BÀI TẬP NHÂN TUẦN 3.
ĐỀ BÀI: Trong "Báo cáo chính sách kinh tế ngoại hối của các đối tác
thương mại lớn của Mỹ" vào cuối năm 2020, chính quyền Trump đã đưa Thụy
Việt Nam những nước thao túng tiền tệ thêm Ấn Độ, Thái Lan Đài Loan
vào danh sách giám sát. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ý, Singapore
Malaysia tiếp tục tên trong danh sách này. Theo anh chị, sở nào để Mỹ đưa ra
cáo buộc này cho Việt Nam? Các khuyến nghị chính sách nào để Việt Nam
tránh khỏi các cáo buộc này? Phương án nào theo anh chị khả thi nhất? Tại sao?
BÀI LÀM
Theo luật pháp Mỹ, một nước bị cáo buộc thao túng tiền tệ khi thỏa mãn ba tiêu chí
chính:
Thặng thương mại song phương với Mỹ vượt qua một ngưỡng nhất định.
Thặng tài khoản vãng lai toàn cầu vượt quá một mức nhất định.
Can thiệp một chiều vào thị trường ngoại hối trong khoảng thời gian dài (ví dụ
như mua ngoại tệ nhiều hơn bán ngoại tệ).
Việc Mỹ cáo buộc Việt Nam nước thao túng tiền tệ trong "Báo cáo chính sách kinh tế
ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ" vào cuối năm 2020 dựa trên
một số sở tiêu chí Bộ Tài chính Mỹ sử dụng để đánh giá các đối tác thương mại.
Dưới đây một số do chính như: thặng thương mại hàng hóa song phương với Mỹ
ít nhất 20 tỉ USD; thặng cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2% tổng sản phẩm quốc
nội (GDP); can thiệp một chiều kéo dài trên thị trường ngoại tệ, thể hiện qua việc mua
ròng ngoại tệ. Cụ thể như sau:
-Thặng thương mại song phương lớn với Mỹ: Mỹ cho rằng Việt Nam thặng
thương mại lớn với Mỹ, nghĩa Việt Nam xuất khẩu nhiều hàng hóa sang Mỹ hơn so với
nhập khẩu từ Mỹ. Thặng thương mại này một trong các tiêu chí chính để xác định
thao túng tiền tệ.
Xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Mỹ
Theo Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham), Việt Nam đang gia tăng vị thế
nhà cung cấp hàng đầu trong khu vực ASEAN cho Mỹ; từ một nước thành viên ASEAN
kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ thuộc loại ít nhất, năm 2014 Việt Nam đã trở thành nước
xuất khẩu lớn nhất, chiếm 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu ASEAN vào Mỹ, vượt
Malaysia (19,8%) Thái Lan (14,7%), Indonesia (12,5%), Singapore (9,5%); con số này
thể hơn 30% trước năm 2020 nếu xu hướng này được tiếp tục; không chỉ tăng về khối
lượng, hàng hóa chất lượng giá trị gia tăng cao của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ ngày
một nhiều hơn.
Sự gia tăng đầu từ các công ty Mỹ tại Việt Nam
Mặt khác, Việt Nam đang xếp thấp nhất trong các nước ASEAN- 6 vnhập khẩu từ Mỹ
với 14,37 tỷ USD trong năm 2019. Số liệu này chắc chắn thể tăng lên thông qua việc
cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam đối với các nhà xuất khẩu từ Mỹ, các nhà
nhập khẩu tại Việt Nam các đơn vị phân phối của nhà nhập khẩu. Nếu thương mại
mảng sáng trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Mỹ thì đầu trực tiếp (FDI) của Mỹ tại
Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn so với con số 4000 tỷ USD của Mỹ đầu ra nước
ngoài (tính đến năm 2017) FDI của Mỹ tại khu vực châu Á ASEAN. Tính đến cuối
năm 2019, tổng vốn đăng đầu của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam đạt hơn 11 tỷ
USD, đứng thứ 11 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ dự án đầu tại Việt Nam.
(GS-TSKH Nguyễn Mại)
Sự dịch chuyển sản xuất toàn cầu : Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung,
nhiều công ty đã chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam để tránh thuế quan
cao. Điều này làm tăng lượng hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ.
- : Tài khoản vãng lai của Việt Nam cũng thặng Thặng tài khoản vãng lai lớn
lớn, tức dòng tiền vào (bao gồm xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, kiều hối, đầu nước
ngoài) vượt qua dòng tiền ra. Thặng tài khoản vãng lai lớn thể cho thấy rằng quốc
gia đó đang tích lũy ngoại tệ nhiều hơn cần thiết.
Thặng thương mại hàng hóa dịch vụ : Việt Nam liên tục duy trì thặng thương
mại hàng hóa dịch vụ trong những năm gần đây. Mặc đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức do dịch Covid-19, nhưng với nỗ lực vượt bậc trong năm 2020, Việt Nam vẫn
đạt được kỷ lục mới về quy kim ngạch xuất - nhập khẩu. Tổng trị giá xuất - nhập
khẩu hàng hóa của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm 2019. Trong đó trị giá
hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0% tương ứng tăng 18,39 tỷ USD nhập
khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% tương ứng tăng 9,31 tỷ USD. Cán cân thương mại
hàng hóa của cả nước vào cuối năm 2020 đạt giá trị thặng 19,95 tỷ USD, mức cao
nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Kim ngạch xuất - nhập khẩu ấn .
tượng đã đưa Việt Nam đứng vị trí 22 thế giới về quy kim ngạch năng lực xuất
khẩu, vị trí 26 về quy thương mại quốc tế đây chính bước tạo đà bứt phá cho
công tác xuất - nhập khẩu trong giai đoạn tới.(theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính)
Dòng vốn FDI (Đầu trực tiếp nước ngoài) : Việt Nam điểm đến hấp dẫn của nhiều
nhà đầu nước ngoài nhờ vào môi trường kinh doanh ổn định chi phí lao động cạnh
tranh. Về diễn tiến cụ thể của dòng vốn FDI, sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam
đã đón một 2007. Tuy nhiên, nhiều do, đặc biệt khủng hoảng tài chính toàn cầu
năm 2008 khủng hoảng nợ công châu Âu vào năm 2010, dòng vốn FDI vào Việt Nam
trong giai đoạn 2009 - 2012 sự sụt giảm đáng kể, trước khi hồi phục lại dao động
tương đối ổn định trong giai đoạn kế tiếp 2013 - 2019. Về cấu vốn FDI trong giai đoạn
này, giá trị vốn đăng cấp mới luôn cao hơn (gấp khoảng 2-3 lần) vốn đăng điều
chỉnh, cho thấy Việt Nam liên tục thu hút các nhà đầu mới vào thị trường. Bước sang
năm 2021, mặc tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam diễn biền phức tạp hơn
năm 2020, kết quả thu hút đầu FDI vào Việt Nam 11 tháng đầu năm 2021 vẫn tương
đối khả quan. Tổng lượng vốn đăng mới đạt 14,1 tỷ USD, tăng 3,76% so với cùng kỳ;
trong khi tổng lượng vốn đăng điều chỉnh đạt trên 8 tỷ USD, tăng tới 26,7% so với
cùng kỳ năm 2020.
Hình 1: cấu vốn đăng số dự án đầu FDI vào Việt Nam theo ngành (lũy
kế đến 20/11/2021)
Theo: Cục đầu nước ngoài - Bộ Kế hoạch Đầu 2021
- Kiều hối : Việt Nam nhận được lượng kiều hối lớn hàng năm từ cộng đồng người Việt
nước ngoài. Trong báo cáo cập nhật dữ liệu kiều hối toàn cầu mới nhất vừa công bố,
Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, quan này đã điều chỉnh ước tính lượng kiều hối về
Việt Nam năm 2020 từ mức 15,7 tỷ USD của báo cáo trước đó, lên đến 17,2 tỷ USD.
Top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất trong số các quốc gia thu nhập thấp trung
bình
Theo đó, Việt Nam thuộc top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất trong số các quốc gia
thu nhập thấp trung bình.Đồng thời, với lượng kiều hối chảy về tương đương 5% GDP
năm 2020, Việt Nam cũng quốc gia nằm trong nhóm 10 nước tại Đông Á Thái Bình
dương tỷ trọng kiều hối trên GDP cao nhất. Các quốc gia đứng trên Việt Nam hầu hết
đều những nước rất nhỏ với dân số khoảng 1 triệu người trở xuống (ngoại trừ
Philippines).
Du lịch quốc tế : Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam 3
tháng đầu năm liên tiếp tăng trưởng, đạt 4,6 triệu lượt khách. Nếu theo đà tăng trưởng
này, đến cuối năm, lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ phục hồi hoàn toàn, thậm chí
tăng so với năm 2019. Số liệu từ Cục du lịch Quốc gia cũng chỉ ra trong 6 năm trước dịch
(2014-2019), tổng lượng khách nội địa gấp 5-7 lần lượng khách quốc tế đến nhưng doanh
thu từ khách quốc tế cao hơn 1,4 -1,6 lần. Mức chi trả cho chuyến du lịch tại Việt Nam
khách quốc tế giai đoạn này cũng cao 5-9 lần so với khách Việt. Năm 2019 bình quân
khách nội địa chi tiêu 45,25 USD một ngày. Trong khi đó, một ngày khách quốc tế chi
132 USD - gấp 3 lần. Top 10 thị trường khách chi tiêu nhiều nhất tại Việt Nam trước dịch
Philippines, Bỉ, Mỹ, Australia, Đan Mạch, Na Uy, Lan, Canada, Đức, Tây Ban
Nha. (theo Niên giám thống 2022 của Tổng cục Thống kê)
Chính sách tiền tệ tài chính ổn định : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì chính
sách tiền tệ tài chính ổn định, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu thu
hút đầu nước ngoài.
Dự trữ ngoại hối tăng: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm
gần đây, một phần nhờ vào thặng cán cân vãng lai. Báo cáo cập nhật vào tháng 3/2021
của Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( IMF ) riêng về Việt Nam cho thấy những dữ liệu dự báo
đáng chú ý. Trước hết, theo báo cáo này, quy dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã gia
tăng mạnh mẽ trong năm 2020 dự báo tiếp tục vượt xa mốc 100 tỷ USD trong năm
2021. Dữ liệu của IMF cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến cuối năm 2020 đã
đạt 94,8 tỷ USD, đánh dấu chuỗi gia tăng mạnh mẽ kể từ năm 2016. Và theo dự báo của
tổ chức này, quy đó sẽ tiếp tục tăng mạnh trong năm 2021 với dự kiến đạt 113,7 tỷ
USD.
Một chỉ tiêu đang thu hút sự chú ý trên thị trường thời gian gần đây Ngân hàng Nhà
nước tính toán thận trọng hơn về tăng trưởng tín dụng năm nay, thậm chí đồn đoán
"siết lại". Tuy nhiên, theo dự báo của IMF, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam năm nay
sẽ vẫn duy trì tốc độ như năm vừa qua.
- : Mỹ cáo buộc Việt Nam can thiệp vào thị trường Can thiệp thị trường ngoại hối
ngoại hối để duy trì tỷ giá hối đoái lợi cho xuất khẩu. Mua vào ngoại tệ để kiểm soát
tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện các
giao dịch mua vào ngoại tệ để kiểm soát tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam (VND) so với
đồng USD. Mục tiêu của các giao dịch này giữ tỷ giá ổn định hoặc làm giảm giá trị
đồng VND, từ đó giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn trên thị
trường quốc tế. Việt Nam đã liên tục tăng dự trữ ngoại hối trong những năm gần đây.
Dự trữ ngoại hối cao thường kết quả của việc NHNN mua vào ngoại tệ từ thị trường
trong nước. Điều này thể được hiểu một nỗ lực nhằm duy trì tỷ giá hối đoái lợi
cho xuất khẩu. Theo đó, NHNN sẽ can thiệp vào thị trường hối đoái với mục tiêu ổn định
tỷ giá, kiểm soát lạm phát, phù hợp với các mục tiêu chung của chính sách tiền tệ. Trên
thực tế, tỷ giá VND trong năm 2020 được neo tương đối ổn định với USD (Hình 2). Các
hành động can thiệp của NHNN phù hợp với nguyên tắc thị trường, với thông lệ quốc
tế không vi phạm về “thao túng tiền tệ” (Theo PhamNguyen,2021)
Tuy nhiên, đến đầu năm 2021, NHNN đã bất ngờ không niêm yết tỷ giá ngoại tệ giao
ngay ngừng mua ngoại tệ giao ngay. Thay vào đó, NHNN yết tỷ giá kỳ hạn 6 tháng
thể hủy ngang đối với USD.
2. THỰC TẾ KINH DOANH ĐIỀU HÀNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM QUA (GIẢI THÍCH)
Thặng thương mại song phương với Hoa Kỳ kết quả của hàng loạt yếu tố liên
quan tới các đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.
Thặng thương mại với Hoa Kỳ lớn nhiều do nhưng chủ yếu do cấu trúc
của cán cân thương mại Việt Nam. Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu trong
những năm qua phản ánh quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng kinh tế
thị trường
Về cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, kể từ khi Hiệp định thương
mại Việt Nam-Mỹ được kết vào năm 2000, cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt
Nam đã thay đổi đáng kể. Nếu trước đây, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu vào Mỹ các
nhóm hàng như dệt may, da giày… thì nay đã thêm nhóm hàng nông, thủy hải
sản.
Thặng thương mại trong năm 2020,Việt Nam thành công trong công tác thực
hiện mục tiêu kép, vừa chống dịch vừa ổn định, phát triển kinh tế. Như vậy, không
thể biến sự thành công nổi trội trong phòng chống dịch Covid-19 cùng những nỗ
lực của Việt Nam trong hỗ trợ các quốc gia khác ứng phó với dịch bệnh trở thành
do ghép Việt Nam vào cáo buộc quốc gia thao túng tiền tệ…
Việt Nam không chủ trương phá giá tiền tệ. Những năm qua, Việt Nam thực hiện
chính sách tỷ giá trung tâm trong khuôn khổ chính sách tiền tệ chung với mục tiêu nhất
quán kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế mô, không mục tiêu giảm giá đồng tiền
để tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không công bằng.
Vì: xuất khẩu xuất siêu chủ yếu do các công ty FDI Việt Nam là động lực hưởng
lợi chính, trong khi cộng đồng doanh nghiệp trong nước thường nhập siêu. Hơn nữa, Việt
Nam cũng không lợi khi phá giá đồng tiền do một khi đồng nội tệ bị cố ý làm mất giá
sẽ không chỉ làm tăng giá sinh hoạt, giá nhập khẩu còn gây hệ quả tạo lạm phát,
tăng chi phí đầu vào cho sản xuất tăng nợ quốc gia.
Việt Nam không can thiệp một chiều vào thị trường ngoại hối.
Hoạt động mua ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam về mặt bản chất
quá trình chuyển đổi ngoại tệ sang tiền VND từ các nhà đầu tư, xuất khẩu người nhận
kiều hối (cũng phải bán ngoại tệ để lấy VND tiêu dùng), để bảo đảm người ngoại tệ
không dùng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong nước. Hoạt động này theo đúng
quy định của pháp luật Việt Nam, cũng phù hợp thông lệ như nhiều nước khác.
Việc cho rằng Việt Nam đã mua ngoại hối nhằm định ra giá trị tiền VND dưới giá trị thật
cũng không căn cứ thực tế. Việc NHNN mua vào ngoại tệ thực hiện chức năng
chuyển hoá các đồng ngoại tệ để giúp người dân tại lãnh thổ Việt Nam thể dùng tiền
VND. NHNN chỉ mua vào khi thị trường ngoại tệ, đồng thời, NHNN cũng luôn chủ
động bán ra để ổn định tỷ giá VND/USD duy trì trạng thái kinh tế mô.
Hơn nữa, cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu do nhận tiền kiều hối từ nước ngoài về.
Đây tiền người Việt Nam nước ngoài chuyển về trợ cấp cho người thân trong
nước tiền do người lao động Việt Nam nước ngoài chuyển về. Phải khẳng định kiều
hối chuyển về yếu tố khách quan, không phải do tỉ giá cao hay thấp. Do đó, tỉ giá
không phải yếu tố làm cán cân vãng lai thặng vượt quá tiêu chí Mỹ quy định mức
2% GDP.
Từ những phân tích nêu trên thể khẳng định, Việt Nam không hề thao túng
tiền tệ các chỉ số Mỹ đưa ra cũng không đúng với hoàn cảnh nền kinh tế
của Việt Nam
3. CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
-Tăng cường minh bạch công khai thông tin: Việt Nam nên công khai minh bạch các thông tin
về dự trữ ngoại hối, các biện pháp can thiệp vào thị trường ngoại hối các chính sách tiền tệ.
Điều này sẽ giúp xây dựng lòng tin giảm bớt các nghi ngờ về việc can thiệp tỷ giá.
- : Giảm tần suất mức độ can thiệp Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối
vào thị trường ngoại hối để tỷ giá hối đoái phản ánh đúng cung cầu của thị trường giúp tránh
các cáo buộc về thao túng tỷ giá.
- : Thúc đẩy xuất khẩu sang nhiều thị trường khác ngoài Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Mỹ để giảm thặng thương mại song phương với Mỹ giúp giảm áp lực sự phụ thuộc vào
một thị trường duy nhất.
- : Đẩy mạnh cải cách cấu kinh tế để tăng cường sứcThực hiện các cải cách kinh tế cấu
mạnh nội tại khả năng cạnh tranh của nền kinh tế bao gồm cải thiện môi trường đầu tư,
nâng cao năng suất lao động thúc đẩy đổi mới công nghệ.
- : Tăng cường phát triển thị trường tài chính nội địa đểPhát triển thị trường tài chính nội địa
giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài ổn định hệ thống tài chính.
4. PHƯƠNG ÁN KHẢ THI THEO Ý KIẾN NHÂN
Phương án: Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối
do:
-Phù hợp với xu hướng quốc tế: Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối một
trong những khuyến nghị phổ biến của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF WB giúp Việt
Nam hòa nhập tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.
-Xây dựng lòng tin của các đối tác thương mại: Việc minh bạch ít can thiệp sẽ giúp xây dựng
lòng tin với các đối tác thương mại, đặc biệt Mỹ làm giảm bớt các cáo buộc áp lực từ bên
ngoài.
-Tăng tính tự chủ của nền kinh tế: Việc giảm bớt can thiệp giúp nền kinh tế tự điều chỉnh theo
cung cầu thực tế, từ đó tăng tính tự chủ bền vững của nền kinh tế giúp Việt Nam tránh phụ
thuộc quá nhiều vào các biện pháp can thiệp ngắn hạn.
-Cải thiện hình ảnh quốc tế: Một nền kinh tế minh bạch ít can thiệp sẽ cải thiện hình ảnh của
Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút thêm đầu nước ngoài hỗ trợ phát triển kinh tế bền
vững.

Preview text:

BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN 3.
ĐỀ BÀI: Trong "Báo cáo chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác
thương mại lớn của Mỹ" vào cuối năm 2020, chính quyền Trump đã đưa Thụy Sĩ và
Việt Nam là những nước thao túng tiền tệ và thêm Ấn Độ, Thái Lan và Đài Loan
vào danh sách giám sát. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ý, Singapore và
Malaysia tiếp tục có tên trong danh sách này. Theo anh chị, cơ sở nào để Mỹ đưa ra
cáo buộc này cho Việt Nam? Các khuyến nghị chính sách vĩ mô nào để Việt Nam
tránh khỏi các cáo buộc này? Phương án nào theo anh chị là khả thi nhất? Tại sao?
BÀI LÀM 1. CƠ SỞ
Theo luật pháp Mỹ, một nước bị cáo buộc thao túng tiền tệ khi thỏa mãn ba tiêu chí chính: 
Thặng dư thương mại song phương với Mỹ vượt qua một ngưỡng nhất định. 
Thặng dư tài khoản vãng lai toàn cầu vượt quá một mức nhất định. 
Can thiệp một chiều vào thị trường ngoại hối trong khoảng thời gian dài (ví dụ
như mua ngoại tệ nhiều hơn bán ngoại tệ).
Việc Mỹ cáo buộc Việt Nam là nước thao túng tiền tệ trong "Báo cáo chính sách kinh tế
vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ" vào cuối năm 2020 dựa trên
một số cơ sở và tiêu chí mà Bộ Tài chính Mỹ sử dụng để đánh giá các đối tác thương mại.
Dưới đây là một số lý do chính như: thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Mỹ
ít nhất 20 tỉ USD; thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2% tổng sản phẩm quốc
nội (GDP); can thiệp một chiều và kéo dài trên thị trường ngoại tệ, thể hiện qua việc mua
ròng ngoại tệ. Cụ thể như sau:
-Thặng dư thương mại song phương lớn với Mỹ: Mỹ cho rằng Việt Nam có thặng dư
thương mại lớn với Mỹ, nghĩa là Việt Nam xuất khẩu nhiều hàng hóa sang Mỹ hơn so với
nhập khẩu từ Mỹ. Thặng dư thương mại này là một trong các tiêu chí chính để xác định thao túng tiền tệ.
Xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Mỹ
Theo Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham), Việt Nam đang gia tăng vị thế là
nhà cung cấp hàng đầu trong khu vực ASEAN cho Mỹ; từ một nước thành viên ASEAN
có kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ thuộc loại ít nhất, năm 2014 Việt Nam đã trở thành nước
xuất khẩu lớn nhất, chiếm 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu ASEAN vào Mỹ, vượt
Malaysia (19,8%) Thái Lan (14,7%), Indonesia (12,5%), Singapore (9,5%); con số này có
thể hơn 30% trước năm 2020 nếu xu hướng này được tiếp tục; không chỉ tăng về khối
lượng, hàng hóa chất lượng và giá trị gia tăng cao của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ ngày một nhiều hơn.
Sự gia tăng đầu tư từ các công ty Mỹ tại Việt Nam
Mặt khác, Việt Nam đang xếp thấp nhất trong các nước ASEAN- 6 về nhập khẩu từ Mỹ
với 14,37 tỷ USD trong năm 2019. Số liệu này chắc chắn có thể tăng lên thông qua việc
cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam đối với các nhà xuất khẩu từ Mỹ, các nhà
nhập khẩu tại Việt Nam và các đơn vị phân phối của nhà nhập khẩu. Nếu thương mại là
mảng sáng trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Mỹ thì đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ tại
Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn so với con số 4000 tỷ USD của Mỹ đầu tư ra nước
ngoài (tính đến năm 2017) và FDI của Mỹ tại khu vực châu Á và ASEAN. Tính đến cuối
năm 2019, tổng vốn đăng ký đầu tư của doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam đạt hơn 11 tỷ
USD, đứng thứ 11 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
(GS-TSKH Nguyễn Mại)
Sự dịch chuyển sản xuất toàn cầu
: Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung,
nhiều công ty đã chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam để tránh thuế quan
cao. Điều này làm tăng lượng hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ.
- Thặng dư tài khoản vãng lai lớn: Tài khoản vãng lai của Việt Nam cũng có thặng dư
lớn, tức là dòng tiền vào (bao gồm xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, kiều hối, đầu tư nước
ngoài) vượt qua dòng tiền ra. Thặng dư tài khoản vãng lai lớn có thể cho thấy rằng quốc
gia đó đang tích lũy ngoại tệ nhiều hơn cần thiết.
Thặng dư thương mại hàng hóa và dịch vụ
: Việt Nam liên tục duy trì thặng dư thương
mại hàng hóa và dịch vụ trong những năm gần đây. Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức do dịch Covid-19, nhưng với nỗ lực vượt bậc trong năm 2020, Việt Nam vẫn
đạt được kỷ lục mới về quy mô kim ngạch xuất - nhập khẩu. Tổng trị giá xuất - nhập
khẩu hàng hóa của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm 2019. Trong đó trị giá
hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0% tương ứng tăng 18,39 tỷ USD và nhập
khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% tương ứng tăng 9,31 tỷ USD. Cán cân thương mại
hàng hóa của cả nước vào cuối năm 2020 đạt giá trị thặng dư 19,95 tỷ USD, là mức cao
nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Kim ngạch xuất - nhập khẩu ấn .
tượng đã đưa Việt Nam đứng vị trí 22 thế giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất
khẩu, vị trí 26 về quy mô thương mại quốc tế và đây chính là bước tạo đà bứt phá cho
công tác xuất - nhập khẩu trong giai đoạn tới.(theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính)
Dòng vốn FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
: Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của nhiều
nhà đầu tư nước ngoài nhờ vào môi trường kinh doanh ổn định và chi phí lao động cạnh
tranh. Về diễn tiến cụ thể của dòng vốn FDI, sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam
đã đón một 2007. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, đặc biệt là khủng hoảng tài chính toàn cầu
năm 2008 và khủng hoảng nợ công châu Âu vào năm 2010, dòng vốn FDI vào Việt Nam
trong giai đoạn 2009 - 2012 có sự sụt giảm đáng kể, trước khi hồi phục lại và dao động
tương đối ổn định trong giai đoạn kế tiếp 2013 - 2019. Về cơ cấu vốn FDI trong giai đoạn
này, giá trị vốn đăng ký cấp mới luôn cao hơn (gấp khoảng 2-3 lần) vốn đăng ký điều
chỉnh, cho thấy Việt Nam liên tục thu hút các nhà đầu tư mới vào thị trường. Bước sang
năm 2021, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam diễn biền phức tạp hơn
năm 2020, kết quả thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam 11 tháng đầu năm 2021 vẫn tương
đối khả quan. Tổng lượng vốn đăng ký mới đạt 14,1 tỷ USD, tăng 3,76% so với cùng kỳ;
trong khi tổng lượng vốn đăng ký điều chỉnh đạt trên 8 tỷ USD, tăng tới 26,7% so với cùng kỳ năm 2020.
Hình 1: Cơ cấu vốn đăng ký và số dự án đầu tư FDI vào Việt Nam theo ngành (lũy kế đến 20/11/2021)
Theo: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2021 - Kiều hối
: Việt Nam nhận được lượng kiều hối lớn hàng năm từ cộng đồng người Việt ở
nước ngoài. Trong báo cáo cập nhật dữ liệu kiều hối toàn cầu mới nhất vừa công bố,
Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, cơ quan này đã điều chỉnh ước tính lượng kiều hối về
Việt Nam năm 2020 từ mức 15,7 tỷ USD của báo cáo trước đó, lên đến 17,2 tỷ USD.
Top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất trong số các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình
Theo đó, Việt Nam thuộc top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất trong số các quốc gia có
thu nhập thấp và trung bình.Đồng thời, với lượng kiều hối chảy về tương đương 5% GDP
năm 2020, Việt Nam cũng là quốc gia nằm trong nhóm 10 nước tại Đông Á – Thái Bình
dương có tỷ trọng kiều hối trên GDP cao nhất. Các quốc gia đứng trên Việt Nam hầu hết
đều là những nước rất nhỏ với dân số khoảng 1 triệu người trở xuống (ngoại trừ Philippines). Du lịch quốc tế
: Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam 3
tháng đầu năm liên tiếp tăng trưởng, đạt 4,6 triệu lượt khách. Nếu theo đà tăng trưởng
này, đến cuối năm, lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ phục hồi hoàn toàn, thậm chí
tăng so với năm 2019. Số liệu từ Cục du lịch Quốc gia cũng chỉ ra trong 6 năm trước dịch
(2014-2019), tổng lượng khách nội địa gấp 5-7 lần lượng khách quốc tế đến nhưng doanh
thu từ khách quốc tế cao hơn 1,4 -1,6 lần. Mức chi trả cho chuyến du lịch tại Việt Nam ở
khách quốc tế giai đoạn này cũng cao 5-9 lần so với khách Việt. Năm 2019 bình quân
khách nội địa chi tiêu 45,25 USD một ngày. Trong khi đó, một ngày khách quốc tế chi
132 USD - gấp 3 lần. Top 10 thị trường khách chi tiêu nhiều nhất tại Việt Nam trước dịch
là Philippines, Bỉ, Mỹ, Australia, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Canada, Đức, Tây Ban
Nha. (theo Niên giám thống kê 2022 của Tổng cục Thống kê)
Chính sách tiền tệ và tài chính ổn định
: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì chính
sách tiền tệ và tài chính ổn định, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu và thu
hút đầu tư nước ngoài.
Dự trữ ngoại hối tăng: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm
gần đây, một phần nhờ vào thặng dư cán cân vãng lai. Báo cáo cập nhật vào tháng 3/2021
của Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( IMF ) riêng về Việt Nam cho thấy những dữ liệu và dự báo
đáng chú ý. Trước hết, theo báo cáo này, quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã gia
tăng mạnh mẽ trong năm 2020 và dự báo tiếp tục vượt xa mốc 100 tỷ USD trong năm
2021. Dữ liệu của IMF cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến cuối năm 2020 đã
đạt 94,8 tỷ USD, đánh dấu chuỗi gia tăng mạnh mẽ kể từ năm 2016. Và theo dự báo của
tổ chức này, quy mô đó sẽ tiếp tục tăng mạnh trong năm 2021 với dự kiến đạt 113,7 tỷ USD.
Một chỉ tiêu đang thu hút sự chú ý trên thị trường thời gian gần đây là Ngân hàng Nhà
nước tính toán thận trọng hơn về tăng trưởng tín dụng năm nay, thậm chí có đồn đoán
"siết lại". Tuy nhiên, theo dự báo của IMF, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam năm nay
sẽ vẫn duy trì tốc độ như năm vừa qua.
- Can thiệp thị trường ngoại hối: Mỹ cáo buộc Việt Nam can thiệp vào thị trường
ngoại hối để duy trì tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu. Mua vào ngoại tệ để kiểm soát
tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện các
giao dịch mua vào ngoại tệ để kiểm soát tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam (VND) so với
đồng USD. Mục tiêu của các giao dịch này là giữ tỷ giá ổn định hoặc làm giảm giá trị
đồng VND, từ đó giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn trên thị
trường quốc tế. Và Việt Nam đã liên tục tăng dự trữ ngoại hối trong những năm gần đây.
Dự trữ ngoại hối cao thường là kết quả của việc NHNN mua vào ngoại tệ từ thị trường
trong nước. Điều này có thể được hiểu là một nỗ lực nhằm duy trì tỷ giá hối đoái có lợi
cho xuất khẩu. Theo đó, NHNN sẽ can thiệp vào thị trường hối đoái với mục tiêu ổn định
tỷ giá, kiểm soát lạm phát, phù hợp với các mục tiêu chung của chính sách tiền tệ. Trên
thực tế, tỷ giá VND trong năm 2020 được neo tương đối ổn định với USD (Hình 2). Các
hành động can thiệp của NHNN là phù hợp với nguyên tắc thị trường, với thông lệ quốc
tế và không vi phạm về “thao túng tiền tệ” (Theo PhamNguyen,2021)
Tuy nhiên, đến đầu năm 2021, NHNN đã bất ngờ không niêm yết tỷ giá ngoại tệ giao
ngay và ngừng mua ngoại tệ giao ngay. Thay vào đó, NHNN yết tỷ giá kỳ hạn 6 tháng có
thể hủy ngang đối với USD.
2. THỰC TẾ KINH DOANH VÀ ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM QUA (GIẢI THÍCH)
Thặng dư thương mại song phương với Hoa Kỳ là kết quả của hàng loạt yếu tố liên
quan tới các đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

 Thặng dư thương mại với Hoa Kỳ lớn có nhiều lý do nhưng chủ yếu do cấu trúc
của cán cân thương mại Việt Nam. Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu trong
những năm qua phản ánh quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường
 Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, kể từ khi Hiệp định thương
mại Việt Nam-Mỹ được ký kết vào năm 2000, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt
Nam đã thay đổi đáng kể. Nếu trước đây, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu vào Mỹ các
nhóm hàng như dệt may, da giày… thì nay đã có thêm nhóm hàng nông, thủy hải sản.
 Thặng dư thương mại trong năm 2020,Việt Nam thành công trong công tác thực
hiện mục tiêu kép, vừa chống dịch vừa ổn định, phát triển kinh tế. Như vậy, không
thể biến sự thành công nổi trội trong phòng chống dịch Covid-19 cùng những nỗ
lực của Việt Nam trong hỗ trợ các quốc gia khác ứng phó với dịch bệnh trở thành
lý do ghép Việt Nam vào cáo buộc quốc gia thao túng tiền tệ…
Việt Nam không chủ trương phá giá tiền tệ. Những năm qua, Việt Nam thực hiện
chính sách tỷ giá trung tâm trong khuôn khổ chính sách tiền tệ chung với mục tiêu nhất
quán là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, không có mục tiêu giảm giá đồng tiền
để tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không công bằng.
Vì: xuất khẩu và xuất siêu chủ yếu do các công ty FDI ở Việt Nam là động lực và hưởng
lợi chính, trong khi cộng đồng doanh nghiệp trong nước thường nhập siêu. Hơn nữa, Việt
Nam cũng không có lợi khi phá giá đồng tiền do một khi đồng nội tệ bị cố ý làm mất giá
sẽ không chỉ làm tăng giá sinh hoạt, giá nhập khẩu mà còn gây hệ quả là tạo lạm phát,
tăng chi phí đầu vào cho sản xuất và tăng nợ quốc gia.
Việt Nam không can thiệp một chiều vào thị trường ngoại hối.
Hoạt động mua ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam về mặt bản chất là
quá trình chuyển đổi ngoại tệ sang tiền VND từ các nhà đầu tư, xuất khẩu và người nhận
kiều hối (cũng phải bán ngoại tệ để lấy VND tiêu dùng), để bảo đảm người có ngoại tệ
không dùng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong nước. Hoạt động này theo đúng
quy định của pháp luật Việt Nam, cũng phù hợp thông lệ như nhiều nước khác.
Việc cho rằng Việt Nam đã mua ngoại hối nhằm định ra giá trị tiền VND dưới giá trị thật
cũng không có căn cứ thực tế. Việc NHNN mua vào ngoại tệ là thực hiện chức năng
chuyển hoá các đồng ngoại tệ để giúp người dân tại lãnh thổ Việt Nam có thể dùng tiền
VND. NHNN chỉ mua vào khi thị trường dư ngoại tệ, đồng thời, NHNN cũng luôn chủ
động bán ra để ổn định tỷ giá VND/USD và duy trì trạng thái kinh tế vĩ mô.
Hơn nữa, cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu do nhận tiền kiều hối từ nước ngoài về.
Đây là tiền mà người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về trợ cấp cho người thân trong
nước và tiền do người lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển về. Phải khẳng định kiều
hối chuyển về là yếu tố khách quan, không phải do tỉ giá cao hay thấp. Do đó, tỉ giá
không phải là yếu tố làm cán cân vãng lai thặng dư vượt quá tiêu chí Mỹ quy định mức 2% GDP.
Từ những phân tích nêu trên có thể khẳng định, Việt Nam không hề thao túng
tiền tệ và các chỉ số mà Mỹ đưa ra cũng không đúng với hoàn cảnh nền kinh tế của Việt Nam
3. CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
-Tăng cường minh bạch và công khai thông tin: Việt Nam nên công khai minh bạch các thông tin
về dự trữ ngoại hối, các biện pháp can thiệp vào thị trường ngoại hối và các chính sách tiền tệ.
Điều này sẽ giúp xây dựng lòng tin và giảm bớt các nghi ngờ về việc can thiệp tỷ giá.
- Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối: Giảm tần suất và mức độ can thiệp
vào thị trường ngoại hối để tỷ giá hối đoái phản ánh đúng cung cầu của thị trường giúp tránh
các cáo buộc về thao túng tỷ giá. -
: Thúc đẩy xuất khẩu sang nhiều thị trường khác ngoài
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Mỹ để giảm thặng dư thương mại song phương với Mỹ giúp giảm áp lực và sự phụ thuộc vào
một thị trường duy nhất.
- Thực hiện các cải cách kinh tế cơ cấu: Đẩy mạnh cải cách cơ cấu kinh tế để tăng cường sức
mạnh nội tại và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế bao gồm cải thiện môi trường đầu tư,
nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy đổi mới công nghệ. - : Tăng cường phát triển
Phát triển thị trường tài chính nội địa
thị trường tài chính nội địa để
giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài và ổn định hệ thống tài chính.
4. PHƯƠNG ÁN KHẢ THI THEO Ý KIẾN CÁ NHÂN
Phương án: Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối Lý do:
-Phù hợp với xu hướng quốc tế: Giảm bớt can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối là một
trong những khuyến nghị phổ biến của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và WB giúp Việt
Nam hòa nhập tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.
-Xây dựng lòng tin của các đối tác thương mại: Việc minh bạch và ít can thiệp sẽ giúp xây dựng
lòng tin với các đối tác thương mại, đặc biệt là Mỹ làm giảm bớt các cáo buộc và áp lực từ bên ngoài.
-Tăng tính tự chủ của nền kinh tế: Việc giảm bớt can thiệp giúp nền kinh tế tự điều chỉnh theo
cung cầu thực tế, từ đó tăng tính tự chủ và bền vững của nền kinh tế giúp Việt Nam tránh phụ
thuộc quá nhiều vào các biện pháp can thiệp ngắn hạn.
-Cải thiện hình ảnh quốc tế: Một nền kinh tế minh bạch và ít can thiệp sẽ cải thiện hình ảnh của
Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút thêm đầu tư nước ngoài và hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững.