-
Thông tin
-
Quiz
Bài tập cá nhân lý thuyết truyền thông | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Truyền thông cá nhân là một dạng thức hoạt động truyền thông, trong đó các cá nhân tham gia tổ chức thực hiện việc trao đổi thông tin, kiến thức, suy nghĩ, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm..., và chịu những ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lý thuyết truyền thông 37 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Bài tập cá nhân lý thuyết truyền thông | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Truyền thông cá nhân là một dạng thức hoạt động truyền thông, trong đó các cá nhân tham gia tổ chức thực hiện việc trao đổi thông tin, kiến thức, suy nghĩ, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm..., và chịu những ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lý thuyết truyền thông 37 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:









Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
Họ và tên: Lê Hoàng Minh Mã SV: 2451050035 Lớp: TTĐC-A1
Bài tập cá nhân lý thuyết truyền thông Câu 1:
Truyền thông cá nhân là một dạng thức hoạt động truyền thông,
trong đó các cá nhân tham gia tổ chức thực hiện việc trao đổi thông tin,
kiến thức, suy nghĩ, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm..., và chịu
những ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi. Truyền thông
cá nhân có 6 thành tố cơ bản, quan trọng nhất đó là: các nhân vật tham
gia, mục tiêu, nội dung, phương thức, bối cảnh và kênh truyền thông.
Các nhân vật tham gia là thành tố quan trọng đầu tiên, các nhân vật
tham gia có thể là hai hay nhiều người tham gia truyền thông trong 1
không gian và thời gian xác định với các mục tiêu mang tính cá nhân, các
nhân vật tham gia thường được chia thành 3 nhóm là nguồn phát(là nhân
vật phát thông tin), người nhận(là nhân vật tiếp nhận thông tin), nhóm
tham gia ngẫu nhiên hoặc bị ép buộc, ảnh hưởng bởi các cá nhân khác.
Nguồn phát và người nhận đóng vai trò trung tâm trong quá trình truyền
tải và tiếp nhận thông điệp, nguồn phát cần đảm bảo thông tin được chọn
lọc, truyền đạt sao cho dễ hiểu và phù hợp với người nhận, người nhận cần
lắng nghe, chú ý đến thông tin từ nguồn phát, giải mã đúng thông tin,
phản hồi với nguồn phát và nêu ra các câu hỏi thắc mắc. Nhân tố tham gia
góp phần không nhỏ trong truyền thông cá nhân, có vai trò đặc biệt trong
việc truyền đạt và tiếp nhận công việc, đóng vai trò tương tác trong truyền thông cá nhân.
Mục tiêu là thành tố cơ bản và quan trọng trong truyền thông cá nhân,
mục tiêu của truyền thông cá nhân là giúp các cá nhân trao đổi thông tin,
ý tưởng, cảm xúc và quan điểm một cách hiệu quả, tạo sự hiểu biết lẫn
nhau trong các mối quan hệ cá nhân và công việc. Mục đích đầu tiên của
truyền thông cá nhân là “tìm hiểu và phát hiện”, các nhân vật truyền
thông có mục đích là tìm hiểu và phát hiện một cái gì đó, thu nhận thông
tin. Các nhân vật truyền thông tập trung vào việc khám phá, hiểu biết sâu
sắc hơn về thông tin, dữ liệu, thông qua giao tiếp cá nhân có thể thu thập
thông tin, nhận thức và kiến thức mới, từ đó hiểu rõ hơn về các vấn đề liên
quan. Và thông qua xử lý, thẩm định thông tin cá nhân có thể phát hiện và
khám phá những quan điểm khác nhau, các giá trị khác biệt và từ đó
tránh các hành vi đi ngược, trái với việc thực hiện mục tiêu chính của
truyền thông. Mục tiêu thứ hai của truyền thông cá nhân là “thỏa mãn nhu
cầu giao tiếp”, truyền thông cá nhân tập trung vào việc đáp ứng các nhu
cầu giao tiếp cơ bản của con người trong việc trao đổi thông tin, giúp tạo
ra mối liên kết giữa nguồn phát và người nhận, tạo hiệu quả tích cực trong
truyền thông cá nhân. Khi các nhân vật tham gia được thỏa mãn về nhu
cầu giao tiếp thì hoạt động truyền thông cá nhân ấy đạt được hiệu quả
cao. Mục tiêu thứ ba của truyền thông cá nhân là “truyền đạt, giải thích,
thuyết phục”, đây là một quá trình hết sức quan trọng, giúp người gửi
truyền tải thông điệp của mình một cách rõ ràng và có sức thuyết phục
với người nhận. Truyền đạt thông tin phải chính xác và rõ ràng để người
nhận hiểu rõ thông tin, nội dung, truyền tải thông tin là nền tảng của mọi
hình thức giao tiếp, nếu truyền đạt thông tin tốt thì thông tin sẽ được tiếp
nhận dễ dàng và giúp buổi truyền thông cá nhân dễ dàng đạt được mục
đích và sự hiệu quả. Giải thích là làm rõ và diễn giải thông tin sao cho
người nhận hiểu sâu sắc hơn về nội dung được truyền tải, giải thích giúp
người nhận làm sáng tỏ những khía cạnh của thông tin, giúp người nhận
nắm bắt được bản chất cảu vấn đề , làm rõ các câu hỏi hoặc nghi ngờ.
Thuyết phục là quá trình làm cho người khác chấp nhận hoặc tin tưởng
vào quan điểm của mình thông qua lập luận và bằng chứng hợp lý, thuyết
phục người nhận sẽ giúp các cá nhân đạt được những mục tiêu cá nhân,
tập thể, tạo sự đồng thuận trong giao tiếp, giúp dễ dàng trao đổi, tiếp
nhận thông tin. Mục tiêu thứ tư của truyền thông cá nhân là “cùng nhau
giải quyết vấn đề” là quá trình hợp tác giữa hai hay nhiều người nhằm
đạt được giải pháp cho vấn đề chung, đây là một trong những mục tiêu
quan trọng trong giao tiếp, đây là hoạt động mang tính hợp tác, đòi hỏi sự
tin cậy, thấu hiểu, cần sự ủng hộ đồng thuận của cả hai bên, việc này giúp
giao tiếp tạo ra sự kết nối và tăng cường mối quan hệ giữa các bên, nhằm
tìm ra giải pháp chung. Cùng nhau trao đổi và thảo luận để hiểu rõ vấn đề
từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp nhất, đây là
quá trình có lợi cho cả đôi bên, là mối quan hệ cùng nhau phát triển, chia
đều lợi ích. Mục tiêu thứ năm của truyền thông cá nhân là “giải quyết các
xung đột”, đây là một cá trình phức tạp nhưng cần thiết để duy trì mối
quan hệ hài hòa, hiệu quả và lâu dài giữa các cá nhân. Xung đột có thể
phát sinh từ sự khác biệt về quan điểm, lợi ích, giá trị hoặc thậm chí là
cách hiểu sai thông điệp trong quá trình giao tiếp. Giải quyết xung đột tập
trung chủ yếu vào việc nhận diện , giải quyết và ngăn chặn những xung
đột tiềm ẩn hiệu quả. Đầu tiên chính là phải làm cho các thành viên có
mong muốn giải quyết xung đột, các quan điểm cá nhân là rào cản khổng
lồ trong giải quyết xung đột, các quan điểm phải thật sự khách quan, đa
dạng góc nhìn, công tâm, để giải quyết xung đột, trước tiên cần phải xác
định nguồn gốc vấn đề một cách thấu đáo. Thứ hai là sẽ không có một giải
pháp duy nhất cho việc giải quyết xung đột mà phải có gắng tìm ra được
nhóm giải pháp thích hợp nhất, các thành viên phải đưa ra nhiều giải pháp
khác nhau, xây dựng “cái tôi” của các thành viên để họ có thể chấp nhận
quan điểm của người khác, không tức giận khi bị chỉ ra quan điểm của
mình là sai. Quan điểm đưa ra phải phù hợp nhất với tình hình, phải đi
đúng trọng tâm vấn đề, quan điểm phải duy trì sự khách quan và tránh
xung đột, thay vì công kích cá nhân thì quan điểm nên tập trung vào vấn
đề và phải tìm ra các quan điểm chung, tương đồng, tập hợp lại các quan
điểm và đưa ra quan điểm cuối cùng.
Thành tố thứ ba của truyền thông cá nhân là nội dung các thông điệp
trong truyền thông cá nhân, đây là thành tố đóng vai trò cốt lõi vì nó chứa
đựng thông tin mà người gửi muốn truyền tải tới người nhận. Trong truyền
thông cá nhân các thông điệp được truyền tải qua lại giữa các thành viên
tham gia tạo sự liên tục và tác động qua lại của quá trình truyền thông.
Nội dung thông điệp phải rõ ràng, cụ thể, chính xác, điều này tránh sự
nhầm lẫn trong thông điệp, nội dung thông điệp bị sai lệch, ảnh hưởng
trực tiếp tới hiệu quả truyền thông. Nội dung phải cụ thể, rõ ràng về một
vấn đề nào đó, thông tin nội dung phải minh bạch, chính xác, nguồn tin
đảm bảo. Nội dung thông điệp phải liên quan đến đối tượng, nội dung phải
liên quan đến đối tượng tham gia để người tham gia có thể tiếp nhận
thông tin 1 cách dễ dàng, có chủ đích, có đóng góp tích cực trong hoạt
động truyền thông, phải thỏa mãn nhu cầu nào đó của đối tượng tham gia.
Nội dung thông điệp phải tạo được sự tin cậy và tin tưởng cho người phát
thông điệp, nếu nội dung thông điệp tạo niềm tin cho nguồn phát thông
điệp thì người phát sẽ truyền tải thông điệp một cách tự nhiên với sự tin
tưởng vào thông điệp và lan tỏa niềm tin cho người nhận. Nội dung thông
điệp phải tạo sự trao đổi các thông điệp trong truyền thông cá nhân, trao
đổi thông điệp giữa các cá nhân, tạo ra sự giao tiếp, liên tục giao tiếp về
các chủ đề, thông điệp, sự trao đổi giữa các cá nhân trong truyền thông cá
nhân rất quan trọng, tạo sự kết nối giữa các cá nhân, xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân.
Thành tố thứ tư của truyền thông cá nhân là công cụ hay phương tiện
truyền thông cá nhân, công cụ chủ yếu của truyền thông cá nhân nói
riêng là các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ với sự hỗ trợ của người trung
gian và các công cụ kỹ thuật. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết là công cụ quan trọng nhất của con người trong hoạt động truyền
thông, thể hiện bởi các chức năng chủ yếu như thông báo, diễn cảm, tác
động. Chức năng thông báo có vai trò truyền tin, truyền tải các thông điệp
từ người này sang người khác, chức năng diễn cảm có vai trò diễn đạt cảm
xúc, biểu cảm, mong muốn, ý chí, chức năng tác động phụ thuộc vào hiệu
quả của hai chức năng trên. Và tùy thuộc vào các điều kiện để sử dụng
ngôn ngữ như quan hệ vai giữa những người tham gia truyền thông, hoàn
cảnh giao tiếp, mục đích truyền thông, trình độ và ưu thế trong việc sử
dụng ngôn ngữ nói hoặc viết của người tham gia truyền thông, đặc điểm
nhận thức, văn hóa và thái độ của đối tượng truyền thông cá nhân. Và có
thể cá nhân sử dụng hoặc đọc các phương tiện phi ngôn ngữ. Phương tiên
truyền thông cá nhân là những thành phần quan trọng trong quá trình
truyền thông cá nhân, giúp mọi người kết nối và trao đổi thông tin một cách hiệu quả.
Thành tố thứ năm của truyền thông cá nhân là bối cảnh truyền thông,
đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giao tiếp
cá nhân. Nó bao gồm các yếu tố môi trường, tình huống và văn hóa tác
động đến thông tin được truyền tải, các yếu tố không gian, tình huống,
ngữ cảnh chi phối mạnh mẽ cách tổ chức hoạt động truyền thông, nội
dung, tính chất và hình thức của thông điệp. Hiểu và phân tích bối cảnh
giúp các cá nhân điều chỉnh cách giao tiếp, tạo ra sự hiểu biết tốt hơn và
tránh các rào cản không mong muốn trong quá trình giao tiếp.
Thành tố thứ sáu của truyền thông cá nhân là kênh truyền thông cá
nhân, đây là cách thức giúp các cá nhân truyền tải thông tin cho nhau.
Phân tích các kênh truyền thông này giúp hiểu rõ hơn về cách thức giao
tiếp của các cá nhân, sự phù hợp cảu từng kênh trong những bối cảnh
khác nhau và hiệu quả truyền tải.
Truyền thông cá nhân có thể được sử dụng trong các tình huống phổ
biến như gặp gỡ trực tiếp, gọi điện thoại, viết thư cá nhân, vận động hành lang, tư vấn cá nhân.
Gặp gỡ trực tiếp là hoạt động trong đó diễn ra sự gặp gỡ và tiếp xúc
mặt đối mặt của các nhân vật tham gia truyền thông, từ đó tạo ra không
gian gần gũi nhất cho việc truyền tải thông điệp trong một bối cảnh xác
định về không gian và thời gian. Gặp gỡ trực tiếp có ưu thế về trao đổi
thông tin, thông tin được trao đổi qua lại, có sự bàn bạc tranh luận đi đến
sự chấp nhận hay không chấp nhận, đồng tình hay không đồng tình, gặp
gỡ trực tiếp có thể sử dụng các yếu tố kỹ thuật và thủ thuật tâm lý để tạo
hiệu ứng truyền thông, thông tin phản hồi, kết quả hiển thị ngay nhưng
không bền vững, do nội dung giao tiếp bộc lộ trực tiếp nên mức độ sâu
sắc, chính xác và chín chắn của thông tin có phần hạn chế, phụ thuộc vào
khả năng kiềm chế, tính linh hoạt và khả năng xử lý tình huống, sức cảm
hóa, tính nhạy cảm của nhà truyền thông, không lưu lại văn bản.
Gặp gỡ trực tiếp yêu cầu trước khi gặp gỡ, cần chuẩn bị tốt về kế
hoạch, tài liệu, nội dung và bối cảnh nghiên cứu đối tượng. Yêu cầu bắt
đầu từ những vấn đề đơn giản, hấp dẫn, dễ chấp nhận, không bắt đầu với
những quan điểm đối lập. Khi xuất hiện các quan điểm đối lập, phải phân
ra mức độ và tính chất khác nhau để có đối sách tương ứng, sử dụng mở
rộng các quan điểm tương đồng, hoặc chia nhỏ các bất đồng để giải quyết
từng phần. Cần phối hợp hoặc lựa chọn thích hợp bằng hai cách tác động
là lý lẽ hoặc tình cảm. Phải biết khéo tranh thủ yếu tố thời gian, giữ đúng
chữ tín, biết cảm ơn đúng lúc, đúng chỗ, đúng người.
Gọi điện thoại là một trong những trường hợp truyền thông cá nhân,
truyền thông bằng lời nói khi các nhân vật tham gia truyền thông ở
khoảng cách xa nhau, không thể gặp gỡ trực tiếp. Gọi điện thoại có khả
năng truyền đạt thông tin nhanh chóng, chính xác. Với các phương tiện
điện thoại vô tuyến, có thể truyền thông tiếng nói giữa các đối tượng di
động , ở cách xa nhau hoặc truyền văn bản và hình ảnh từ đối tượng này
sang đối tượng khác, nhờ việc lắp đặt hệ thống nhắn tin và trả lời tự động,
thông tin có thể đến với đối tượng ngay cả khi họ đi vắng, đang bận việc,
với tần suất và số lượng lớn. Gọi điện thoại có kết quả truyền thông được
thể hiện ngay, tuy nhiên hiệu quả kinh tế của kênh thông tin này phụ
thuộc vào khoảng cách về không gian, độ dài và dung lượng của cuộc đàm thoại hoặc tin nhắn.
Gọi điện thoại yêu cầu phải biết lắng nghe, thái độ cầu thị, tôn trọng,
biết đặt thêm các câu hỏi để tìm hiểu và khám phá. Thường xuyên phải
kiểm nghiệm tính chính xác của thông tin vừa nhận bằng cách nhắc lại
những ý kiến chính của người đang nói chuyện, phải biết bình tĩnh trước
những phản ứng của người đối thoại, phải biết kiềm chế cảm xúc, không
làm cho cuộc đối thoại bị bế tắc do tranh luận căng thẳng. Phải biết tìm ra
ý nghĩa thực của lời nói khi nghe, biết lái cuộc nói chuyện vào nội dung
chính, chủ đề chính nếu cuộc nói chuyện đi lệch hướng. Biết ăn nói, nói
phải rõ ràng, phát âm chính xác và quan trọng là biết kết thúc cuộc gọi một cách hợp lý.
Viết thư cá nhân là tình huống thứ ba sử dụng truyền thông cá nhân,
viết thư là hình thức dùng thư để trình bày nội dung thông điệp, nhằm
truyền đạt, trình bày, thuyết phục đối tượng hay thông qua đó đưa ra đề
nghị chia sẻ, cộng tác trong quá trình truyền thông hướng tới một mục
đích nào đó. Viết thư được sủ dụng khi muốn nói thẳng vấn vì một lý do
nào đó không thể hoặc khó chuyển tải được qua giao tiếp trực tiếp, khi
người làm truyền thông có nhược điểm về truyền thông qua ngôn ngữ nói,
như khiếm thính hoặc hạn chế về thời gian gặp gỡ trực tiếp, khi muốn vận
động, có những kiến nghị với các vị lãnh đạo, các nhà hoặc định chính
sách, những người có uy tín trong cộng đồng..., khi muốn tận dụng lợi thế
của dạng viết thư để chuyển tải những thông điệt nhằm tác động vào cả
mặt lý trí và tình cảm của đối tượng.
Viết thư yêu cầu tìm hiểu đối tượng nhận thư như họ là ai, tính cách
thế nào, vai trò, sở thích, tâm lý và thị hiếu của họ..., thư cần dược viết
ngắn gọn trực tiếp và tập trung vào vấn đề chủ yếu để làm rõ mục đích
viết thư. Ngôn ngữ trong thư phải chính xác, trang trọng, thể hiện tình
cảm chân thật, xưng hô nhã nhặn, đúng quan hệ, tránh viết theo lối khoa
trương hoặc mệnh lệnh. Qua thư, cần làm cho người nhận thư thấy được
vai trò quan trọng của họ trong việc giải quyết những vấn đề mà người
làm truyền thông đề nghị. Cần bày tỏ lòng biết ơn nếu được quan tâm
đến các vấn đề đã nêu trong thư. Mạnh dạn đề nghị đối tượng trực tiếp trà
lời các yêu cầu đã viết trong thư. Có thể viết thư nhiều lần nhằm tạo sự
thân thiện và nhắc lại các yêu cầu với mong đợi giải quyết. Để viết thư có
hiệu quả, cần phải làm như sau khi viết thư, có thể gọi thiện thoại, đến
thăm nhà hoặc viết thư khác nếu chưa nhận được thông tin phản hồi. Có
thể gửi qua bưu điện, qua thư ký, trợ lý... để đến tay người nhận và không
quên kèm một phong bì có ghi sẵn địa chỉ, có dán tem để người nhận gửi thư trả lại cho bạn.
Vận động hành lang là tình huống thứ tư sử dụng truyền thông cá
nhân, vận động hành lang là nghệ thuật lợi dụng, khai thác các khả năng,
các cơ may để khuyết phục các nhà hoạch định chính sách, các quan chức
Chính phủ, các đại biểu Quốc hội, các nhà hoạt động văn hóa - xã hội có
uy tín hoặc các nhà báo ủng hộ cho các mục tiêu truyền thông, từ đó có
những tác động làm thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho mục tiêu
truyền thông đã đặt ra. Vận động hành lang là tác động nhằm thay đổi các
chính sách, các chương trình hành động mang tầm cỡ quốc gia, khu vực,
hay toàn cầu, từ đó tác động tích cực đến việc thực hiện các mục tiêu lớn
liên quan đến sự nghiệp hay vấn đề mà các chương trình truyền thông
theo đuổi. Đối tượng của vận động hành lang là các nhà hoạch định chính
sách, những người có khả năng ra quyết định và những người có uy tín,
trong cộng đồng hoặc có khả năng ảnh hưởng đến các nhân vật quan
trọng liên quan đến mục tiêu truyền thông.
Vận động hành lang yêu cầu xác định rõ mục đích vận động: hướng
vào đối tượng nào, nhằm tác động vào vấn đề cụ thể nào, ở đâu. Ví dụ:
cán bộ truyền thông của một trung tâm truyền thông và vận động xã hội
về dân số, gia đình và trẻ em hướng mục đích vận động hành lang vào các
đại biểu Quốc hội khi Quốc hội đang thảo luận để có các quyết định trong
việc sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nắm vững đối
tượng: cần tìm hiểu kỹ về đối tượng trước khi gặp gỡ, vì cơ hội và thời gian
gặp gỡ là rất ít, người vận động hành lang phải tìm cách để đối tượng
quan tâm, lắng nghe và có thay đổi trong nhận thức, thái độ và đặc biệt là
phải làm cho họ thay đổi các quyết định theo những mục tiêu của nhà
truyền thông. Nắm vững thông tin về các cơ quan, tổ chức, ủy ban và
công việc mà đối tượng tham gia như chức năng cảu tổ chức và cai trò của
tổ chức với quyết định thông qua, công việc, thời gian, lịch trình thông qua
quyết định, quan hệ nội bộ của các của các cơ quan tổ chức, phong cách
ứng xử chính trị của người đứng đầu cơ quan tổ chức. Chuẩn bị tài liệu và
cung cấp thông tin cho đối tượng vận động hành lang, chú ý tính chính
xác, tính thời sự và cơ sở pháp lý của các tài liệu. Chủ động tạo thời gian
và thời cơ cho các cuộc tiếp xúc.
Tư vấn cá nhân là tình huống thứ năm sử dụng truyền thông cá nhân,
tư vấn cá nhân là quá trình tương tác mặt đối mặt giữa người làm công tác
truyền thông với đối tượng nhằm giúp họ có khả năng đưa ra những quyết
định lựa chọn các giải pháp cho vấn đề của chính họ, sau khi đã được
cung cấp thông tin khách quan, đồng thời hỗ trợ về mặt tình cảm và
phương pháp tiếp cận. Tư vấn góp phần cung cấp thông tin chính xác, rõ
ràng nhằm nâng cao nhận thức, hoặc thay đổi những quan niệm lệch lạc
của đối tượng. Tư vấn là quá trình hỗ trợ, giúp đỡ về mặt nhận thức, tâm
lý và tình cảm, hiểu và làm yên lòng đối tượng cần tư vấn. Tư vấn giúp đối
tượng giải quyết mâu thuẫn trong vấn đề cụ thể, với người khác hoặc
trong chính bản thần họ. Tư vấn giúp đối tượng phân tích khó khăn, tìm ra
những giải pháp hành động và lựa chọn giải pháp hiệu quả để giải quyết
vấn đề. Có thể là một gọi ý thông qua câu chuyện tương tự của người
khác, từ đó đối tượng tư vấn liên tưởng và tự rút ra những kinh nghiệm
cần thiết. Tư vấn trang bị các kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó họ có các
quyết định liên quan đến thay đổi hành vi mâu thuẫn, tư vấn giúp đối
tượng giải quyết mâu thuẫn trong vần đề cụ thể, với người khác hoặc
trong chính bản thần họ. Tư vấn giúp đối tượng phân tích khó khăn, tìm ra
những giải pháp hành động và lựa chọn giải pháp hiệu quả để giải quyết
vấn đề. Có thể là một gọi ý thông qua câu chuyện tương tự của người
khác, từ đó đối tượng tư vấn liên tưởng và tự rút ra những kinh nghiệm
cần thiết. Tư vấn trang bị các kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó họ có các
quyết định liên quan đến thay đổi hành vi.
Tư vấn cá nhân yêu cầu đảm bảo các điều kiện về nguồn lực như
nhân lực (số người được đào tạo đủ trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tư
vấn), tài chính, tài liệu truyền thông và hệ thống dịch vụ đi kèm cho việc
thực hiện các quyết định của đối tượng sau khi được tư vấn. Đây là điều
kiện cơ bản nhất, đảm bảo cho các hoạt động tư vấn cá nhân được thực
hiện thành công. Trong đó, đội ngũ tư vấn viên được đào tạo cá về chuyên
môn và nghiệp vụ tư vấn, đang là một thách thức của ngành truyền thông
ở nước ta hiện nay. Tạo môi trường tư vấn thuận lợi (về không gian), thời
gian. Tư vấn thường hướng vào các vấn đề mang tính chuyên biệt, hoặc
riêng tư, tế nhị, kín đáo. Vì vậy môi trường tư vấn thuận lợi (các phòng tư
vấn cách biệt, đảm bảo không bị người khác nghe thấy các câu chuyện....)
là điều kiện vô cùng quan trọng trong tư vấn cá nhân. Thực hiện tính bảo
mật trong tư vấn cá nhân. Người làm công tác tư vấn cần tuân thủ nguyên
tắc bảo mật những thông tin cá nhân - biết lắng nghe, chia sẻ và luôn giữ
kín chuyện. Đó là một phẩm chất quan trọng, được thể hiện ở tư chất, diện
mạo, phong cách làm việc, tiếp xúc,... để có thể gây dựng niềm tin ngay
từ khi tiếp xúc. Người làm tư vấn phải nắm vững các kỹ năng truyền thông
trực tiếp cơ bàn như kỹ năng tìm hiểu, kỹ năng lắng nghe, quan sát, kỹ
năng truyền đạt, kỹ năng động viên. Câu 2:
Truyền thông nhóm là loại hoạt động truyền thông được thực hiện và
tạo ảnh hưởng trong phạm vi từng/các nhóm xã hội cụ thể. Thông thường
truyền thông nhóm được phân chia thành hai loại chính là truyền thông 1-
1 nhóm và truyền thông trong nhóm.
Truyền thông 1-1 nhóm là truyền thông giữa 1 cá nhân-có vai trò như 1
nhà truyền thông, hướng hoạt động của mình vào đối tượng là 1 nhóm xã
hội nào đó, với các tác động có chủ đích. Truyền thông 1-1 nhóm yêu cầu
có các quy chế hoạt động, các vai xã hội trong nhóm đã xác định cụ thể,
có uy tín với nhóm. Yêu cầu nhà truyền thông hướng hoạt động của mình
vào một nhóm xã hội nào đó với các tác động có chủ đích, tác động và
ảnh hưởng đến một nhóm người xác định, chịu sự tác động trong tính tổng
thể của nó. Truyền thông 1-1 nhóm yêu cầu các nhân vật tham gia truyền
thông phải tuân thủ các nguyên tắc ứng xử, chủ động tham gia hoạt động,
thể hiện và chia sẻ ý tưởng, suy nghĩ, kinh nghiệm, tình cảm của bản thân,
yêu cầu chặt chẽ về các kỹ năng, thái độ, hành vi ứng xử, phải tôn trọng,
thân thiện, chia sẻ, tôn trọng sự khác biệt giữa các thành viên nhóm và giữa các nhóm khác nhau.
Truyền thông trong nhóm là truyền thông giữa các cá nhân trong nhóm
hoặc các nhóm nhỏ trong 1 nhóm lớn hơn. Truyền thông trong nhóm yếu
cầu các nhân vật truyền thông phải tuân thủ các quy tắc của nhóm, các
chuẩn mực của nhóm, phải có tác động phạm vi ảnh hưởng tới các nhóm
xã hội, có chủ đích đến một nhóm xác định, phải tích cực tham gia chia sẻ
thông tin, suy nghĩ, tình cảm. Phải tôn trọng suy nghĩ, tình cảm, quan
điểm riêng, yêu cầu thái độ, hành vi ứng xử phải chuẩn mực, thái độ gần
gũi, tôn trọng, tìm kiếm và chia sẻ tương đồng và tôn trọng sự khác biệt.
Truyền thông nhóm đóng vai trò quan trọng và được ứng dụng rộng rãi
trong các chương trình và chiến dịch truyền thông, giúp tăng cường hiệu
quả trao đổi thông tin, thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan và đạt
được mục tiêu chung. Truyền thông nhóm giúp các thành viên từ nhiều bộ
phận khác nhau trong chương trình, chiến dịch có thể chia sẻ thông tin,
đưa ra giải pháp chung và điều chỉnh chiến lược theo hướng thống nhất,
nhằm đạt được mục tiêu của chiến dịch. Truyền thông nhóm thường được
ứng dụng trong quá trình thảo luận chiến lược và lên kế hoạch cho một
chiến dịch. Truyền thông nhóm giúp khuyến khích các thành viên đóng
góp ý kiến sáng tạo, chia sẻ ý tưởng mới , từ đó tạo ra những giải pháp
truyền thông độc đáo, thu hút sự chú ý của đối tượng mục tiêu. Truyền
thông nhóm giúp phân công việc cho từng thành viên và đảm bảo mọi
người đều nắm rõ nhiệm vụ của mình. Sau khi kết thúc chương trình,
chiến dịch, truyền thông nhóm giúp đội ngũ thảo luận đánh giá lại hiệu
quả truyền thông và rút ra bài học kinh nghiệm. Truyền thông nhóm
không chỉ là công cụ để trao đổi thông tin mà còn giúp các thành viên làm
việc hiệu quả , sáng tạo hơn và phối hợp nhịp nhàng trong các chương
trình, chiến dịch truyền thông lớn.