1
PHẦN DÀNH CHO CÁN BỘ CHẤM THI
Họ và tên cán bộ chấm thi:
Điểm đã chấm thành phần theo từng câu:
Câu 1: … điểm
Câu 2: … điểm
…..
Tổng điểm toàn bài: (Điểm bằng chữ: ) … điểm
Nhận xét chung nếu có: ……………………………………….……………….……
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN DÀNH CHO SINH VIÊN LÀM BÀI
(Sinh viên điền thông tin phía dưới và lưu ý không được đặt tên File bài làm có dấu, nhớ
thường xuyên lưu file và cuối giờ nộp bài trên hệ thống LMS.
Cú pháp đặt tên File: MSSV-HOVATEN, Ví dụ đặt tên file: 1556010001-
NGUYENVANBINH)
Họ và tên sinh viên: Phạm Kiều Khanh
Mã số sinh viên: 2057060127
Môn thi: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã đề thi nếu có:
BÀI LÀM
(Sinh viên gõ, đánh máy trực tiếp phần trả lời bằng tiếng Việt có dấu, cỡ chữ 13 ở phía
dưới)
Câu 1. Ngay khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đã hoạt động trong lĩnh
vực mật chuyển trọng tâm công việc về nông thôn, nhưng vẫn tập trung vào thành
thị. Trung ương đã dự báo tình hình trong giai đoạn mới: Tình hình Đông Dương đang
chuyển sang vấn đề dân tộc giải phóng. Chủ trương chiến lược điều chỉnh trong giai đoạn
này được thể hiện trong nghị quyết của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
(tháng 11. 1939), Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (tháng 11 năm 1940) và Nghị quyết
lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương. 8 (tháng 5 năm 1941).
Trước hết, đó từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật thất bại
nặng nề trên hầu hết các chiến trường khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong Chiến
tranh thế giới thứ hai, Nhật đã phải đề nghị ngừng bắn.
Với nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, kịp thời hiểu biết thời cuộc, đồng
chí Hồ Chí Minh Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp tại Tân Trào quyết định
2
khởi nghĩa vũ trang toàn quốc. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát
ra.
Vào đêm hôm sau, ngày 13/8/1945, Thường vụ Trung ương Đảng, họp để nhận định tình
hình, phân công nhiệm vụ chỉ đạo khởi nghĩa vụ trang, thì tiếp tục nhận được thêm một
tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh.
Ngay lập tức Trung ương Đảng và cơ quan đầu não của Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi
nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảoQuân lệnh số 1”. Đến 23 giờ đêm cùng ngày, bản
“Quân lệnh số 1” hoàn thành được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn
quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi đồng chí Hồ Chí Minh biết tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống
thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật, Người đã đề nghị họp Hội nghị toàn quốc của Đảng tại
Tân Trào. Hội nghị nhận xét: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên
sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút.
Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Sở phải tiến hành tổng khởi nghĩa vào thời điểm đó do đồng chí Hồ Chí Minh
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhận ra hiểu tình hình đang thay đổi nhanh
chóng: phát xít Nhật đã chết cùng phát xít Đức; quân đội Nhật Bản bị giải tán, giải giáp
trên tất cả các chiến trường; lực lượng Đồng minh sắp tiến vào Đông Dương. Vì vậy, nếu
chúng ta không nổi dậy giành chính quyền từ tay người Nhật mà chờ đợi đồng minh tiến
lên giành được quyền thống trị thì nhân dân của chúng ta sẽ không thể tiến hành khởi
nghĩa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, việc Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị chấp nhận
việc vua thoái vị (ngày 30-8-1945 tại Huế) cũng việc lực lượng cách mạng chớp thời
cơ, chớp thời cơ đúng thời thoái vị của Vua Bảo Đại đánh dấu sự sụp đổ của chính
quyền phong kiến; Đồng thời, xóa bỏ một vết xe đổ quan trọng các thế lực đế quốc,
phản động lợi dụng để âm mưu chống phá chính quyền cách mạng, khôi phục ách thống
trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
"Tuyên ngôn độc lập", tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt
3
Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do. . Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước đồng bào cả nước.
vậy, nếu chậm trễ, không tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng minh tiến
vào thì cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc
Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước chính là nhằm ngay lập
tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động
đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Tóm lại, Cách mạng Tháng Tám Ngày Độc lập chỉ có thể được thực hiện thành công
trong vòng 22 ngày này. Nếu cuộc tổng khởi nghĩa diễn ra trước ngày 12/8/1945 thì
không được vì lúc đó phát xít Nhật vẫn còn khá mạnh, chưa chịu ngừng bắn và đầu hàng
quân Đồng minh. Còn nếu Lễ Độc lập tuyên bố khẳng định chủ quyền của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra muộn hơn sau ngày 2/9/1945 cũng không được vì khi ấy
quân Anh quân Tưởng đã vào nước ta giải giáp, tiếp quản chính quyền từ tay quân
Nhật.
Việc chủ tịch Hồ Chí Minh Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta chớp thời
cơ tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. bài học lịch sử về truyền thống anh hùng của tổ tiên với chủ đề “Dĩ bất biến, ứng
vạn biến”.
Hiện Việt Nam đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện với 5 nước
thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ). Việt Nam cũng đã thiết
lập quan hệ đối ngoại với gần 200 quốc gia ở nhiều cấp độ khác nhau trong đó có quan hệ
đối tác chiến lược với 13 quốc gia bao gồm: Nga (2001), Ấn Độ (2007), Nhật Bản
(2006), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức (2011) ),
Ý, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Pháp (2013); quan hệ đối tác toàn diện với 4 nước
gồm Australia (2009), New Zealand (2010), Đan Mạch, Mỹ (2013); và đối tác chiến lược
theo lĩnh vực với Lan. Đây một hội tuyệt vời để nâng cao vị thế của đất nước
trên trường quốc tế.
Theo quy luật vận động phát triển của hội, khó khăn, thách thức luôn gắn liền với
những cơ hội và khả năng mới. Đảng ta hiểu rất rõ ràng quy luật ấy và vận dụng, nắm bắt
4
tốt cơ hội vượt qua khó khăn để biến bất lợi thành có lợi. Từ đó đến nay, chính quyền của
phong trào đã thường xuyên, kịp thời thực hiện những nhận định, phân tích, định hướng
định hướng chiến lược. Gần đây đã nói trong Báo cáo chính trị của khóa XII. Đại hội:
“Tình hình thế giới trong nước những thuận lợi, thời khó khăn, thách thức
đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, lớn hơn, phức tạp hơn trong công cuộc đổi mới, phát
triển đất nước bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quê
hương, đồng thời kêu gọi Đảng, Nhà nước nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực hơn
nữa, làm được nhiều việc hơn, do đó cần kiên quyết đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quê hương; môi trường hòa bình, ổn định
để phát triển đất nước; Bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Mở rộng
làm sâu sắc hơn các quan hệ đối ngoại; Tận dụng thời thách thức, thực hiện hội
nhập quốc tế hiệu quả trong điều kiện mới, nâng cao hơn nữa vị thế uy tín của đất
nước trên trường quốc tế, nhân tố thúc đẩy ta giúp đỡ, thời chính nhân tố con
người.Vì vậy, trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển cao, chúng ta cần ctrọng
nguồn nhân lực chất lượng cao để đi tắt, đón đầu. Đảng ta chỉ rõ, ngoài bản lĩnh chính trị,
do đó, yếu tố quyết định nhiệm vụ đào tạo, phát huy sử dụng hiệu quả nguồn
nhân lực, nhất những người phẩm chất cao, đủ đạo đức. Tài năng, khả năng nắm
bắt, đón đầu và làm chủ khoa học và công nghệ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vì đó là
nội lực to lớn của toàn dân tộc. Trên sở phát huy nội lực, nếu kết hợp tốt nội lực
ngoại lực sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội
nhập quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xác định rõ và xác định rõ một số thách thức,
trở ngại. Phải phá bỏ, khắc phục để chớp lấy nhiều thời cơ mới, nhất là sự suy thoái về
tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên thế giới. một số cán bộ,
đảng viên làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng nhà nước. Nếu phá được
những rào cản này thì đây cũng hội để nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách
thức, nâng cao sức chiến đấu của nước ta. Đảng, nhà nước quản có hiệu lực, thực hiện
thắng lợi mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Câu 2.
5
Trong giai đoạn 1976 -1986, Việt Nam áp dụng quyết sách bao cấp, tem phiếu. Chính
vậy, các mặt hàng trong giai đoạn này thường khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu
của người dân. Tiêu dụng chậm dẫn đến tình trạng mức lạm phát, đời sống của nhân dân
thiếu thốn, khó khăn.
Năm 1986 - 1988 cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta trở nên trầm trọng nhất khi
lạm phát lên tới mức “phi mã” (3 con số), các cơ sở sản xuất quốc doanh đình trệ, thua lỗ,
sản xuất sa sút, thâm hụt ngân sách lớn, giá c tăng vọt, lương thực tế giảm, đời sống
nhân dân bị rút ngắn đi rất nhiều, khó khăn chồng chất khó khăn, nhiều khi tưởng như
không thể vượt qua. Trong khi đó, công cuộc “cải tổ” Liên - anh hùng của chủ
nghĩa hội thế giới - đang rơi vào bế tắc. Bên cạnh đó, nước ta từ một nước công
nghiệp lạc hậu, trang bị vật chất - kỹ thuật kém, sức sản xuất thấp lên chủ nghĩa hội.
Phát triển, chưa hoàn thành, sản xuất hàng loạt nhỏ, thủ công quan trọng nhất. Vì vậy,
đổi mới hết sức cần thiết để nước ta thoát khỏi đói nghèoy dựng sở hạ tầng -
công nghệ chất lượng cho sản phẩm, nền sản xuất hiện đại. Chỉ công nghiệp hoá:
chúng ta mới xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tiến
hành tái sản xuất rộng rãi nhằm nâng cao đời sống vật chất trí tuệ của nhân dân, củng
cố phát triển lực lượng lao động, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh, trật tự hội góp
phần xây dựng phát triển nền văn hóa n tộc, xây dựng con người mới Việt Nam.
Mỗi bước tiến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một bước tăng cườngsở vật chất
- kỹ thuật của chủ nghĩa hội, tiến tới phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất hoàn
thiện quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa, để nước ta tiến lên chủ nghĩa hội. 1 nhanh
chóng thành công. Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã phát triển thành công từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa.Xuất hiện chế độ tài sản nhiều hình thức, cấu kinh tế nhiều
thành phần: từ tài sản toàn dân, tập thể, từ kinh tế quốc doanh hợp tác chủ yếu
chuyển thành nhiều dạng tài sản. Nhiều nhánh của nền kinh tế đan xen hỗn hợp, đó
toàn dân làm chủ liệu sản xuất chủ yếu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều
này đã tạo động lực điều kiện thuận lợi để giải phóng năng lượng sản xuất, khai thác
tiềm năng bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội. Các loại thị trường cơ bản
ra đời từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với các thị trường khu vực
trên thế giới.chế Thị trường có sự quản của Nhà nước đã thay thế cơ chế kế hoạch
6
hoá tập trung. Công ty doanh nhân quyền tự sản xuất, cạnh tranh lành mạnh Quản
nhà nước về kinh tế đang được đổi mới từ can thiệp trực tiếp của mệnh lệnh hành
chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh sang điều hành thông qua pháp luật, chủ trương,
quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế. Xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Gắn
phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề hội, chống đói, giảm nghèo đạt nhiều kết
quả tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành
xác lập. Thể chế kinh tế mới ra đời, phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế trở nên sống động vàkhả năng phát triển. Phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhanh bền vững, vượt qua khủng hoảng kinh tế - hội, tạo điều kiện
cần thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển.
Như một kết quả, Từ thời điểm năm 2016, năm diễn ra Đại hội lần thứ XII của Đảng
cũng ghi lại cột mốc công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng lãnh đạo vừa tròn 30
năm, với 6 nhiệm kỳ. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, văn minh hóa đất nước.
Nhìn chung, công cuộc đổi mới 1986 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, giúp thể
chế, tài chính thị trường của nhà nước Việt Nam ngày một hoàn thiện cũng như đáp ứng
các nhu cầu phát triển toàn cầu hóa, cải thiện đời sống của nhân dân ngày một tốt hơn.

Preview text:

1
PHẦN DÀNH CHO CÁN BỘ CHẤM THI
Họ và tên cán bộ chấm thi:
Điểm đã chấm thành phần theo từng câu: Câu 1: … điểm Câu 2: … điểm …..
Tổng điểm toàn bài: … điểm (Điểm bằng chữ: ) …
Nhận xét chung nếu có: ……………………………………….……………….……
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN DÀNH CHO SINH VIÊN LÀM BÀI
(Sinh viên điền thông tin phía dưới và lưu ý không được đặt tên File bài làm có dấu, nhớ
thường xuyên lưu file và cuối giờ nộp bài trên hệ thống LMS.
Cú pháp đặt tên File: MSSV-HOVATEN, Ví dụ đặt tên file: 1556010001- NGUYENVANBINH)
Họ và tên sinh viên: Phạm Kiều Khanh
Mã số sinh viên: 2057060127
Môn thi: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam Mã đề thi nếu có: BÀI LÀM
(Sinh viên gõ, đánh máy trực tiếp phần trả lời bằng tiếng Việt có dấu, cỡ chữ 13 ở phía dưới)
Câu 1. Ngay khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đã hoạt động trong lĩnh
vực bí mật và chuyển trọng tâm công việc về nông thôn, nhưng vẫn tập trung vào thành
thị. Trung ương đã dự báo tình hình trong giai đoạn mới: Tình hình Đông Dương đang
chuyển sang vấn đề dân tộc giải phóng. Chủ trương chiến lược điều chỉnh trong giai đoạn
này được thể hiện trong nghị quyết của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
(tháng 11. 1939), Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (tháng 11 năm 1940) và Nghị quyết
lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương. 8 (tháng 5 năm 1941).
Trước hết, đó là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật thất bại
nặng nề trên hầu hết các chiến trường khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong Chiến
tranh thế giới thứ hai, Nhật đã phải đề nghị ngừng bắn.
Với nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, kịp thời hiểu biết thời cuộc, đồng
chí Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp tại Tân Trào quyết định 2
khởi nghĩa vũ trang toàn quốc. Ngay sau
cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Vào đêm hôm sau, ngày 13/8/1945, Thường vụ Trung ương Đảng, họp để nhận định tình
hình, phân công nhiệm vụ chỉ đạo khởi nghĩa vụ trang, thì tiếp tục nhận được thêm một
tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh.
Ngay lập tức Trung ương Đảng và cơ quan đầu não của Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi
nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh số 1”. Đến 23 giờ đêm cùng ngày, bản
“Quân lệnh số 1” hoàn thành và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi đồng chí Hồ Chí Minh biết tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống
thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật, Người đã đề nghị họp Hội nghị toàn quốc của Đảng tại
Tân Trào. Hội nghị nhận xét: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên cơ
sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút.
Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Sở dĩ phải tiến hành tổng khởi nghĩa vào thời điểm đó là do đồng chí Hồ Chí Minh và
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhận ra và hiểu rõ tình hình đang thay đổi nhanh
chóng: phát xít Nhật đã chết cùng phát xít Đức; quân đội Nhật Bản bị giải tán, giải giáp
trên tất cả các chiến trường; lực lượng Đồng minh sắp tiến vào Đông Dương. Vì vậy, nếu
chúng ta không nổi dậy giành chính quyền từ tay người Nhật mà chờ đợi đồng minh tiến
lên và giành được quyền thống trị thì nhân dân của chúng ta sẽ không thể tiến hành khởi
nghĩa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, việc Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và chấp nhận
việc vua thoái vị (ngày 30-8-1945 tại Huế) cũng là việc lực lượng cách mạng chớp thời
cơ, chớp thời cơ và đúng thời cơ thoái vị của Vua Bảo Đại đánh dấu sự sụp đổ của chính
quyền phong kiến; Đồng thời, xóa bỏ một vết xe đổ quan trọng mà các thế lực đế quốc,
phản động lợi dụng để âm mưu chống phá chính quyền cách mạng, khôi phục ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
"Tuyên ngôn độc lập", tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt 3
Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do. . Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước đồng bào cả nước.
Vì vậy, nếu chậm trễ, không tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng minh tiến
vào thì cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc
Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước chính là nhằm ngay lập
tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động
đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Tóm lại, Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập chỉ có thể được thực hiện thành công
trong vòng 22 ngày này. Nếu cuộc tổng khởi nghĩa diễn ra trước ngày 12/8/1945 thì
không được vì lúc đó phát xít Nhật vẫn còn khá mạnh, chưa chịu ngừng bắn và đầu hàng
quân Đồng minh. Còn nếu Lễ Độc lập tuyên bố và khẳng định chủ quyền của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra muộn hơn sau ngày 2/9/1945 cũng không được vì khi ấy
quân Anh và quân Tưởng đã vào nước ta giải giáp, tiếp quản chính quyền từ tay quân Nhật.
Việc chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta chớp thời
cơ tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. bài học lịch sử về truyền thống anh hùng của tổ tiên với chủ đề “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Hiện Việt Nam đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện với 5 nước
thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ). Việt Nam cũng đã thiết
lập quan hệ đối ngoại với gần 200 quốc gia ở nhiều cấp độ khác nhau trong đó có quan hệ
đối tác chiến lược với 13 quốc gia bao gồm: Nga (2001), Ấn Độ (2007), Nhật Bản
(2006), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức (2011) ),
Ý, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Pháp (2013); quan hệ đối tác toàn diện với 4 nước
gồm Australia (2009), New Zealand (2010), Đan Mạch, Mỹ (2013); và đối tác chiến lược
theo lĩnh vực với Hà Lan. Đây là một cơ hội tuyệt vời để nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Theo quy luật vận động và phát triển của xã hội, khó khăn, thách thức luôn gắn liền với
những cơ hội và khả năng mới. Đảng ta hiểu rất rõ ràng quy luật ấy và vận dụng, nắm bắt 4
tốt cơ hội vượt qua khó khăn để biến bất lợi thành có lợi. Từ đó đến nay, chính quyền của
phong trào đã thường xuyên, kịp thời thực hiện những nhận định, phân tích, định hướng
và định hướng chiến lược. Gần đây đã nói trong Báo cáo chính trị của khóa XII. Đại hội:
“Tình hình thế giới và trong nước có những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức
đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, lớn hơn, phức tạp hơn trong công cuộc đổi mới, phát
triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quê
hương, đồng thời kêu gọi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực hơn
nữa, làm được nhiều việc hơn, do đó cần kiên quyết đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quê hương; môi trường hòa bình, ổn định
để phát triển đất nước; Bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Mở rộng
và làm sâu sắc hơn các quan hệ đối ngoại; Tận dụng thời cơ và thách thức, thực hiện hội
nhập quốc tế hiệu quả trong điều kiện mới, nâng cao hơn nữa vị thế và uy tín của đất
nước trên trường quốc tế, nhân tố thúc đẩy ta giúp đỡ, thời cơ chính là nhân tố con
người.Vì vậy, trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển cao, chúng ta cần chú trọng
nguồn nhân lực chất lượng cao để đi tắt, đón đầu. Đảng ta chỉ rõ, ngoài bản lĩnh chính trị,
do đó, yếu tố quyết định là nhiệm vụ đào tạo, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực, nhất là những người có phẩm chất cao, đủ đạo đức. Tài năng, khả năng nắm
bắt, đón đầu và làm chủ khoa học và công nghệ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vì đó là
nội lực to lớn của toàn dân tộc. Trên cơ sở phát huy nội lực, nếu kết hợp tốt nội lực và
ngoại lực sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội
nhập quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xác định rõ và xác định rõ một số thách thức,
trở ngại. Phải phá bỏ, khắc phục để chớp lấy nhiều thời cơ mới, nhất là sự suy thoái về tư
tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên thế giới. một số cán bộ,
đảng viên làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước. Nếu phá được
những rào cản này thì đây cũng là cơ hội để nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách
thức, nâng cao sức chiến đấu của nước ta. Đảng, nhà nước quản lý có hiệu lực, thực hiện
thắng lợi mục tiêu cao cả là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và
vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Câu 2. 5
Trong giai đoạn 1976 -1986, Việt Nam áp dụng quyết sách bao cấp, tem phiếu. Chính vì
vậy, các mặt hàng trong giai đoạn này thường khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu
của người dân. Tiêu dụng chậm dẫn đến tình trạng mức lạm phát, đời sống của nhân dân thiếu thốn, khó khăn.
Năm 1986 - 1988 cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta trở nên trầm trọng nhất khi
lạm phát lên tới mức “phi mã” (3 con số), các cơ sở sản xuất quốc doanh đình trệ, thua lỗ,
sản xuất sa sút, thâm hụt ngân sách lớn, giá cả tăng vọt, lương thực tế giảm, đời sống
nhân dân bị rút ngắn đi rất nhiều, khó khăn chồng chất khó khăn, nhiều khi tưởng như
không thể vượt qua. Trong khi đó, công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô - anh hùng của chủ
nghĩa xã hội thế giới - đang rơi vào bế tắc. Bên cạnh đó, nước ta từ một nước công
nghiệp lạc hậu, trang bị vật chất - kỹ thuật kém, sức sản xuất thấp lên chủ nghĩa xã hội.
Phát triển, chưa hoàn thành, sản xuất hàng loạt nhỏ, thủ công là quan trọng nhất. Vì vậy,
đổi mới là hết sức cần thiết để nước ta thoát khỏi đói nghèo và xây dựng cơ sở hạ tầng -
công nghệ có chất lượng cho sản phẩm, nền sản xuất hiện đại. Chỉ có công nghiệp hoá:
chúng ta mới xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tiến
hành tái sản xuất rộng rãi nhằm nâng cao đời sống vật chất và trí tuệ của nhân dân, củng
cố phát triển lực lượng lao động, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội góp
phần xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, xây dựng con người mới Việt Nam.
Mỗi bước tiến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một bước tăng cường cơ sở vật chất
- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiến tới phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và hoàn
thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, để nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. 1 nhanh
chóng và thành công. Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã phát triển thành công từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.Xuất hiện chế độ tài sản nhiều hình thức, cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần: từ tài sản toàn dân, tập thể, từ kinh tế quốc doanh và hợp tác xã chủ yếu
chuyển thành nhiều dạng tài sản. Nhiều nhánh của nền kinh tế đan xen và hỗn hợp, ở đó
toàn dân làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều
này đã tạo động lực và điều kiện thuận lợi để giải phóng năng lượng sản xuất, khai thác
tiềm năng bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội. Các loại thị trường cơ bản
ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với các thị trường khu vực
trên thế giới. Cơ chế Thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã thay thế cơ chế kế hoạch 6
hoá tập trung. Công ty và doanh nhân có quyền tự sản xuất, cạnh tranh lành mạnh Quản
lý nhà nước về kinh tế đang được đổi mới từ can thiệp trực tiếp của mệnh lệnh hành
chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh sang điều hành thông qua pháp luật, chủ trương,
quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế. Xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Gắn
phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chống đói, giảm nghèo đạt nhiều kết
quả tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành và
xác lập. Thể chế kinh tế mới ra đời, phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế trở nên sống động và có khả năng phát triển. Phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện
cần thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển.
Như một kết quả, Từ thời điểm năm 2016, năm diễn ra Đại hội lần thứ XII của Đảng
cũng ghi lại cột mốc công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo vừa tròn 30
năm, với 6 nhiệm kỳ. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, văn minh hóa đất nước.
Nhìn chung, công cuộc đổi mới 1986 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, giúp thể
chế, tài chính thị trường của nhà nước Việt Nam ngày một hoàn thiện cũng như đáp ứng
các nhu cầu phát triển toàn cầu hóa, cải thiện đời sống của nhân dân ngày một tốt hơn.