1.1 Định nghĩa gian lận
Webster's Ninth New Collegiate Dictionary (1990, 490) defines fraud as an
"intentional perversion of truth in order to induce another to part with something of
value or to surrender a legal right" or as "an act of deceiving or misrepresenting".
Webster's New World Dictionary states that "fraud is a generic term, and embraces all
the multifarious means which human ingenuity can devise, which are resorted to by
one individual, to get an advantage over another by false representations. No definite
and invariable rule can be laid down as a general proposition in defining fraud, as it
includes surprise, trickery, cunning and unfair ways by which another is cheated. The
only boundaries defining it are those which limit human knavery" (Aibrecht 2003, 6).
Albrecht (2003, 6) goes on to say that "fraud is a deception that includes the following
elements: a representation about a material point which is false, and intentionally or
recklessly so; which is believed and acted upon by the victim, to the victim's damage."
Trích nguồn: Akers, M. D., & Gissel, J. L. (2006). What is fraud and who is responsible?.
Journal of Forensic Accounting.
Dịch:Từ điển của Webster (1990, 490) định nghĩa gian lận là "cố ý Ninth New Collegiate
xuyên tạc sự thật nhằm xúi giục người khác làm giảm một thứ gì đó có giá trị hoặc từ bỏ
một quyền hợp pháp" hoặc là "một hành động lừa dối hoặc xuyên tạc". Từ điển New World
của Webster tuyên bố rằng "lừa đảo là một thuật ngữ chung và bao gồm tất cả các phương
tiện đa dạng mà sự khéo léo của con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để
đạt được lợi thế hơn người khác bằng cách trình bày sai lầm. Không có quy tắc xác định và
bất biến nào có thể được áp dụng." được đặt ra như một mệnh đề chung trong việc xác định
gian lận, vì nó bao gồm những cách bất ngờ, thủ đoạn, xảo quyệt và không công bằng mà
người khác bị lừa. Ranh giới duy nhất xác định nó là những ranh giới hạn chế sự hèn hạ
của con người" (Aibrecht 2003, 6). Albrecht (2003, 6) tiếp tục nói rằng “gian lận là một sự
lừa dối bao gồm các yếu tố sau: trình bày sai về một quan điểm trọng yếu và sai sự thật một
cách cố ý hoặc liều lĩnh; điều mà người ta tin là sai.” và do nạn nhân thực hiện, gây thiệt hại
cho nạn nhân
1.2 Phân biệt gian lận và sai sót ?
The difference between fraud and error lies in the intention. Simply put, fraud is an act
that is intentionally carried out to benefit certain individuals or groups and causes
detrimental effects to others, while errors are acts of unintentional mistake or
negligence.
Fraud is considered an intentional act that has been conducted by one or more
members of the management of a company. Additionally, fraud can be conducted by
any employees or by those charged with governance.
Errors are considered an unintentional act that has been conducted by members of
management and can be anything from mechanical errors to making estimates that are
deemed unreasonable or inaccurate.
https://www.universalcpareview.com/ask-joey/what-is-the-difference-between-fraud-
and-an-error/
Dịch: Sự khác biệt giữa gian lận và sai sót nằm ở ý định. Nói một cách đơn giản, gian
lận là hành vi được thực hiện có chủ đích nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc
nhóm nhất định và gây ảnh hưởng bất lợi cho người khác, còn sai sót là hành vi vô ý
hoặc sơ suất. Gian lận được coi là hành vi cố ý được thực hiện bởi một hoặc nhiều
thành viên ban quản lý của một công ty. Ngoài ra, gian lận có thể được thực hiện bởi
bất kỳ nhân viên nào hoặc bởi những người chịu trách nhiệm quản trị. Sai sót được coi
là hành động vô ý do các thành viên ban quản lý thực hiện và có thể là bất kỳ nguyên
nhân nào từ lỗi cơ học đến việc đưa ra các ước tính được cho là không hợp lý hoặc
không chính xác.
+ So sánh
Điểm giống nhau: đều là hành vi sai phạm, làm lệch lạc thông tin và phản ánh sai thực
tế
Điểm khác nhau Gian lận Sai sót
Ý thức Cố ý Không cố ý
Mức độ hành vi Khó phát hiện Dễ phát hiện
Tính nghiêm trọng Là hành vi nghiêm trọng Tùy thuộc vào quy mô và
sự lặp lại của nghiệp vụ
2.
Biển thủ: Asset misappropriation
Biển thủ là xảy ra khi nhân viên hay người quản lý đánh cắp tài sản của tổ chức ví dụ
đánh cắp tiền, hàng tồn kho, hay gian lận về tiền lương.
Nguồn: ACFE 2020
VD: Vào tháng 11/2015, Hòa là nhân viên bán vé tại chi nhánh của Công ty Hà Sơn -
Hải Vân (phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Tháng 4/2016, Hòa được
công ty bổ nhiệm phụ trách bộ phận bán vé tại chi nhánh. Theo quy định của công ty,
phụ trách bộ phận bán vé khi hết ca phải nộp lại toàn bộ số tiền bán vé, và bảng kê vé
đã bán cho phòng kế toán. Nhưng do cần tiền chi tiêu nhân nên Hoà không thực
hiện theo quy định, nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán xe khách của công ty.
Trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2016 đến 21/7/2016, Hòa đã chiếm đoạt của số
tiền hơn 645 triệu đồng của Công tySơn - Hải Vân. Thủ đoạn của Hòa là sau mỗi
ngày làm việc, chị ta tự lập và cân đối bảng kê số lượng vé bán thấp hơn so với lượng
vé bán thực tế, sau đó nộp cho phòng kế toán của công ty số tiền thấp hơn.
Nguồn:
https://cand.com.vn/Ban-tin-113/bien-thu-tien-cong-ty-nu-phu-trach-ban-ve-linh-5-
nam-tu-i665419/
Trần Thị Thương (SN 1986), trú Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu cán bộ văn
phòng kiêm thủ quỹ của UBND xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, trong quá trình làm
việc, đối tượng đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tiền công quỹ, tiền
lương phụ cấp cho các lực lượng bán chuyên trách tiền chi cho hoạt động thường
xuyên của các ban, ngành.Trần Thị Thương đã tham ô tài sản với tổng số tiền hơn 300
triệu đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.
Nguồn:
https://cand.com.vn/ban-tin-113/nu-can-bo-xa-bien-thu-cong-quy-i719237/?
fbclid=IwAR01Fnf8Y7T_IuYfp6EsjBoBc0VqD-
MmK7s0PevflEU24ylbg7vSAusvmQw
Định nghĩa tham ô (Corruption A review)
Tham ô là hành vi bất hợp pháp, liên quan đến cấp quản lý (quan chức nhà nước,
Chính trị gia,...)
Theo Arvind, 2001 nghiên cứu về lĩnh vực công, ông chia Tham ô làm 3 nhóm:
- Tham ô lớn: hoạt động của giới tính hoa chính trị -> gây ra hiệu quả nghiêm
trọng (Kruegen, 1993).
Vd: Nhà độc tài không phân biệt giữa tài sản chung và tài sản riêng.
Nhà độc tài đưa ra quyết định vì lợi ích riêng
- Tham ô quan liêu: hành vi tham nhũng của các quan chức được bổ nhận trong
giao dịch của họ với cấp trên/ hoặc công chúng
Vd: Hối lộ để đẩy nhanh tiến độ, thủ tục hành chính công.
‘Hối lộ để mua quyết định tư pháp’ (Rose - Ackerman, 1998)
- Tham ô trong ngành lập pháp: cách thức và mức độ mà hành vi bỏ phiếu của
nhà lập pháp có thể bị ảnh hưởng
Vd: mua phiếu bầu
Định nghĩa tham ô theo ACFE (2020)
Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ làm trái các nghĩa
vụ đã được họ cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay bên thứ ba
Gian lận trên báo cáo tài chính là: khi các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp
méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người
sử dụng thông tin.
Nguồn: ACFE 2020
Năm 2002 vụ gian lận của Công ty Cổ phần bánh kẹo Biên Hòa được coi như là một
vụ gian lận được các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cực kỳ quan tâm. Tại vì, một
trong những công ty thực phẩm bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với uy tín và thương
hiệu hiện nay rất đang được ưa chuộng tại thị trường nội địa. Cụ thể, theo Báo cáo tài
chính năm 2002, công ty này đã thực hiện thủ thuật ghi nhận sai niên độ cho doanh
thu và chi phí không đúng kỳ nhằm mục đích che dấu công nợ và chi phí để giúp báo
cáo tài chính có được kết quả như mong muốn.
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bai-hoc-bibica-88111.htm?
fbclid=IwAR1n83y6Jykh1zBafBcCia7OJKcAKLVsTYWWc1o_MGLRgfPgo3GpT7
xgeNA
https://cafef.vn/vu-lua-dao-lam-gioi-tai-chinh-kinh-hon-bat-via-cong-ty-nguy-tao-so-
sach-trong-nhieu-nam-bien-lo-thanh-lai-nhu-than-luc-pha-san-khien-chung-khoan-
dao-dien-20210807185654456.chn?
fbclid=IwAR3kPD82qJmXQCoDQl9Uusai2GmdGhFBV3zMcLNjaR8j1hLFvh4ka8C
ytqk
VD: WorldCom là một Tập đoàn Viễn thông của Mỹ thành lập năm 1983, ở thời kỳ
đỉnh cao, vốn hóa của WorldCom có lúc đã lên tới khoảng 180 tỷ USD và giá cổ phiếu
đạt mốc 60 USD. Mùa xuân năm 2000, đế chế này đã có khoảng 88.000 nhân sự và
60.000 mile đường dây điện thoại trên khắp thế giới.
Đầu mùa hè năm 2002, một kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra sổ sách theo chỉ
đạo của CEO mới và đã nhận thấy những điểm bất thường trong số liệu kế toán và quy
mô của quá trình gian lận kéo dài từ năm 1999 đến tháng 5/2002 bắt đầu được lật tẩy.
WorldCom bị phát hiện đã ghi nhận 3,8 tỷ USD chi phí thông thường thành các khoản
đầu tư. Nhờ đó, lợi nhuận của WorldCom đã được bơm thổi, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ
lãi 1,6 tỷ USD vào năm 2001 và 172 triệu USD vào quý I/2002. Năm 2001, công ty
công bố hoạt động kinh doanh tạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt, nhưng trên thực tế là 4,6 tỷ
USD. Công ty này thừa nhận đã gian lận sổ sách hơn 4 tỷ USD, nhưng sau đó được
xác nhận là 11 tỷ USD. Tháng 7/2002, sau khi vụ bê bối vỡ lở, cổ phiếu của
WorldCom từ mức đỉnh là 63,5 USD đã rớt xuống chỉ còn 20 cent ở thời điểm công ty
này nộp đơn xin phá sản (21/1/2002), với giá trị tài sản được liệt kê lên tới hơn 107 tỷ
USD.
1.1 Định nghĩa gian lận
Webster's Ninth New Collegiate Dictionary (1990, 490) defines fraud as an
"intentional perversion of truth in order to induce another to part with something of
value or to surrender a legal right" or as "an act of deceiving or misrepresenting".
Webster's New World Dictionary states that "fraud is a generic term, and embraces all
the multifarious means which human ingenuity can devise, which are resorted to by
one individual, to get an advantage over another by false representations. No definite
and invariable rule can be laid down as a general proposition in defining fraud, as it
includes surprise, trickery, cunning and unfair ways by which another is cheated. The
only boundaries defining it are those which limit human knavery" (Aibrecht 2003, 6).
Albrecht (2003, 6) goes on to say that "fraud is a deception that includes the following
elements: a representation about a material point which is false, and intentionally or
recklessly so; which is believed and acted upon by the victim, to the victim's damage."
Trích nguồn: Akers, M. D., & Gissel, J. L. (2006). What is fraud and who is responsible?.
Journal of Forensic Accounting.
Dịch:Từ điển của Webster (1990, 490) định nghĩa gian lận là "cố ý Ninth New Collegiate
xuyên tạc sự thật nhằm xúi giục người khác làm giảm một thứ gì đó có giá trị hoặc từ bỏ
một quyền hợp pháp" hoặc là "một hành động lừa dối hoặc xuyên tạc". Từ điển New World
của Webster tuyên bố rằng "lừa đảo là một thuật ngữ chung và bao gồm tất cả các phương
tiện đa dạng mà sự khéo léo của con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để
đạt được lợi thế hơn người khác bằng cách trình bày sai lầm. Không có quy tắc xác định và
bất biến nào có thể được áp dụng." được đặt ra như một mệnh đề chung trong việc xác định
gian lận, vì nó bao gồm những cách bất ngờ, thủ đoạn, xảo quyệt và không công bằng mà
người khác bị lừa. Ranh giới duy nhất xác định nó là những ranh giới hạn chế sự hèn hạ
của con người" (Aibrecht 2003, 6). Albrecht (2003, 6) tiếp tục nói rằng “gian lận là một sự
lừa dối bao gồm các yếu tố sau: trình bày sai về một quan điểm trọng yếu và sai sự thật một
cách cố ý hoặc liều lĩnh; điều mà người ta tin là sai.” và do nạn nhân thực hiện, gây thiệt hại
cho nạn nhân
1.2 Phân biệt gian lận và sai sót ?
The difference between fraud and error lies in the intention. Simply put, fraud is an act
that is intentionally carried out to benefit certain individuals or groups and causes
detrimental effects to others, while errors are acts of unintentional mistake or
negligence.
Fraud is considered an intentional act that has been conducted by one or more
members of the management of a company. Additionally, fraud can be conducted by
any employees or by those charged with governance.
Errors are considered an unintentional act that has been conducted by members of
management and can be anything from mechanical errors to making estimates that are
deemed unreasonable or inaccurate.
https://www.universalcpareview.com/ask-joey/what-is-the-difference-between-fraud-
and-an-error/
Dịch: Sự khác biệt giữa gian lận và sai sót nằm ở ý định. Nói một cách đơn giản, gian
lận là hành vi được thực hiện có chủ đích nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc
nhóm nhất định và gây ảnh hưởng bất lợi cho người khác, còn sai sót là hành vi vô ý
hoặc sơ suất. Gian lận được coi là hành vi cố ý được thực hiện bởi một hoặc nhiều
thành viên ban quản lý của một công ty. Ngoài ra, gian lận có thể được thực hiện bởi
bất kỳ nhân viên nào hoặc bởi những người chịu trách nhiệm quản trị. Sai sót được coi
là hành động vô ý do các thành viên ban quản lý thực hiện và có thể là bất kỳ nguyên
nhân nào từ lỗi cơ học đến việc đưa ra các ước tính được cho là không hợp lý hoặc
không chính xác.
+ So sánh
Điểm giống nhau: đều là hành vi sai phạm, làm lệch lạc thông tin và phản ánh sai thực
tế
Điểm khác nhau Gian lận Sai sót
Ý thức Cố ý Không cố ý
Mức độ hành vi Khó phát hiện Dễ phát hiện
Tính nghiêm trọng Là hành vi nghiêm trọng Tùy thuộc vào quy mô và
sự lặp lại của nghiệp vụ
2.
Biển thủ: Asset misappropriation
Biển thủ là xảy ra khi nhân viên hay người quản lý đánh cắp tài sản của tổ chức ví dụ
đánh cắp tiền, hàng tồn kho, hay gian lận về tiền lương.
Nguồn: ACFE 2020
VD: Vào tháng 11/2015, Hòa là nhân viên bán vé tại chi nhánh của Công ty Hà Sơn -
Hải Vân (phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Tháng 4/2016, Hòa được
công ty bổ nhiệm phụ trách bộ phận bán vé tại chi nhánh. Theo quy định của công ty,
phụ trách bộ phận bán vé khi hết ca phải nộp lại toàn bộ số tiền bán vé, và bảng kê vé
đã bán cho phòng kế toán. Nhưng do cần tiền chi tiêu nhân nên Hoà không thực
hiện theo quy định, nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán xe khách của công ty.
Trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2016 đến 21/7/2016, Hòa đã chiếm đoạt của số
tiền hơn 645 triệu đồng của Công tySơn - Hải Vân. Thủ đoạn của Hòa là sau mỗi
ngày làm việc, chị ta tự lập và cân đối bảng kê số lượng vé bán thấp hơn so với lượng
vé bán thực tế, sau đó nộp cho phòng kế toán của công ty số tiền thấp hơn.
Nguồn:
https://cand.com.vn/Ban-tin-113/bien-thu-tien-cong-ty-nu-phu-trach-ban-ve-linh-5-
nam-tu-i665419/
Trần Thị Thương (SN 1986), trú Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu cán bộ văn
phòng kiêm thủ quỹ của UBND xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, trong quá trình làm
việc, đối tượng đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tiền công quỹ, tiền
lương phụ cấp cho các lực lượng bán chuyên trách tiền chi cho hoạt động thường
xuyên của các ban, ngành.Trần Thị Thương đã tham ô tài sản với tổng số tiền hơn 300
triệu đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.
Nguồn:
https://cand.com.vn/ban-tin-113/nu-can-bo-xa-bien-thu-cong-quy-i719237/?
fbclid=IwAR01Fnf8Y7T_IuYfp6EsjBoBc0VqD-
MmK7s0PevflEU24ylbg7vSAusvmQw
Định nghĩa tham ô (Corruption A review)
Tham ô là hành vi bất hợp pháp, liên quan đến cấp quản lý (quan chức nhà nước,
Chính trị gia,...)
Theo Arvind, 2001 nghiên cứu về lĩnh vực công, ông chia Tham ô làm 3 nhóm:
- Tham ô lớn: hoạt động của giới tính hoa chính trị -> gây ra hiệu quả nghiêm
trọng (Kruegen, 1993).
Vd: Nhà độc tài không phân biệt giữa tài sản chung và tài sản riêng.
Nhà độc tài đưa ra quyết định vì lợi ích riêng
- Tham ô quan liêu: hành vi tham nhũng của các quan chức được bổ nhận trong
giao dịch của họ với cấp trên/ hoặc công chúng
Vd: Hối lộ để đẩy nhanh tiến độ, thủ tục hành chính công.
‘Hối lộ để mua quyết định tư pháp’ (Rose - Ackerman, 1998)
- Tham ô trong ngành lập pháp: cách thức và mức độ mà hành vi bỏ phiếu của
nhà lập pháp có thể bị ảnh hưởng
Vd: mua phiếu bầu
Định nghĩa tham ô theo ACFE (2020)
Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ làm trái các nghĩa
vụ đã được họ cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay bên thứ ba
Gian lận trên báo cáo tài chính là: khi các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp
méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người
sử dụng thông tin.
Nguồn: ACFE 2020
Năm 2002 vụ gian lận của Công ty Cổ phần bánh kẹo Biên Hòa được coi như là một
vụ gian lận được các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cực kỳ quan tâm. Tại vì, một
trong những công ty thực phẩm bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với uy tín và thương
hiệu hiện nay rất đang được ưa chuộng tại thị trường nội địa. Cụ thể, theo Báo cáo tài
chính năm 2002, công ty này đã thực hiện thủ thuật ghi nhận sai niên độ cho doanh
thu và chi phí không đúng kỳ nhằm mục đích che dấu công nợ và chi phí để giúp báo
cáo tài chính có được kết quả như mong muốn.
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bai-hoc-bibica-88111.htm?
fbclid=IwAR1n83y6Jykh1zBafBcCia7OJKcAKLVsTYWWc1o_MGLRgfPgo3GpT7
xgeNA
https://cafef.vn/vu-lua-dao-lam-gioi-tai-chinh-kinh-hon-bat-via-cong-ty-nguy-tao-so-
sach-trong-nhieu-nam-bien-lo-thanh-lai-nhu-than-luc-pha-san-khien-chung-khoan-
dao-dien-20210807185654456.chn?
fbclid=IwAR3kPD82qJmXQCoDQl9Uusai2GmdGhFBV3zMcLNjaR8j1hLFvh4ka8C
ytqk
VD: WorldCom là một Tập đoàn Viễn thông của Mỹ thành lập năm 1983, ở thời kỳ
đỉnh cao, vốn hóa của WorldCom có lúc đã lên tới khoảng 180 tỷ USD và giá cổ phiếu
đạt mốc 60 USD. Mùa xuân năm 2000, đế chế này đã có khoảng 88.000 nhân sự và
60.000 mile đường dây điện thoại trên khắp thế giới.
Đầu mùa hè năm 2002, một kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra sổ sách theo chỉ
đạo của CEO mới và đã nhận thấy những điểm bất thường trong số liệu kế toán và quy
mô của quá trình gian lận kéo dài từ năm 1999 đến tháng 5/2002 bắt đầu được lật tẩy.
WorldCom bị phát hiện đã ghi nhận 3,8 tỷ USD chi phí thông thường thành các khoản
đầu tư. Nhờ đó, lợi nhuận của WorldCom đã được bơm thổi, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ
lãi 1,6 tỷ USD vào năm 2001 và 172 triệu USD vào quý I/2002. Năm 2001, công ty
công bố hoạt động kinh doanh tạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt, nhưng trên thực tế là 4,6 tỷ
USD. Công ty này thừa nhận đã gian lận sổ sách hơn 4 tỷ USD, nhưng sau đó được
xác nhận là 11 tỷ USD. Tháng 7/2002, sau khi vụ bê bối vỡ lở, cổ phiếu của
WorldCom từ mức đỉnh là 63,5 USD đã rớt xuống chỉ còn 20 cent ở thời điểm công ty
này nộp đơn xin phá sản (21/1/2002), với giá trị tài sản được liệt kê lên tới hơn 107 tỷ
USD.

Preview text:

1.1 Định nghĩa gian lận
Webster's Ninth New Collegiate Dictionary (1990, 490) defines fraud as an
"intentional perversion of truth in order to induce another to part with something of
value or to surrender a legal right" or as "an act of deceiving or misrepresenting".
Webster's New World Dictionary states that "fraud is a generic term, and embraces all
the multifarious means which human ingenuity can devise, which are resorted to by
one individual, to get an advantage over another by false representations. No definite
and invariable rule can be laid down as a general proposition in defining fraud, as it
includes surprise, trickery, cunning and unfair ways by which another is cheated. The
only boundaries defining it are those which limit human knavery" (Aibrecht 2003, 6).
Albrecht (2003, 6) goes on to say that "fraud is a deception that includes the following
elements: a representation about a material point which is false, and intentionally or
recklessly so; which is believed and acted upon by the victim, to the victim's damage."
Trích nguồn: Akers, M. D., & Gissel, J. L. (2006). What is fraud and who is responsible?.
Journal of Forensic Accounting.
Dịch:Từ điển Ninth New Collegiate của Webster (1990, 490) định nghĩa gian lận là "cố ý
xuyên tạc sự thật nhằm xúi giục người khác làm giảm một thứ gì đó có giá trị hoặc từ bỏ
một quyền hợp pháp" hoặc là "một hành động lừa dối hoặc xuyên tạc". Từ điển New World
của Webster tuyên bố rằng "lừa đảo là một thuật ngữ chung và bao gồm tất cả các phương
tiện đa dạng mà sự khéo léo của con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để
đạt được lợi thế hơn người khác bằng cách trình bày sai lầm. Không có quy tắc xác định và
bất biến nào có thể được áp dụng." được đặt ra như một mệnh đề chung trong việc xác định
gian lận, vì nó bao gồm những cách bất ngờ, thủ đoạn, xảo quyệt và không công bằng mà
người khác bị lừa. Ranh giới duy nhất xác định nó là những ranh giới hạn chế sự hèn hạ
của con người" (Aibrecht 2003, 6). Albrecht (2003, 6) tiếp tục nói rằng “gian lận là một sự
lừa dối bao gồm các yếu tố sau: trình bày sai về một quan điểm trọng yếu và sai sự thật một
cách cố ý hoặc liều lĩnh; điều mà người ta tin là sai.” và do nạn nhân thực hiện, gây thiệt hại cho nạn nhân
1.2 Phân biệt gian lận và sai sót ?
The difference between fraud and error lies in the intention. Simply put, fraud is an act
that is intentionally carried out to benefit certain individuals or groups and causes
detrimental effects to others, while errors are acts of unintentional mistake or negligence.
Fraud is considered an intentional act that has been conducted by one or more
members of the management of a company. Additionally, fraud can be conducted by
any employees or by those charged with governance.
Errors are considered an unintentional act that has been conducted by members of
management and can be anything from mechanical errors to making estimates that are
deemed unreasonable or inaccurate.
https://www.universalcpareview.com/ask-joey/what-is-the-difference-between-fraud- and-an-error/
Dịch: Sự khác biệt giữa gian lận và sai sót nằm ở ý định. Nói một cách đơn giản, gian
lận là hành vi được thực hiện có chủ đích nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc
nhóm nhất định và gây ảnh hưởng bất lợi cho người khác, còn sai sót là hành vi vô ý
hoặc sơ suất. Gian lận được coi là hành vi cố ý được thực hiện bởi một hoặc nhiều
thành viên ban quản lý của một công ty. Ngoài ra, gian lận có thể được thực hiện bởi
bất kỳ nhân viên nào hoặc bởi những người chịu trách nhiệm quản trị. Sai sót được coi
là hành động vô ý do các thành viên ban quản lý thực hiện và có thể là bất kỳ nguyên
nhân nào từ lỗi cơ học đến việc đưa ra các ước tính được cho là không hợp lý hoặc không chính xác. + So sánh
Điểm giống nhau: đều là hành vi sai phạm, làm lệch lạc thông tin và phản ánh sai thực tế Điểm khác nhau Gian lận Sai sót Ý thức Cố ý Không cố ý Mức độ hành vi Khó phát hiện Dễ phát hiện Tính nghiêm trọng Là hành vi nghiêm trọng Tùy thuộc vào quy mô và
sự lặp lại của nghiệp vụ 2.
Biển thủ: Asset misappropriation
Biển thủ là xảy ra khi nhân viên hay người quản lý đánh cắp tài sản của tổ chức ví dụ
đánh cắp tiền, hàng tồn kho, hay gian lận về tiền lương. Nguồn: ACFE 2020
VD: Vào tháng 11/2015, Hòa là nhân viên bán vé tại chi nhánh của Công ty Hà Sơn -
Hải Vân (phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Tháng 4/2016, Hòa được
công ty bổ nhiệm phụ trách bộ phận bán vé tại chi nhánh. Theo quy định của công ty,
phụ trách bộ phận bán vé khi hết ca phải nộp lại toàn bộ số tiền bán vé, và bảng kê vé
đã bán cho phòng kế toán. Nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Hoà không thực
hiện theo quy định, mà nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán vé xe khách của công ty.
Trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2016 đến 21/7/2016, Hòa đã chiếm đoạt của số
tiền hơn 645 triệu đồng của Công ty Hà Sơn - Hải Vân. Thủ đoạn của Hòa là sau mỗi
ngày làm việc, chị ta tự lập và cân đối bảng kê số lượng vé bán thấp hơn so với lượng
vé bán thực tế, sau đó nộp cho phòng kế toán của công ty số tiền thấp hơn. Nguồn:
https://cand.com.vn/Ban-tin-113/bien-thu-tien-cong-ty-nu-phu-trach-ban-ve-linh-5- nam-tu-i665419/
Trần Thị Thương (SN 1986), trú xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu là cán bộ văn
phòng kiêm thủ quỹ của UBND xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, trong quá trình làm
việc, đối tượng đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn để chiếm đoạt tiền công quỹ, tiền
lương phụ cấp cho các lực lượng bán chuyên trách và tiền chi cho hoạt động thường
xuyên của các ban, ngành.Trần Thị Thương đã tham ô tài sản với tổng số tiền hơn 300
triệu đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân. Nguồn:
https://cand.com.vn/ban-tin-113/nu-can-bo-xa-bien-thu-cong-quy-i719237/?
fbclid=IwAR01Fnf8Y7T_IuYfp6EsjBoBc0VqD- MmK7s0PevflEU24ylbg7vSAusvmQw
Định nghĩa tham ô (Corruption A review)
Tham ô là hành vi bất hợp pháp, liên quan đến cấp quản lý (quan chức nhà nước, Chính trị gia,...)
Theo Arvind, 2001 nghiên cứu về lĩnh vực công, ông chia Tham ô làm 3 nhóm:
- Tham ô lớn: hoạt động của giới tính hoa chính trị -> gây ra hiệu quả nghiêm trọng (Kruegen, 1993).
Vd: Nhà độc tài không phân biệt giữa tài sản chung và tài sản riêng.
Nhà độc tài đưa ra quyết định vì lợi ích riêng
- Tham ô quan liêu: hành vi tham nhũng của các quan chức được bổ nhận trong
giao dịch của họ với cấp trên/ hoặc công chúng
Vd: Hối lộ để đẩy nhanh tiến độ, thủ tục hành chính công.
‘Hối lộ để mua quyết định tư pháp’ (Rose - Ackerman, 1998)
- Tham ô trong ngành lập pháp: cách thức và mức độ mà hành vi bỏ phiếu của
nhà lập pháp có thể bị ảnh hưởng Vd: mua phiếu bầu
Định nghĩa tham ô theo ACFE (2020)
Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ làm trái các nghĩa
vụ đã được họ cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay bên thứ ba
Gian lận trên báo cáo tài chính là: khi các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp
méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin. Nguồn: ACFE 2020
Năm 2002 vụ gian lận của Công ty Cổ phần bánh kẹo Biên Hòa được coi như là một
vụ gian lận được các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cực kỳ quan tâm. Tại vì, một
trong những công ty thực phẩm bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với uy tín và thương
hiệu hiện nay rất đang được ưa chuộng tại thị trường nội địa. Cụ thể, theo Báo cáo tài
chính năm 2002, công ty này đã thực hiện thủ thuật ghi nhận sai niên độ cho doanh
thu và chi phí không đúng kỳ nhằm mục đích che dấu công nợ và chi phí để giúp báo
cáo tài chính có được kết quả như mong muốn.
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bai-hoc-bibica-88111.htm?
fbclid=IwAR1n83y6Jykh1zBafBcCia7OJKcAKLVsTYWWc1o_MGLRgfPgo3GpT7 xgeNA
https://cafef.vn/vu-lua-dao-lam-gioi-tai-chinh-kinh-hon-bat-via-cong-ty-nguy-tao-so-
sach-trong-nhieu-nam-bien-lo-thanh-lai-nhu-than-luc-pha-san-khien-chung-khoan-
dao-dien-20210807185654456.chn?
fbclid=IwAR3kPD82qJmXQCoDQl9Uusai2GmdGhFBV3zMcLNjaR8j1hLFvh4ka8C ytqk
VD: WorldCom là một Tập đoàn Viễn thông của Mỹ thành lập năm 1983, ở thời kỳ
đỉnh cao, vốn hóa của WorldCom có lúc đã lên tới khoảng 180 tỷ USD và giá cổ phiếu
đạt mốc 60 USD. Mùa xuân năm 2000, đế chế này đã có khoảng 88.000 nhân sự và
60.000 mile đường dây điện thoại trên khắp thế giới.
Đầu mùa hè năm 2002, một kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra sổ sách theo chỉ
đạo của CEO mới và đã nhận thấy những điểm bất thường trong số liệu kế toán và quy
mô của quá trình gian lận kéo dài từ năm 1999 đến tháng 5/2002 bắt đầu được lật tẩy.
WorldCom bị phát hiện đã ghi nhận 3,8 tỷ USD chi phí thông thường thành các khoản
đầu tư. Nhờ đó, lợi nhuận của WorldCom đã được bơm thổi, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ
lãi 1,6 tỷ USD vào năm 2001 và 172 triệu USD vào quý I/2002. Năm 2001, công ty
công bố hoạt động kinh doanh tạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt, nhưng trên thực tế là 4,6 tỷ
USD. Công ty này thừa nhận đã gian lận sổ sách hơn 4 tỷ USD, nhưng sau đó được
xác nhận là 11 tỷ USD. Tháng 7/2002, sau khi vụ bê bối vỡ lở, cổ phiếu của
WorldCom từ mức đỉnh là 63,5 USD đã rớt xuống chỉ còn 20 cent ở thời điểm công ty
này nộp đơn xin phá sản (21/1/2002), với giá trị tài sản được liệt kê lên tới hơn 107 tỷ USD.
1.1 Định nghĩa gian lận
Webster's Ninth New Collegiate Dictionary (1990, 490) defines fraud as an
"intentional perversion of truth in order to induce another to part with something of
value or to surrender a legal right" or as "an act of deceiving or misrepresenting".
Webster's New World Dictionary states that "fraud is a generic term, and embraces all
the multifarious means which human ingenuity can devise, which are resorted to by
one individual, to get an advantage over another by false representations. No definite
and invariable rule can be laid down as a general proposition in defining fraud, as it
includes surprise, trickery, cunning and unfair ways by which another is cheated. The
only boundaries defining it are those which limit human knavery" (Aibrecht 2003, 6).
Albrecht (2003, 6) goes on to say that "fraud is a deception that includes the following
elements: a representation about a material point which is false, and intentionally or
recklessly so; which is believed and acted upon by the victim, to the victim's damage."
Trích nguồn: Akers, M. D., & Gissel, J. L. (2006). What is fraud and who is responsible?.
Journal of Forensic Accounting.
Dịch:Từ điển Ninth New Collegiate của Webster (1990, 490) định nghĩa gian lận là "cố ý
xuyên tạc sự thật nhằm xúi giục người khác làm giảm một thứ gì đó có giá trị hoặc từ bỏ
một quyền hợp pháp" hoặc là "một hành động lừa dối hoặc xuyên tạc". Từ điển New World
của Webster tuyên bố rằng "lừa đảo là một thuật ngữ chung và bao gồm tất cả các phương
tiện đa dạng mà sự khéo léo của con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để
đạt được lợi thế hơn người khác bằng cách trình bày sai lầm. Không có quy tắc xác định và
bất biến nào có thể được áp dụng." được đặt ra như một mệnh đề chung trong việc xác định
gian lận, vì nó bao gồm những cách bất ngờ, thủ đoạn, xảo quyệt và không công bằng mà
người khác bị lừa. Ranh giới duy nhất xác định nó là những ranh giới hạn chế sự hèn hạ
của con người" (Aibrecht 2003, 6). Albrecht (2003, 6) tiếp tục nói rằng “gian lận là một sự
lừa dối bao gồm các yếu tố sau: trình bày sai về một quan điểm trọng yếu và sai sự thật một
cách cố ý hoặc liều lĩnh; điều mà người ta tin là sai.” và do nạn nhân thực hiện, gây thiệt hại cho nạn nhân
1.2 Phân biệt gian lận và sai sót ?
The difference between fraud and error lies in the intention. Simply put, fraud is an act
that is intentionally carried out to benefit certain individuals or groups and causes
detrimental effects to others, while errors are acts of unintentional mistake or negligence.
Fraud is considered an intentional act that has been conducted by one or more
members of the management of a company. Additionally, fraud can be conducted by
any employees or by those charged with governance.
Errors are considered an unintentional act that has been conducted by members of
management and can be anything from mechanical errors to making estimates that are
deemed unreasonable or inaccurate.
https://www.universalcpareview.com/ask-joey/what-is-the-difference-between-fraud- and-an-error/
Dịch: Sự khác biệt giữa gian lận và sai sót nằm ở ý định. Nói một cách đơn giản, gian
lận là hành vi được thực hiện có chủ đích nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc
nhóm nhất định và gây ảnh hưởng bất lợi cho người khác, còn sai sót là hành vi vô ý
hoặc sơ suất. Gian lận được coi là hành vi cố ý được thực hiện bởi một hoặc nhiều
thành viên ban quản lý của một công ty. Ngoài ra, gian lận có thể được thực hiện bởi
bất kỳ nhân viên nào hoặc bởi những người chịu trách nhiệm quản trị. Sai sót được coi
là hành động vô ý do các thành viên ban quản lý thực hiện và có thể là bất kỳ nguyên
nhân nào từ lỗi cơ học đến việc đưa ra các ước tính được cho là không hợp lý hoặc không chính xác. + So sánh
Điểm giống nhau: đều là hành vi sai phạm, làm lệch lạc thông tin và phản ánh sai thực tế Điểm khác nhau Gian lận Sai sót Ý thức Cố ý Không cố ý Mức độ hành vi Khó phát hiện Dễ phát hiện Tính nghiêm trọng Là hành vi nghiêm trọng Tùy thuộc vào quy mô và
sự lặp lại của nghiệp vụ 2.
Biển thủ: Asset misappropriation
Biển thủ là xảy ra khi nhân viên hay người quản lý đánh cắp tài sản của tổ chức ví dụ
đánh cắp tiền, hàng tồn kho, hay gian lận về tiền lương. Nguồn: ACFE 2020
VD: Vào tháng 11/2015, Hòa là nhân viên bán vé tại chi nhánh của Công ty Hà Sơn -
Hải Vân (phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Tháng 4/2016, Hòa được
công ty bổ nhiệm phụ trách bộ phận bán vé tại chi nhánh. Theo quy định của công ty,
phụ trách bộ phận bán vé khi hết ca phải nộp lại toàn bộ số tiền bán vé, và bảng kê vé
đã bán cho phòng kế toán. Nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Hoà không thực
hiện theo quy định, mà nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán vé xe khách của công ty.
Trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2016 đến 21/7/2016, Hòa đã chiếm đoạt của số
tiền hơn 645 triệu đồng của Công ty Hà Sơn - Hải Vân. Thủ đoạn của Hòa là sau mỗi
ngày làm việc, chị ta tự lập và cân đối bảng kê số lượng vé bán thấp hơn so với lượng
vé bán thực tế, sau đó nộp cho phòng kế toán của công ty số tiền thấp hơn. Nguồn:
https://cand.com.vn/Ban-tin-113/bien-thu-tien-cong-ty-nu-phu-trach-ban-ve-linh-5- nam-tu-i665419/
Trần Thị Thương (SN 1986), trú xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu là cán bộ văn
phòng kiêm thủ quỹ của UBND xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, trong quá trình làm
việc, đối tượng đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn để chiếm đoạt tiền công quỹ, tiền
lương phụ cấp cho các lực lượng bán chuyên trách và tiền chi cho hoạt động thường
xuyên của các ban, ngành.Trần Thị Thương đã tham ô tài sản với tổng số tiền hơn 300
triệu đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân. Nguồn:
https://cand.com.vn/ban-tin-113/nu-can-bo-xa-bien-thu-cong-quy-i719237/?
fbclid=IwAR01Fnf8Y7T_IuYfp6EsjBoBc0VqD- MmK7s0PevflEU24ylbg7vSAusvmQw
Định nghĩa tham ô (Corruption A review)
Tham ô là hành vi bất hợp pháp, liên quan đến cấp quản lý (quan chức nhà nước, Chính trị gia,...)
Theo Arvind, 2001 nghiên cứu về lĩnh vực công, ông chia Tham ô làm 3 nhóm:
- Tham ô lớn: hoạt động của giới tính hoa chính trị -> gây ra hiệu quả nghiêm trọng (Kruegen, 1993).
Vd: Nhà độc tài không phân biệt giữa tài sản chung và tài sản riêng.
Nhà độc tài đưa ra quyết định vì lợi ích riêng
- Tham ô quan liêu: hành vi tham nhũng của các quan chức được bổ nhận trong
giao dịch của họ với cấp trên/ hoặc công chúng
Vd: Hối lộ để đẩy nhanh tiến độ, thủ tục hành chính công.
‘Hối lộ để mua quyết định tư pháp’ (Rose - Ackerman, 1998)
- Tham ô trong ngành lập pháp: cách thức và mức độ mà hành vi bỏ phiếu của
nhà lập pháp có thể bị ảnh hưởng Vd: mua phiếu bầu
Định nghĩa tham ô theo ACFE (2020)
Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ làm trái các nghĩa
vụ đã được họ cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay bên thứ ba
Gian lận trên báo cáo tài chính là: khi các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp
méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin. Nguồn: ACFE 2020
Năm 2002 vụ gian lận của Công ty Cổ phần bánh kẹo Biên Hòa được coi như là một
vụ gian lận được các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cực kỳ quan tâm. Tại vì, một
trong những công ty thực phẩm bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với uy tín và thương
hiệu hiện nay rất đang được ưa chuộng tại thị trường nội địa. Cụ thể, theo Báo cáo tài
chính năm 2002, công ty này đã thực hiện thủ thuật ghi nhận sai niên độ cho doanh
thu và chi phí không đúng kỳ nhằm mục đích che dấu công nợ và chi phí để giúp báo
cáo tài chính có được kết quả như mong muốn.
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bai-hoc-bibica-88111.htm?
fbclid=IwAR1n83y6Jykh1zBafBcCia7OJKcAKLVsTYWWc1o_MGLRgfPgo3GpT7 xgeNA
https://cafef.vn/vu-lua-dao-lam-gioi-tai-chinh-kinh-hon-bat-via-cong-ty-nguy-tao-so-
sach-trong-nhieu-nam-bien-lo-thanh-lai-nhu-than-luc-pha-san-khien-chung-khoan-
dao-dien-20210807185654456.chn?
fbclid=IwAR3kPD82qJmXQCoDQl9Uusai2GmdGhFBV3zMcLNjaR8j1hLFvh4ka8C ytqk
VD: WorldCom là một Tập đoàn Viễn thông của Mỹ thành lập năm 1983, ở thời kỳ
đỉnh cao, vốn hóa của WorldCom có lúc đã lên tới khoảng 180 tỷ USD và giá cổ phiếu
đạt mốc 60 USD. Mùa xuân năm 2000, đế chế này đã có khoảng 88.000 nhân sự và
60.000 mile đường dây điện thoại trên khắp thế giới.
Đầu mùa hè năm 2002, một kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra sổ sách theo chỉ
đạo của CEO mới và đã nhận thấy những điểm bất thường trong số liệu kế toán và quy
mô của quá trình gian lận kéo dài từ năm 1999 đến tháng 5/2002 bắt đầu được lật tẩy.
WorldCom bị phát hiện đã ghi nhận 3,8 tỷ USD chi phí thông thường thành các khoản
đầu tư. Nhờ đó, lợi nhuận của WorldCom đã được bơm thổi, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ
lãi 1,6 tỷ USD vào năm 2001 và 172 triệu USD vào quý I/2002. Năm 2001, công ty
công bố hoạt động kinh doanh tạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt, nhưng trên thực tế là 4,6 tỷ
USD. Công ty này thừa nhận đã gian lận sổ sách hơn 4 tỷ USD, nhưng sau đó được
xác nhận là 11 tỷ USD. Tháng 7/2002, sau khi vụ bê bối vỡ lở, cổ phiếu của
WorldCom từ mức đỉnh là 63,5 USD đã rớt xuống chỉ còn 20 cent ở thời điểm công ty
này nộp đơn xin phá sản (21/1/2002), với giá trị tài sản được liệt kê lên tới hơn 107 tỷ USD.