




Preview text:
“LÃI GIẢ LỖ THẬT” -
NGUYỄN TRẦN BẢO NGỌC
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Lớp: 64E Tài Chính Doanh Nghiệp 1
“Lãi giả lỗ thật” là một vấn đề phổ biến trong thế giới kinh
doanh. Nó liên quan đến việc tạo ra cảm giác sai lầm về lợi nhuận
bằng cách thổi phồng lợi nhuận hoặc che giấu các khoản lỗ. Thực
tiễn này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho các doanh
nghiệp, vì nó có thể dẫn đến việc phóng đại hiệu quả tài chính, giảm
chi phí và cuối cùng dẫn đến những tổn thất thực sự mà có thể
không được phát hiện cho đến khi quá muộn. Trong bài viết này,
chúng ta sẽ tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng “lãi giả lỗ thật”,
cách xác định nó và những bước có thể được thực hiện để ngăn chặn điều đó xảy ra.
Nguyên nhân chính của lợi nhuận giả mà lỗ thật là khi các
công ty phóng đại thu nhập hoặc giảm chi phí của họ để có vẻ có lãi
hơn so với thực tế. Điều này có thể được thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, nhưng nó thường dẫn đến các báo cáo tài chính sai lệch,
gây khó khăn cho các nhà đầu tư và chủ nợ trong việc đánh giá hoạt
động thực sự của doanh nghiệp. Mặt khác, thua lỗ thực sự xảy ra khi
các công ty không hạch toán chính xác tất cả các chi phí liên quan
đến hoạt động của họ, dẫn đến việc thể hiện không chính xác khả
năng sinh lời thực sự của họ.
Lấy ví dụ trên thị trường chứng khoán, kết thúc năm 2008,
thống kê của trang web Stox.vn cho thấy, trong 357 doanh nghiệp
niêm yết trên cả hai sàn, ít nhất 194 doanh nghiệp có sự chênh lệch
về chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, trước và sau khi kiểm toán, trong đó
47 doanh nghiệp có sự chênh lệch lên tới trên 50%. Trong BCTC năm
2010, tuy chưa có thống kê đầy đủ nhưng vẫn còn khá nhiều doanh
nghiệp sau kiểm toán mức lãi đã giảm mạnh 30-50%. Có thể kể đến
CTCP Thủy hải sản Việt Nhật (VNH) lợi nhuận ròng năm 2010 sau
kiểm toán chỉ còn 2,92 tỷ đồng (thay vì mức công bố trước đó là 6,85 tỷ đồng).
Ngay cả doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Masan (MSN) cũng có
sự chênh lệch lớn. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế của MSN năm 2010
sau khi kiểm toán còn 2.283 tỷ đồng, giảm 351,8 tỷ đồng (tương ứng
giảm 13,4%). CTCP Quốc Cường Gia Lai (QCG) cũng khiến cổ đông
thất vọng khi lợi nhuận sau kiểm toán đã giảm 32 tỷ đồng và chỉ còn
268 tỷ đồng. Đáng chú ý đây không phải là lần đầu tiên kết quả kinh
doanh của Quốc Cường Gia Lai có sự chênh lệch trước và sau kiểm
toán. Giữa năm 2010 khi công ty này chuẩn bị niêm yết tại sàn
TP.HCM đã công bố lợi nhuận 6 tháng đầu năm là 13,4 tỷ đồng.
Tuy nhiên, ngay sau khi chào sàn không bao lâu, thông tin về
khoản lợi nhuận đột biến gấp gần 5 lần số liệu trước đó (64,1 tỷ 2
đồng) được công bố chính thức, khiến cho giá cổ phiếu của công ty
có sự biến động tăng đáng kể. Mỗi công ty có lý do riêng khi giải
trình cho việc số liệu bị “vênh” nhau, nhưng đa số đều do mức trích
lập và đánh giá lại khoản vay bằng ngoại tệ hay các bút toán ghi
nhận doanh thu của một số dự án không khớp. Đặc biệt với các chi
phí liên quan đến đầu tư tài chính hay đầu tư vào cổ phiếu chưa
niêm yết thì mức độ chênh lệch có thể lớn. Tuy nhiên, theo các
chuyên gia kiểm toán, mức sai số chấp nhận được chỉ trong khoảng
5-10% chứ lên đến 40-50% thì cần phải xem xét kỹ hơn. Bởi khi đó
không loại trừ khả năng các công ty cố tình giấu lỗ hoặc bỏ qua việc
trích lập dự phòng cho các khoản đầu tư nhiều rủi ro.
Từ trước đến nay, Báo cáo tài chính của doanh nghiệp luôn là
thông tin quan trọng để các nhà đầu tư phân tích và sau đó ra quyết
định đầu tư. Do đó, tình trạng tiền hậu bất nhất trong Báo cáo tài
chính đã gây thiệt hại không nhỏ cho các nhà đầu tư. Thời gian giữa
Báo cáo tài chính doanh nghiệp tự công bố với Báo cáo tài chính
kiểm toán thường kéo dài khoảng 2-3 tháng. Mặc dù khá bức xúc
nhưng đối với các nhà đầu tư đã lỡ ôm phải cổ phiếu này thì cũng
đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, vì không thể khởi kiện ai. Quy định
về công bố thông tin hiện nay chỉ bắt buộc doanh nghiệp phải nộp
Báo cáo tài chính đã kiểm toán. Còn những thông tin như ước tính
kết quả kinh doanh hàng tháng với những số liệu chưa kiểm toán thì
doanh nghiệp có thể tùy ý công bố hay không. Chính điều đó tạo
nên kẽ hở cho những doanh nghiệp muốn “làm xiếc” với những con
số để tạo nên niềm tin cho nhà đầu tư, cho dù sau đó có thể bị “lật
tẩy”. Vẫn chưa có biện pháp chế tài nào đủ mức độ răn đe đối với
các doanh nghiệp có những sai sót nghiêm trọng trong các Báo cáo
tài chính, nhất là chênh lệch số liệu về lợi nhuận trước và sau kiểm toán.
Thừa nhận tình trạng này, song một lãnh đạo của Sở Giao dịch
chứng khoán TP.HCM cho biết, ngoài yêu cầu giải trình và công bố
thông tin theo qui định thì Sở cũng không thể làm gì hơn. Còn ThS.
Lê Đạt Chí cho rằng, cần phải bổ sung quy định và cả những biện
pháp chế tài mạnh hơn trong việc công bố thông tin tài chính của
doanh nghiệp niêm yết. Trong khi đó, TS. Nguyễn Văn Thuận,
Trưởng Khoa Kế toán - Tài chính - Ngân hàng trường ĐH Mở TP.HCM
khuyến nghị nhà đầu tư “nên tự bảo vệ mình trước khi trông chờ vào
cơ quan quản lý hay tính tự giác của doanh nghiệp”. Các nhà đầu tư
nên thận trọng trước thông tin công bố của các doanh nghiệp từng 3
có quá khứ thực hiện BCTC không nhất quán; thậm chí tránh xa cổ
phiếu của các doanh nghiệp này.
Như vậy, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nhận thức
được vấn đề này và thực hiện các bước để ngăn chặn nó xảy ra. Các
công ty nên thường xuyên xem xét báo cáo tài chính của mình và
tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu gian lận tiềm ẩn nào. Họ cũng nên đảm
bảo rằng tất cả nhân viên đều quen thuộc với các nguyên tắc kế
toán và hiểu tầm quan trọng của việc báo cáo tài chính chính xác.
Bằng cách đó, các doanh nghiệp có thể tránh được những sai lầm
tốn kém và tự bảo vệ mình khỏi các hoạt động lừa đảo. Giải pháp
nằm ở việc thực hiện một cách tiếp cận toàn diện để quản lý tài
chính và thực hành kế toán. Các công ty phải đảm bảo rằng hệ
thống kế toán của họ được cập nhật thường xuyên với dữ liệu chính
xác và báo cáo tài chính của họ được kiểm toán thường xuyên để
đảm bảo tính chính xác. Ngoài ra, các công ty nên đầu tư vào các
công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI) và máy học (ML) để phát hiện
các hoạt động gian lận nhanh hơn và chính xác hơn. Bằng cách triển
khai các giải pháp này, các công ty có thể đảm bảo rằng họ đang
đưa ra các quyết định sáng suốt dựa trên dữ liệu chính xác và tránh
được những tổn thất thực sự do lợi nhuận giả tạo. 4