








Preview text:
Lịch sử Đảng
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương giai đoạn 36-39
1. Điều kiện lịch sử
-Ở quốc tế, để giải quyết những hậu quả của cuộc khủng hỏang kinh tế
1929-1933, ở một số nước tư bản (Đức, Ý,...), giai cấp tư sản dùng bạo
lực đàn áp phong trào đấu tranh trong nước và chuẩn bị phát động chiến
tranh thế giới để chia lại thị trường. Chủ nghĩa phát xít dần xuất hiện.
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Mát-xco-va (Liên Xô) vào tháng 7-
1935, xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phát
xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế
giới là chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và
hòa bình. Mặt trận nhân dân Pháp thành lập vào tháng 3-1935. Năm 1936,
Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp ra đời. Chính phủ này ban bố nhiều
quyền tự do dân chủ, trong đó có những quyền được áp dụng ở thuộc địa,
tạo không khí chính trị thuận lợi cho các cuộc đấu tranh đòi các quyền tự
do, dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân các nước trong hệ thống thuộc địa Pháp.
- Ở Việt Nam, mọi tầng lớp xã hội đều mong muốn có những cải cách dân
chủ và chính sách khủng bố trắng do thực dân Pháp gây ra. Đảng Cộng
sản Đông Dương đã phục hồi hệ thống tổ chức, tranh thủ cơ hội thuận
lợi để xây dựng, phát triển tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng rộng rãi. 2. Chủ trương
- Những biến đổi của tình hình quốc tế và trong nước đặt Đảng Cộng sản
Đông Dương trước yêu cầu mới. Ngày 26-7-1936, Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải, Trung Quốc, do đồng chí Lê
Hồng Phong chủ trì. Căn cứ vào tình hình thế giới, trong nước và nắm
vững tư tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đã đưa ra những
chủ trương mới về chính trị, tổ chức và hình thức đấu tranh phù hợp với
tình hình cách mạng lúc bầy giờ.
- Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít, chống chiến
tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ,
cơm áo và hòa bình. Lập Mặt trận nhân dân phản đế tập hợp rộng rãi các
giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các
dân tộc Đông Dương cùng nhau đấu tranh đòi những quyền tự do, dân
chủ thiết thực hàng ngày.
- Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp
sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp
pháp, nửa hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp.
- Hội nghị Trung ương tháng 3-1937 và tháng 9-1937 đã bàn sâu hơn về
công tác tổ chức của Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương
pháp tổ chức và hoạt động để tập hợp đông đảo quần chúng trong mặt
trận chống phản động thuộc địa, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
Hội nghị Trung ương tháng 3-1938, quyết định đổi tên Mặt trận nhân dân
phản đế Đông Dương thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập
hợp rộng rãi hơn nữa các lực lượng dân chủ, tiến bộ cùng nhau đấu tranh
cho mục tiêu chung lúc này là tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- Đảng cũng đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản
đế và điền địa. Trong Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Gửi các tổ
chức của Đảng (26-7-1936), chỉ rõ “ở một xứ thuộc địa như Đông
Dương, trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chỉ quan tâm đến cuộc đấu tranh
giai cấp, có thể sẽ nảy sinh những khó khăn để mở rộng phong trào dân tộc”.
- Trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936), Đảng nêu
quan điểm, cách mạng giải phóng dân tộc không nhất thiết phải kết hợp
với cách mạng ruộng đất. Nếu tiến hành cách mạng ruộng đất mà ảnh
hưởng đến việc tập hợp lực lượng để giải phóng dân tộc, thì phải tạm gác
vấn đề ruộng đất và tập trung cho việc thực hiện nhiệm vụ dân tộc đến
thắng lợi. Với văn kiện này, Trung ương Đảng đã nêu cao tinh thần đấu
tranh, thẳng thắn phê phán quan điểm chưa đúng và bước đầu khắc phục
hạn chế trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10-
1930). Đó cũng là nhận thức mới, phù hợp với tinh thần trong Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) và lý
luận cách mạng giải phóng dân tộc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Câu 2: Chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/11/1945 -> Từ
25/11/1945 ... phức tạp này
- Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng
chiến kiến quốc, nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của
cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền. Chỉ thị phân tích
sâu sắc sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, nhất là tình hình
Nam Bộ và xác định rõ: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp
xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”; nêu rõ mục tiêu
của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải phóng" và
đề ra khẩu hiệu "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết"; mọi hành động phải
tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là phải củng cố chính quyền,
chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân".
- Chỉ thị cũng để ra nhiều biện pháp cụ thể giải quyết những khó khăn,
phức tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam, trong đó nêu rõ cần nhanh
chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính
thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến
và chuẩn bị kháng chiến lâu dài; kiên định nguyên tắc độc lập về chính
trị; về ngoại giao phải đặc biệt chú ý “làm cho nước mình ít kẻ thù và
nhiều bạn đồng minh hơn hết"; đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương "Hoa -
Việt thân thiện", đối với Pháp "độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh
tế". Về tuyên truyền, hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược.
- Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong
bản Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc đã đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của
cách mạng Việt Nam; có tác dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ; xây dựng và bảo vệ
chính quyền cách mạng trong giai đọan khó khăn, đầy phức tạp này.
Câu 3: Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 1951 -> Đầu
trang ... lên Chủ nghĩa xã hội => thi rồi
Báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh đã trình bày tòan bộ đường lối
cách mạng Việt nam. Đó là đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản của báo cáo được phản ánh trong Chính
cương của Đảng Lao động Việt nam, bao gồm các nội dung sau:
- Chỉ rõ tính chất của xã hội Việt Nam: Xã hội Việt Nam lúc này có ba tính
chất, gồm: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến.
- Xác định đối tượng cách mạng: Chủ nghĩa đế quốc xâm lược (thực dân
Pháp và can thiệp Mỹ) và phong kiến phản động.
- Nhiệm vụ cách mạng: Đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giành độc
lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa
phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân
dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Những nhiệm vụ đó có mối quan hệ
khăng khít với nhau, nhưng nhiệm vụ chính lúc này là tập trung đấu tranh
chống xâm lược, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc.
- Động lực cách mạng và giai cấp lãnh đạo: Công nhân, nông dân, tiểu tư
sản, tư sản dân tộc; ngoài ra còn có các thân sĩ yêu nước, tiến bộ. Trong
đó, nền tảng là liên minh công, nông và lao động trí thức; công nhân là giai cấp lãnh đạo.
- Triển vọng cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hoàn thành
sẽ đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội. Câu 4: Đại hội III 1960
- Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại
Thủ đô Hà Nội. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh hòa bình thống nhất nước nhà".
- Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng; Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn
mới, thông qua Báo cáo về xây dựng Đảng và Báo cáo về Kế hoạch nhà
nước 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc ....
- Vẻ đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở phân tích tình
hình và đặc điểm nước ta, Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam trong giai đoạn mới là phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách
mạng khác nhau ở hai miền: Một là, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc; Hai là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
- Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng, cách mạng ở miền Bắc
và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, có mục tiêu
cụ thể riêng, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng
miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước.
- Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi
miền, Đại hội nêu rõ: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm
vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho
cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về
sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách
mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Còn cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực
tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
- Về hòa bình, thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương kiên quyết giữ vững
đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương đó phù hợp với
nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước cũng như của nhân dân yêu
chuộng hòa bình thế giới. Song, ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn
bị sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều
lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta
sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc.
- Về triển vọng của cách mạng, Đại hội nhận định cuộc đấu tranh nhằm
thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả
nước. Đó là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức
tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam.
Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam - Bắc nhất định sum họp một nhà.
- Từ những luận điểm đó, Đại hội đã đề ra đường lối chung trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta là: Đoàn kết toàn dân,
phát huy truyền thống yêu nước, lao động cần cù của nhân dân ta và đoàn
kết với các nước xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc
ở miền Bắc và củng cố miền Bắc trở thành cơ sở vững mạnh cho cuộc
đấu tranh thống nhất nước nhà.
- Tuy vẫn còn một số hạn chế trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa
như: nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn giản đơn, chưa
có dự kiến về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. song thành công cơ bản, to lớn nhất của Đại hội lần thứ III của Đảng
là đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới, đó là tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai
chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm
thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam,
hòa bình, thống nhất Tổ quốc.
Câu 5: Mục tiêu tổng quát và 3 đột phá chiến lược tại Đại hội XIII 149> -> Từ dấu + đầu tiên, 3 đột phá: dấu + chiến lược cuối -> Câu 34
Đại hội XIII đã xác định mục tiêu tổng quát, đó là: Nâng cao năng lực lãnh
đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát
vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy y chí và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới , công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ
XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba đột phá chiến lược cũng đã được Đại hội chỉ ra:
Một là, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo
hướng hiện đại, hiệu quả. Tập trung ưu tiên hòan thiện đồng bộ , có chất lượng
và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi
trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần
kinh tế, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính; đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát
quyền lực bằng hệ thống pháp luật.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân
lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng
cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục
và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh
nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc,
phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự
hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã
hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông,
thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn
thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.
Câu 6: Thành tựu của công cuộc đổi mới -> Câu 35 => Liên hệ
Công cuộc đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải
biến sâu sắc, toàn diện, triệt để; là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng,
toàn dân vì mục đích “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Thành tựu nổi bật trước hết là về phát triển kinh tế. Năm 1986, bắt đầu
công cuộc đổi mới. Năm 1996, chấm dứt khủng hoảng kinh tế - xã hội. Năm
2008, đất nước đã ra khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia
có thu nhập trung bình. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả. Nhận thức về nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn. Hệ thống pháp luật,
cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền
kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập. Doanh nghiệp nhà nước từng bước được
sắp xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn; kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là
một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế tập thể từng bước đổi mới gắn
với cơ chế thị trường; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, là bộ
phận quan trọng của nền kinh tế nước ta. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình
quân đầu người tăng lên ( năm 2020, GDP đạt 271,2 tỷ USD và thu nhập bình
quân đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao
động tăng từ 4,3 %/năm giai đoạn 2011 – 2015 lên khoảng 6 %/năm giai đoạn 2016 – 2020.
Một thành tựu rất quan trọng của công cuộc đổi mới là “Giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển”. Chú
trọng đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đổi mới phương
pháp giảng dạy và học tập. Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý; chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được nâng
lên. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo được mở rộng. Nhân lực chất lượng
cao tăng cả về số lượng và chất lượng. Song hành với phát triển giáo dục là phát
triển khoa học – công nghệ. Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ
đã đóng góp tích cực hơn trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, bảo vệ môi trường,... . Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận
chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính
sách, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc.
Thành tựu về văn hóa, xã hội: “Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt
nhiều kết quả quan trọng. Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng
bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”. Thực tiễn
đổi mới cho thấy, nhận thức về văn hóa, xã hội con người ngày càng toàn diện,
sâu sắc hơn. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa,
bảo tồn và phát huy. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi
trọng và phát huy hiệu quả tích cực. Văn hóa gắn liền với xây dựng con người,
xây dựng cái tốt, cải thiện, đồng thời phê phán, đấu tranh chống cái xấu, cái ác,
cái lạc hậu. Quá trình đổi mới đã từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có
hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển thị trường
lao động, hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, bảo
đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho người dân. Tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt trên
90%. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo
đa chiều còn dưới 3%, hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
Một thành tựu đặc biệt quan trọng mà đại hội cũng chỉ ra đó là chính trị -
xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường. Giữ vững và
tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập
trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ
trang. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân
tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an
ninh, trật tự, an toàn xã hội. Kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh
tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Quan điểm đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành
tựu nổi bật. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các
thể chế đa phương khu vực và toàn cầu, xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với
các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác khác.
Một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới là hệ thống
chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh. Chú trọng dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở. Chú trọng xây dựng Đảng về
chính trị, về tư tưởng, về đạo đức, về tổ chức và cán bộ. Công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, có nhiều
đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta.
Các thành tựu to lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học – công nghệ,
văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là kết quả của quá
trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Liên hệ:
- Vai trò của vấn đề, tầm quan trọng.
- 1 chút về chủ trương, đường lối của Đảng. - Sinh viên:
oHọc tập -> có năng lực
oRèn luyện đạo đức, tác phong, tư tưởng, lập trường chính trị
oNăng động, tích cực, tham gia nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp,
đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực số
oSâu sắc thêm vấn đề liên hệ
oNhận diện, đấu tranh các vấn đề chống phá