam là tính công ích phục vụ nhiệm
vụ chính trị hội Đảng Nhà nước -
giao phó, nên điều này khiến cho việc đưa
yếu tố giá cả trong trong hình đánh giá
mức độ hài lòng của NSD về chất lượng TTTK
sẽ có thể không phản ánh đúng bản chất vấn
đề.
- Cũng tương tự như vậy với sự phàn
nàn hay sự trung thành. Khi sử dụng dịch vụ
thông thường, nếu không hài lòng, khách
hàng thể phàn nàn, than phiền. Nếu hài
lòng, họ thể tiếp tục sử dụng dịch vụ. Tuy
nhiên, sẽ rất khó để đánh giá sự trung thành
hay sự phàn nàn đối với chất lượng TTTK nói
chung NSD thể ưu tiên lựa chọn TTTK
của một nguồn nào đó họ cảm thấy hài
lòng nhưng thực tế Việt Nam trong Luật
Thống 2013 đã quy định nên NSD không
thể sự lựa chọn nào khác. Họ chỉ thể
đánh giá hài lòng hay không hài lòng về chất
lượng TTTK của Việt Nam, nhưng không thể
không sử dụng TTTK này.
Chính vì vậy, trong mô hình nghiên cứu

28
đề xuất của bài viết này, sẽ chỉ tập trung vào
mối quan hệ giữa chất lượng với sự hài lòng
bqua các nhân tố tác động khác đến sự
hài lòng như hình ảnh, giá cả hay các mối
liên kết giữa sự hài lòng với sự trung thành
hay sự than phiền của NSD.
Mặt khác, thông qua các cuộc trao đổi
với một số NSD, một nhân tố khả năng
ảnh hưởng đến sự hài lòng của NSD về TTTK
đó sự hiểu biết về nghiệp vụ thống
trong khi sử dụng TTTK, nếu những người có
chuyên môn nghiệp vụ về thống kê thì khi sử
dụng TTTK sẽ hài lòng hơn. Chính vậy, mà
nhân tố này cũng được đưa vào hình để
nghiên cứu.
Trên sở phân tích các ưu nhược
điểm phù hợp với đối tượng phạm vi
nghiên cứu như đã nói trên nghiên cứu
các mô hình sau::
- Dựa vào hình “Kỳ vọng-Cảm
nhận” của Oliver hình CSI: hình thành
các yếu tố sự mong đợi (kỳ vọng), cảm nhận
thực tế chất lượng cảm nhận cũng như
mối quan hệ giữa các yếu tố này;
- Dựa vào hình chỉ số hài lòng CSI:
hình thành mối quan hệ giữa Chất lượng cảm
nhận với Sự hài lòng;
- Dựa vào các ý kiến thực tế của người
sử dụng TTTK: hình thành yếu tố sự hiểu biết
về nghiệp vụ thống kê.
tác giả đề xuất khung hình nghiên
cứu cụ thể Hình 6.
Hình 6: Khung mô hình đánh giá sự hài lòng của người sử dụng về chất lượng TTTK tác giả
đề xuất
(Nguồn: Đề xuất của tác giả)
7. M i quan h gi a các thành
phần của mô hình
Mối quan hệ giữa các thành phần trong
khung mô hình đánh giá sự hài lòng của
người sử dụng về chất lượng TTTK tác giả đề
xuất được giải thích như sau:
a) Mối quan hệ giữa Kỳ vọng, cảm
nhận, giá trị cảm nhận với sự hài lòng. Nếu
chất lượng TTTK được đánh giá tốt thì sẽ
tác động tích cực đến sự hài lòng của
người sử dụng TTTK đó ngược lại, chất
lượng thấp sẽ dẫn đến sự hài lòng thấp. Hay
nói cách khác chất lượng TTTK có mối quan
hệ cùng chiều với sự hài lòng của NSD.
b) Mối quan hệ giữa sự hiểu biết về
nghiệp vụ thống với sự hài lòng. Từ thực
tế NSD đã cho thấy, nếu người sử dụng
TTTK mà sự hiểu biết nhất định về nghiệp
Giá
trị
cảm
nhậ
Sự
hài
lòng
của
NSD
về
chất
ợng
Kỳ vọng
Cảm nh n
thực tế
sự hi u bi t ế
về nghi p v
thống kê
29
vụ thống thì việc sử dụng các TTTK vào
mục đích công việc cũng như mục đích
nghiên cứu thể tốt hơn hiệu quả hơn.
Khi đó, NSD sẽ hài lòng hơn về chất lượng
TTTK được quan Thống cung cấp
phổ biến. Ngược lại, nếu người sử dụng TTTK
chưa hiểu biết được bản về TTTK,
chưa hiểu được phân tổ, phân ngành, chỉ tiêu
phương pháp tính, số liệu thống ước
tính, số liệu thống bsố liệu thống
kê chính thức thì người đó sẽ không hài lòng.
Chính vậy nghiên cứu này hướng tới
giả thuyết về mối quan hệ không cùng chiều
giữa sự hiểu biết về nghiệp vụ thống với
sự hài lòng của NSD về chất lượng TTTK.
Tóm lại
: T các hình chủ yếu
đánh gvề shài ng i trên và đề xuất
hình đánh giá mức đ i ng chất
lượng TTTK cho Việt Nam, thrút ra một
số nhận xét như sau: Chất lượng sản phẩm,
dịch v i chung chất lượng TTTK nói
riêng ảnh hưởng quan trọng tác
động cùng chiều đến shài ng của khách
hàng người sử dụng. Một sản phẩm, dịch
vụ chất lượng tốt sẽ dẫn tới shài lòng
của khách hàng người sử dụng. S đa
dạng của các hình chất lượng dịch vụ
phản ánh các cách tiếp cận khác nhau về
đánh giá chất lượng dịch vụ chất lượng
sản phẩm TTTK; Các hình hầu hết đều
hướng tới mục đích chung là giúp các n
quản i nhìn toàn diện hơn v chất
lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm và chất
lượng TTTK nhạy bén hơn trong việc xác
định các vấn đề chất lượng, từ đó kế
hoạch tốt n cho hoạt động phân phối
nguồn lực cũng n triển khai các chương
trình cải tiến chất lượng sản phẩm, chất
lượng dịch vụ và chất lượng TTTK trong
toàn ngành.
Tài li u tham kh o:
[1.] Dabholkar, P. A., Shepherd, C. D.,
Thorpe, D. I., “A comprehensive framework
for service quality: An investigation of critical
conceptual and measurement issues through
a longitudinal study” , Journal of Retailing, 76
(2) (2000), 131-9;
[2.] Gro¨nroos, C., “A service quality
model and its marketing implications”
,
European Journal of Marketing, 18 (4)
(1984), 36-44;
[3.] HUNG Ha Manh, “Method of
assessing and measuring the statistical
quality criteria of Vietnam”,
CONFERENCE
ESM-AEF 2019 Econometrics and Statistical
Methods -Applications in Economics and
Finance, (2019) p:617-625;
[4.] ThS. M nh Hùng,
“Đề xu t h
thống đánh giá chất lượng số liệu thống
phù h p v i Vi ệt Nam”, T p chí Con s s
kiện, số 1+2/2015, tr:59-61;
[5.] Malhotra, N. K., Ulgado, F. M.,
Agarwal, J., Shainesh G., Wu, L.,
“Dimensions of service quality in developed
and developed economies: Multi-country
cross-cultural comparisons” , International
Marketing Review, 22 (3) (2005), 256-278;
[6.] Brogowicz, A. A., Delene, L. M.,
Lyth, D. M., “A synthesised service quality
model with managerial implications”,
International Journal of Service Industry
Management, 1 (1) (1990), 27-44;
[7.] María Victoria García Olea, Enrique
Morán Aláez, “quality assessment of statistics
in Eustat” European Conference on Quality in
Official Statistics (Q2016), Spain, Session 7,
page:55;
[8.] Jonathan G. Geiger,
“Data Quality
Management The Most Critical Initiative You
Can Implement” , Sugi 29, Paper 098-29,
American, page: 14.

Preview text:

MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA N
VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN THỐNG K ThS. Hà Mạnh Hùng * Tóm tắt:
Nghiên cứu về mức độ hài lòng của người sử dụng về chất lượng dịch vụ đã thu hút
nhiều sự quan tâm từ các học giả và các nhà nghiên cứu khoa học. Các mô hình đánh giá sự
hài lòng không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng mà còn tiến xa hơn nữa trong việc đánh
giá mối quan hệ giữa chất lượng với sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ.
Do chất lượng là tiền đề và cũng là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng của
khách hàng, làm cho khách hàng hài lòng, chính vì vậy việc đánh giá sự hài lòng của khách
hàng thường có liên quan chặt chẽ đến việc đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Bài viết
này chúng tôi tập trung nghiên cứu và giới thiệu 5 mô hình tiêu biểu đánh giá chất lượng dịch
vụ, phân tích đặc điểm các mô hình qua đó đưa ra các căn cứ và đề xuất mô hình đánh giá
mức độ hài lòng của người sử dụng về chất lượng thông tin thống kê ở Việt Nam, mối quan hệ
giữa các thành phần của mô hình.
Từ khóa: Chất lượng thống kê, đánh giá chất lượng thống kê, mức độ hài lòng, mức độ
hài lòng chất lượng thống kê, mô hình mức độ hài lòng, mô hình mức độ hài lòng chất lượng thống kê.
1. Mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận”
về các yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch
vụ mà nhà cung cấp có thể mang lại cho họ.
Mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận” của
Sau đó, việc mua và sử dụng dịch vụ sẽ hình
Oliver để nghiên cứu đánh giá về sự hài lòng
thành nên cảm nhận thực tế của khách hàng
của khách hàng, Oliver (1980) đã đưa ra mô
về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ sử
hình “Kỳ vọng - Cảm nhận”, trong đó đề cập
dụng. Bằng sự so sánh giữa những gì họ kỳ
đến 2 quá trình nhỏ tác động độc lập đến sự
vọng trước khi sử dụng dịch vụ với những gì
hài lòng của khách hàng. Đó là kỳ vọng về
mà họ thực tế nhận được sau khi sử dụng,
dịch vụ trước khi mua và cảm nhận thực tế
khách hàng sẽ có sự xác nhận so với kỳ
về dịch vụ sau khi trải nghiệm (dẫn theo
vọng. Có 3 khả năng sẽ xảy ra với mô hình
Lovelock, L., 2001). Theo mô hình này, trước
này: (1) Nếu cảm nhận thực tế hoàn toàn
khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình
trùng với kỳ vọng thì kỳ vọng sẽ được xác
thành trong suy nghĩ của mình các kỳ vọng
nhận và khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng;
* Giám đốc Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng và tư vấn
(2) Nếu cảm nhận thực tế lớn hơn kỳ vọng thống kê
thì sự xác nhận sẽ mang tính tích cực, tức là 22
khách hàng sẽ rất hài lòng; (3) Ngược lại,
sự xác nhận sẽ mang tính tiêu cực, tức là
nếu cảm nhận thực tế nhỏ hơn kỳ vọng thì
khách hàng sẽ không hài lòng (thất vọng).
Hình 1: Mô hình Kỳ vọng – Cảm nhận Cảm nhận thực Kỳ vọng (E) tế (P)
Quá trình so sánh, đánh giá PP=E P>E Xác nhận tiêu cực Xác nhận Xác nhận tích cực Không hài lòng Hài lòng Rất hài lòng (nguồn: Lovelock, L., 2001)
2. Mô hình chỉ số hài lòng khách
sau bán hàng của doanh nghiệp (DN). Chỉ số hàng của Mỹ
hài hài lòng của khách hàng bao gồm các
nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành
Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng
từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc
(Customer Satisfaction Index– CSI), do
trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Xung
Fornell C (1992) đề xướng, ngày nay đã được
quanh biến số sự hài lòng này là một hệ
rất nhiều nước sử dụng để đo lường mức độ
thống các mối quan hệ nhân quả xuất phát
hài lòng của khách hàng. Chỉ số (barometer)
từ những biến số ban đầu và các biến số kết
đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đời tại
quả. Các biến số ban đầu ảnh hưởng đến sự
Thụy Điển (Swedish Customer Satisfaction
hài lòng của khách hàng bao gồm: sự mong
Barometer – SCSB) vào năm 1989 nhằm thiết
đợi (expectations) của khách hàng về sản
lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với
phẩm, dịch vụ; hình ảnh (image) liên quan
việc mua và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ
đến tên tuổi và thương hiệu của DN và sản
nội địa. Sau đó chỉ số này đã được phát triển
phẩm, dịch vụ; chất lượng cảm nhận
và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước, điền hình
(perceived quality), bao gồm 2 loại: chất
là ở Mỹ (American Customer Satisfaction
lượng được cảm nhận về bản thân sản phẩm
Index – ACSI) và ở châu Âu (European
(hữu hình) và chất lượng được cảm nhận về
Customer Satisfaction Index – ECSI) (Phan
các dịch vụ có liên quan (vô hình) như bảo
Thăng, 2012: 84). Điểm cốt lõi của mô hình
hành, dịch vụ hậu mãi, các điều kiện trưng
CSI chính là sự hài lòng khách hàng, được
bày sản phẩm, tài liệu hướng dẫn sử dụng,…;
định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện
giá trị cảm nhận (perceived value) là sự đánh
về việc sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động
giá, cảm nhận của khách hàng về chất lượng 23
sản phẩm, dịch vụ so với giá phải trả.
khách hàng có tác động trực tiếp đến chất
lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi
Các biến số kết quả của sự hài lòng sẽ
càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng
là sự trung thành (customer loyalty) hay sự
cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm
than phiền của khách hàng (customer
càng cao hoặc ngược lại. Do vậy, yêu cầu về
complaints). Trong mô hình chỉ số hài lòng
chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp
của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác
cho khách hàng cần phải đảm bảo và được
động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong
thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ.
đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của
Hình 2: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer Satisfaction Index – ACSI) Sự mong đợi Sự than phiền Sự hài Giá lòng trị của cảm khách nhận hàng Chất lượng Sự trung thành cảm nhận (Nguồn: Fornell C, 1992)
châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất
Sự hài lòng của khách hàng được
định. So với ACSI, hình ảnh của sản
tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm
phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp
nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận,
đến sự mong đợi của khách hàng. Khi
nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao
đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác
hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung
động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh,
thành đối với khách hàng, trường hợp
giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận
ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than
về cả sản phẩm hữu hình và vô hình.
phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.
Thông thường, chỉ số ACSI thường áp
3. Mô hình chỉ số hài lòng khách
dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI hàng các quốc gia EU
thường ứng dụng đo lường các sản
Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng phẩm, các ngành. 24
Hình 3: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer Satisfaction Index – ECSI) Hình ảnh Sự mong đợi Sự hài lòng Giá của Sự trị khách trung
Chất lượng cảm nhận về cảm hàng thành sản phẩm hữu hình nhận
Chất lượng cảm nhận về sản phẩm vô hình
(Nguồn: John A. Dotchin, John S. Oakland, 1994)
4. Mô hình của Grönroos (1984)
- Hình ảnh liên quan đến danh tiếng
của tổ chức, doanh nghiệp. Nếu doanh
Mô hình của Grönroos (1984) chỉ ra
nghiệp tạo được hình ảnh tốt trong lòng
rằng nhận thức của khách hàng về chất
khách hàng thì họ dễ dàng bỏ qua những
lượng dịch vụ dựa trên 3 yếu tố chính: chất
thiếu sót xảy ra trong quá trình sử dụng dịch
lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình
vụ. Grönroos cũng chỉ ra rằng hình ảnh
ảnh của tổ chức, doanh nghiệp:
doanh nghiệp là tài sản vô giá của doanh
- Chất lượng kỹ thuật liên quan đến
nghiệp và có tác động tích cực đến đánh giá
những gì khách hàng nhận được (nhận được
của khách hàng về chất lượng dịch vụ, giá trị cái gì, “What”).
sản phẩm và sự hài lòng của họ.
- Chất lượng chức năng liên quan đến
Dựa trên các yếu tố này, sẽ hình thành
việc khách hàng nhận được sản phẩm, dịch
nên cảm nhận của khách hàng về chất lượng
vụ như thế nào. Nó thể hiện quá trình thực
dịch vụ. Nó được đo bằng mối liên hệ giữa
hiện dịch vụ của doanh nghiệp, phản ánh
cảm nhận thực tế về dịch vụ với những mong
việc dịch vụ được cung cấp như thế nào
đợi của họ về dịch vụ.
(nhận như thế nào, “How”). 25
Hình 4: Mô hình của Grönroos
Dịch vụ mong đợi Dịch vụ cảm nh C ậ ả n
m nhận về chất lượng dịch vụ Hình ảnh Truyền miệng Nhu cầu cá nhân Chất lượng kỹ Kinh nghiệm Chất lượng thuật Truyền thông chức năng (cái gì?) Marketing (thế nào?)
(Nguồn: Gro¨nroos, C., 1984)
Sự kỳ vọng hay sự mong đợi của khách
dưới mức trông đợi của khách hàng.
hàng được hình thành từ 4 nguồn: thông tin
5. Mô hình tiền đề và trung gian
truyền miệng, nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm của Dabholkar
đã trải qua và quảng cáo. Trong 4 nguồn
trên chỉ có nguồn thứ tư là nằm trong tầm
Đây là mô hình có thể được xem là
kiểm soát của cơ sở cung cấp dịch vụ. Sự
toàn diện về chất lượng dịch vụ. Bên cạnh
cảm nhận khách hàng về chất lượng được
việc cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về các
chia thành 3 mức độ cơ bản:
khái niệm chất lượng dịch vụ, mô hình xem
xét các yếu tố tiền đề, trung gian và kết quả
- Chất lượng tốt: Dịch vụ cảm nhận
của chất lượng dịch vụ như các yếu tố được
vượt quá sự trông đợi của khách hàng.
xem là tiền đề giúp chất lượng dịch vụ tốt
- Chất lượng thoả mãn: Dịch vụ cảm
hơn và mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ
nhận phù hợp với sự trông đợi của khách.
với sự hài lòng của khách hàng và ý định hành vi của khách hàng.
- Chất lượng tồi: Dịch vụ cảm nhận
Hình 5: Mô hình tiền đề và trung gian
Mô hình tiền đề chất lượng dịch vụ
Mô hình trung gian sự hài lòng của khách hàng Sự tin cậy Sự quan tâm tới cá Chất Sự hài lòng nhân lượng Ý định dịch của khách hành vi hàng Sự thoải mái vụ Điểm đặc trưng
(Nguồn: Dabholkar và cộng sự, 2000) 26
6. Căn cứ đề xuất mô hình đánh
từng đơn vị sản xuất TTTK, của chương trình
giá mức độ hài lòng của người sử dụng
điều tra thống kê có thể có tác động, ảnh
về chất lượng thông tin thống kê
hưởng đến giá trị cảm nhận của NSD về chất
lượng của TTTK cũng như sự hài lòng của
Trong các mô hình đánh giá sự hài
họ. Nhưng để đánh giá sự hài lòng nói chung
lòng của khách hàng về chất lượng sản
về chất lượng TTTK từ nhiều đơn vị và nhiều
phẩm, dịch vụ đã được trình bày ở trên, điều
chỉ tiêu thống kê khác nhau thì vấn đề sẽ trở
dễ nhận thấy là các yếu tố tiền đề giúp chất
nên rất phức tạp và khó định lượng do đối
lượng dịch vụ tốt hơn và mối quan hệ giữa
tượng để đo lường quá đa dạng.
chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách
hàng và ý định hành vi của khách hàng được
- Người sử dụng TTTK là người sử
thỏa mãn hơn. Các mô hình “Kỳ vọng - Cảm
dụng sản phẩm đầu ra của hoạt động thống
nhận” của Oliver, mô hình ACSI của Mỹ, mô
kê và không phải là người trực tiếp trả tiền
hình ECSI của Châu Âu hay mô hình “Tiền đề
cho quá trình sản xuất TTTK. Chính vì vậy,
và Trung gian” của Dabholkar đều thống
việc đưa yếu tố giá cả vào trong mô hình
nhất ở một điểm là các yếu tố tiền đề của
đánh giá sự hài lòng của NSD về chất lượng
chất lượng dịch vụ sẽ dẫn đến sự hài lòng TTTK là chưa hợp lý.
hay không hài lòng của khách hàng. Áp dụng
- Thêm vào đó, do đặc thù của thống
trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm đầu
kê ở Việt Nam là tính công ích phục vụ nhiệm
ra của thông tin thống kê (TTTK), người sử
vụ chính trị - xã hội mà Đảng và Nhà nước
dụng TTTK, cụ thể ở đây là các giảng viên,
giao phó, nên điều này khiến cho việc đưa
nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước,
yếu tố giá cả trong trong mô hình đánh giá
hoạch định chính sách,… sẽ có sự so sánh
mức độ hài lòng của NSD về chất lượng TTTK
đánh giá giữa những cái mà họ kỳ vọng,
sẽ có thể không phản ánh đúng bản chất vấn
mong muốn với thực tế mà TTTK được sản đề.
xuất và cung cấp, để từ đó có được cảm
- Cũng tương tự như vậy với sự phàn
nhận về chất lượng của TTTK. Nếu cảm nhận
nàn hay sự trung thành. Khi sử dụng dịch vụ
thực tế về chất lượng mà trùng hoặc lớn hơn
thông thường, nếu không hài lòng, khách
kỳ vọng thì người sử dụng (NSD) sẽ hài lòng.
hàng có thể phàn nàn, than phiền. Nếu hài
Nếu cảm nhận thực tế về chất lượng mà nhỏ
lòng, họ có thể tiếp tục sử dụng dịch vụ. Tuy
hơn kỳ vọng thì NSD sẽ không hài lòng.
nhiên, sẽ rất khó để đánh giá sự trung thành
Trong các mô hình của của Oliver hay các mô
hay sự phàn nàn đối với chất lượng TTTK nói
hình CSI, sự hài lòng còn được đặt trong mối
chung vì NSD có thể ưu tiên lựa chọn TTTK
liên kết, tác động với một số khái niệm khác
của một nguồn nào đó mà họ cảm thấy hài
có liên quan như hình ảnh, giá cả hay sự
lòng nhưng thực tế ở Việt Nam và trong Luật
phàn nàn, sự trung thành. Tuy nhiên, những
Thống kê 2013 đã quy định nên NSD không
vấn đề này không nằm trong phạm vi nghiên
thể có sự lựa chọn nào khác. Họ chỉ có thể
cứu của bài viết vì những lý do sau:
đánh giá hài lòng hay không hài lòng về chất
- Hình ảnh thường gắn với một nhà
lượng TTTK của Việt Nam, nhưng không thể
cung cấp cụ thể hay một chương trình thống không sử dụng TTTK này.
kê cụ thể. Hay nói cách khác thương hiệu của
Chính vì vậy, trong mô hình nghiên cứu 27
đề xuất của bài viết này, sẽ chỉ tập trung vào
điểm phù hợp với đối tượng và phạm vi
mối quan hệ giữa chất lượng với sự hài lòng
nghiên cứu như đã nói ở trên và nghiên cứu
và bỏ qua các nhân tố tác động khác đến sự các mô hình sau::
hài lòng như hình ảnh, giá cả hay các mối
- Dựa vào mô hình “Kỳ vọng-Cảm
liên kết giữa sự hài lòng với sự trung thành
nhận” của Oliver và mô hình CSI: hình thành
hay sự than phiền của NSD.
các yếu tố sự mong đợi (kỳ vọng), cảm nhận
Mặt khác, thông qua các cuộc trao đổi
thực tế và chất lượng cảm nhận cũng như
với một số NSD, có một nhân tố có khả năng
mối quan hệ giữa các yếu tố này;
ảnh hưởng đến sự hài lòng của NSD về TTTK
- Dựa vào mô hình chỉ số hài lòng CSI:
đó là sự hiểu biết về nghiệp vụ thống kê
hình thành mối quan hệ giữa Chất lượng cảm
trong khi sử dụng TTTK, nếu những người có nhận với Sự hài lòng;
chuyên môn nghiệp vụ về thống kê thì khi sử
- Dựa vào các ý kiến thực tế của người
dụng TTTK sẽ hài lòng hơn. Chính vì vậy, mà
sử dụng TTTK: hình thành yếu tố sự hiểu biết
nhân tố này cũng được đưa vào mô hình để
về nghiệp vụ thống kê. nghiên cứu.
tác giả đề xuất khung mô hình nghiên
Trên cơ sở phân tích các ưu nhược cứu cụ thể Hình 6.
Hình 6: Khung mô hình đánh giá sự hài lòng của người sử dụng về chất lượng TTTK tác giả đề xuất Kỳ vọng Sự hài Giá lòng sự hiểu biết trị của về nghiệp vụ cảm NSD thống kê nhậ về Cảm nhận chất lượng thực tế
(Nguồn: Đề xuất của tác giả)
7. Mối quan hệ giữa các thành
có tác động tích cực đến sự hài lòng của phần của mô hình
người sử dụng TTTK đó và ngược lại, chất
Mối quan hệ giữa các thành phần trong
lượng thấp sẽ dẫn đến sự hài lòng thấp. Hay
khung mô hình đánh giá sự hài lòng của
nói cách khác chất lượng TTTK có mối quan
người sử dụng về chất lượng TTTK tác giả đề
hệ cùng chiều với sự hài lòng của NSD.
xuất được giải thích như sau:
b) Mối quan hệ giữa sự hiểu biết về
a) Mối quan hệ giữa Kỳ vọng, cảm
nghiệp vụ thống kê với sự hài lòng. Từ thực
nhận, giá trị cảm nhận với sự hài lòng. Nếu
tế ở NSD đã cho thấy, nếu người sử dụng
chất lượng TTTK được đánh giá tốt thì nó sẽ
TTTK mà có sự hiểu biết nhất định về nghiệp 28
vụ thống kê thì việc sử dụng các TTTK vào Tài liệu tham khảo:
mục đích công việc cũng như mục đích
[1.] Dabholkar, P. A., Shepherd, C. D.,
nghiên cứu có thể tốt hơn và hiệu quả hơn.
Thorpe, D. I., “A comprehensive framework
Khi đó, NSD sẽ hài lòng hơn về chất lượng
for service quality: An investigation of critical
TTTK được cơ quan Thống kê cung cấp và
conceptual and measurement issues through
phổ biến. Ngược lại, nếu người sử dụng TTTK
a longitudinal study” , Journal of Retailing, 76
mà chưa hiểu biết được cơ bản về TTTK, (2) (2000), 131-9;
chưa hiểu được phân tổ, phân ngành, chỉ tiêu [2.] Gro¨nroos, C., “A service quality
và phương pháp tính, số liệu thống kê ước
model and its marketing implications” ,
tính, số liệu thống kê sơ bộ và số liệu thống
European Journal of Marketing, 18 (4)
kê chính thức thì người đó sẽ không hài lòng. (1984), 36-44;
Chính vì vậy mà nghiên cứu này hướng tới
[3.] HUNG Ha Manh, “Method of
giả thuyết về mối quan hệ không cùng chiều
assessing and measuring the statistical
giữa sự hiểu biết về nghiệp vụ thống kê với
quality criteria of Vietnam”, CONFERENCE
sự hài lòng của NSD về chất lượng TTTK.
ESM-AEF 2019 Econometrics and Statistical
Tóm lại : Từ các mô hình chủ yếu
Methods -Applications in Economics and
đánh giá về sự hài lòng nói trên và đề xuất Finance, (2019) p:617-625;
mô hình đánh giá mức độ hài lòng chất
[4.] ThS. Hà Mạnh Hùng, “Đề xuất hệ
lượng TTTK cho Việt Nam, có thể rút ra một
thống đánh giá chất lượng số liệu thống kê
số nhận xét như sau: Chất lượng sản phẩm,
phù hợp với Việt Nam”, Tạp chí Con số và sự
dịch vụ nói chung và chất lượng TTTK nói
kiện, số 1+2/2015, tr:59-61;
riêng có ảnh hưởng quan trọng và có tác
[5.] Malhotra, N. K., Ulgado, F. M.,
động cùng chiều đến sự hài lòng của khách Agarwal, J., Shainesh G., Wu, L.,
hàng và người sử dụng. Một sản phẩm, dịch
“Dimensions of service quality in developed
vụ có chất lượng tốt sẽ dẫn tới sự hài lòng
and developed economies: Multi-country
của khách hàng và người sử dụng. Sự đa
cross-cultural comparisons” , International
dạng của các mô hình chất lượng dịch vụ
Marketing Review, 22 (3) (2005), 256-278;
phản ánh các cách tiếp cận khác nhau về
[6.] Brogowicz, A. A., Delene, L. M.,
đánh giá chất lượng dịch vụ và chất lượng
Lyth, D. M., “A synthesised service quality
sản phẩm TTTK; Các mô hình hầu hết đều model with managerial implications”,
hướng tới mục đích chung là giúp các nhà
International Journal of Service Industry
quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về chất
Management, 1 (1) (1990), 27-44;
lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm và chất
[7.] María Victoria García Olea, Enrique
lượng TTTK nhạy bén hơn trong việc xác
Morán Aláez, “quality assessment of statistics
định các vấn đề chất lượng, từ đó có kế
in Eustat” European Conference on Quality in
hoạch tốt hơn cho hoạt động phân phối
Official Statistics (Q2016), Spain, Session 7,
nguồn lực cũng như triển khai các chương page:55;
trình cải tiến chất lượng sản phẩm, chất [8.] Jonathan G. Geiger, “Data Quality
lượng dịch vụ và chất lượng TTTK trong
Management The Most Critical Initiative You toàn ngành.
Can Implement” , Sugi 29, Paper 098-29, American, page: 14. 29