HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TẬP LỚN
MARKETING TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
Chủ đề: Bán phá giá
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thúy Hà
Mã học phần: MKT24A03
Nhóm: 01
Đoàn Xuân Bắc 25A4052030
Nguyễn Hoàng Dương 25A4052318
Bùi Quang Hiếu 25A4050050
Vũ Thế Dương 25A4052320
Trần Hoàng Linh 25A4050395
Lê Hồng Vi 25A4051681
Lê Hương Giang 25A4052329
Nguyễn Thị Hà 25A4052340
Nguyễn Thị Hoàng Ly 24A4050051
Hà Nội, 11/2024
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU..............................................................................2
1. Khái niệm.......................................................................................................2
2. Cách xác định bán phá giá..............................................................................2
3. Tính pháp lý của bán phá giá..........................................................................4
4. Các hình thức bán phá giá..............................................................................4
4.1 Bán phá giá bền vững............................................................................4
4.2 Bán phá giá chớp nhoáng......................................................................5
4.3 Bán phá giá không thường xuyên...........................................................6
KẾT LUẬN........................................................................................................8
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................9
1
MỞ ĐẦU
Bán phá giá, một hành vi thương mại không công bằng, đã trở thành
một vấn đề nhức nhối trong thương mại quốc tế. Khi các doanh nghiệp nước
ngoài bán sản phẩm vào một thị trường với giá thấp hơn đáng kể so với giá
thành sản xuất hoặc giá bán trên thị trường nội địa, điều này không chỉ gây
thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước mà còn làm mất cân bằng thị trường.
Sau đây ta sẽ đi sâu vào khái niệm bán phá giá, phân tích các hình thức bán phá
giá phổ biến và làm rõ tác động của chúng đến nền kinh tế. Qua đó, chúng ta sẽ
hiểu rõ về sự nguy hại của hành vi này hơn.
2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm
Phá giá nghĩa sản phẩm được đưa ra bán một nước với mức giá
thấp hơn giá thông thường của nó.
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá, khi được đưa vào thương mại
của một quốc gia khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của , nếu giá
xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ quốc gia này sang quốc gia khác
thấp hơn giá tương đương , trong quá trình thương mại thông thường, đối với
sản phẩm tương tự khi được tiêu thụ tại quốc gia xuất khẩu.
(Điều 2.1 của ADA)
dụ: Đường được doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ với giá
123,54$/ tấn. Trong khi đó, ở Trung Quốc, doanh nghiệp này bán đường mía và
các sản phẩm tương tự với giá 1000 nhân dân tệ/ tấn tương đương 154,43 US $
(trong điều kiện thương mại thông thường)
2. Cách xác định bán phá giá
Xác định bán phá giá một quy trình phức tạp nhằm đánh giá mức độ
bất công trong việc định giá hàng hóa nhập khẩu so với thị trường nội địa, từ
đó bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi những tác động tiêu cực.
Dựa vào giá trên thị trường nội địa nước xuất:
Hàng nhập khẩu bị xem bán phá giá khi giá nhập khẩu của sản
phẩm đó vào thị trường nước nhập thấp hơn giá trị thông thường tại thị trường
sản phẩm đó xuất xứ (thị trường nội địa). dụ, trong một báo cáo của Bộ
Thương mại Hoa Kỳ, thép cuộn cán nóng của Trung Quốc được bán vào thị
trường Mỹ với giá thấp hơn 16% so với giá tại Trung Quốc, dẫn đến một số
doanh nghiệp Mỹ bị giảm lợi nhuận trầm trọng.
Biên độ bán phá giá:
Đây yếu tố then chốt giúp xác định mức độ của hiện tượng bán phá
giá. Biên độ bán phá giá được tính dựa trên chênh lệch giữa giá trị thông
thường và giá xuất khẩu theo công thức:
BĐBPG=(GTTT−GXK)/GXK×100%
Trong đó:
GTTT (giá trị thông thường): giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường
nước xuất khẩu.
GXK (giá xuất khẩu): giá trên hợp đồng giữa nhà xuất khẩu nước ngoài với
nhà nhập khẩu.
Đánh giá:
3
Nếu biên độ này lớn hơn 0%, có nghĩa là có hiện tượng bán phá giá
Nếu biên độ này đạt mức tối thiểu 2%, điều đó được coi là bán phá giá, cần
áp dụng những biện pháp chống bán phá giá.
Mức độ thiệt hại “đáng kể” của nước nhập khẩu:
Khi hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá, ngành sản xuất của nước nhập
khẩu có thể phải chịu tổn thất nghiêm trọng, biểu hiện qua giảm doanh thu, mất
thị phần, lợi nhuận suy giảm, thậm chí phá sản. Theo quy định của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), mức độ thiệt hại được xác định "đáng
kể" nếu các chỉ số trên đều bị tác động, chỉ ra một xu hướng suy giảm của
ngành sản xuất nội địa.
- Các thiệt hại này có thể tồn tại dưới hai dạng: thiệt hại thựcVề hình thức:
tế hoặc nguy cơ thiệt hại.
- Các thiệt hại này phải ở mức đáng kể.Về mức độ:
- Các thiệt hại thực tế được xem xét trên sở phân tíchVề phương pháp:
tất ccác yếu tố liên quan đến thực trạng của ngành sản xuất nội địa (ví dụ
tỷ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi
về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công…)
Căn cứ khoản 5.8 Điều 5 Hiệp định 261/WTO/VB về Chống bán phá giá -Thực
thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại GATT 1994
quy định rằng: Khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá sẽ được coi không
đáng kể nếu như khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ
thể nào đó chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước
nhập khẩu, ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản phẩm tương
tự từ mỗi nước khối lượng nhập dưới 3%, nhưng tổng số các sản phẩm
tương tự nhập khẩu từ những nước này chiếm trên 7% nhập khẩu sản phẩm
tương tự vào Thành viên nhập khẩu.
Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại của chúng
Để chứng minh bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước, cần phải được thực hiện bằng các phân tích kinh tế, so sánh thời gian
xem xét ảnh hưởng của việc bán phá giá đến tăng trưởng của ngành nội địa.
Tùy thuộc vào việc mỗi quốc gia có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để
xác định mối quan hệ này. Ví dụ: sự trùng hợp về thời gian giữa việc bán giá và
thiệt hại xảy ra, các phân tích. kinh tế để xác định mức tăng trưởng của ngành
sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu…..Các
biện pháp chống phá giá sẽ được áp dụng nếubằng chứng ràng về sự sụt
giảm thị phần lợi nhuận của ngành trong nước liên quan trực tiếp đến
4
việc hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá. Điều này giúp loại trừ các yếu tố
khác, như thay đổi công nghệ hoặc giảm nhu cầu thị trường, chỉ ra rằng
hàng nhập khẩu giá rẻ đã gây ra các tác động tiêu cực.
3. Tính pháp lý của bán phá giá
Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem bán phá giá thì
chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (antidumping) như thuế
chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, cam kết hạn chế định lượng hoặc điều
chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy gây thiệt hại cho
ngành sản xuất trong nước nhập khẩu
Tổ chức thế giới
Tính pháp của bán phá giá bền vững thường được điều chỉnh qua các biện
pháp chống bán phá giá (anti dumping measures). Các tổ chức như Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) cho phép các nước áp dụng thuế chống bán phá
giá nếu chứng minh được rằng hành vi bán phá giá gây ra thiệt hại lớn cho
ngành sản xuất nội địa. Nhiều nước sử dụng thuế nhập khẩu hoặc thuế bảo vệ
để giảm thiểu tác động của hành vi này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
địa phương phục hồi và cạnh tranh công bằng.
Quốc gia
- Luật cạnh tranh: Hành vi bán phá giá thể vi phạm các quy định về
cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trên
thị trường.
- Luật thương mại quốc tế: Các hiệp định thương mại quốc tế thường
những quy định cụ thể về chống bán phá giá, nhằm bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước và đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các quốc gia.
- Luật thuế: Trong một số trường hợp, các quốc gia thể áp dụng thuế
chống bán phá giá lên các sản phẩm nhập khẩu bị bán phá giá, nhằm đắp
thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước.
4. Các hình thức bán phá giá
4.1 Bán phá giá bền vững
Khái niệm: chiến lược doanh nghiệp nước ngoài duy trì giá bán
thấp hơn giá trị thực của sản phẩm trong thời gian dài, thường xuyên bán dưới
chi phí sản xuất để chiếm lĩnh thị trường của nước nhập khẩu.
Mục tiêu: thống trịgia tăng thị phầnmột thị trường cụ thể do khác
biệt về chi phí quản lý, sản xuất chung đặc tính của cầu, khiến các đối thủ
địa phương không thể cạnh tranh được do chênh lệch giá. Qua thời gian, khi
các doanh nghiệp trong nước rút lui vì lợi nhuận giảm hoặc bị phá sản, công ty
5
nước ngoài thể dễ dàng tăng giá trở lại thu lợi nhuận cao hơn. Mục tiêu
chính không chỉ mở rộng thị trường mà còn để xây dựng vị thế thống trị lâu
dài.
Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Về ngắn hạn, người tiêu dùng được hưởng
lợi từ giá cả thấp hơn, nhưng về dài hạn, sự rút lui của các doanh nghiệp địa
phương có thể dẫn đến thị trường bị kiểm soát bởi một vài doanh nghiệp ngoại
quốc, làm tăng nguy cơ độc quyền và giá tăng cao trong tương lai. Hậu quả này
thể ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập cả sự phát triển công nghiệp của
nước nhập khẩu, đặc biệt khi những ngành sản xuất nội địa gặp khó khăn lớn
trong việc tái gia nhập thị trường do bị lấn át trước đây.
dụ: Một dụ điển hình vụ bán phá giá thép của Trung Quốc vào
thị trường Mỹ. Năm 2024, Bộ Thương mại M xác định rằng các sản phẩm
thép cán mỏng từ Trung Quốc đã bán phá giá thép bất hợp pháp với biên độ
bán phá giá lên đến 110.52% bằng cách vận chuyển thép qua Mexico trước khi
vào Hoa Kỳ đầu trực tiếp vào các sở sản xuất tại Mexico, từ đó tác
động tiêu cực lên việc làm của công nhân thép ở Pennsylvania nói riêng và toàn
quốc gia nói chung. Các công ty lớn như Baoshan Iron & Steel đã bị điều tra và
áp thuế mạnh mẽ. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng áp dụng lại mức thuế 25% đối với tất
cả mặt hàng thép nhập khẩu từ Mexico để giảm tác động của chiến lược phá giá
này đối với ngành thép nội địa Mỹ, bảo vệ việc làm ngăn chặn các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh từ Trung Quốc.
4.2 Bán phá giá chớp nhoáng
Khái niệm: Là hình thức bán giá xuất khẩu tạm thời thấp hơn giá nội địa
để tăng sức cạnh tranh, loại trừ đối thủ.
Mục tiêu: Bán phá giá chớp nhoáng (bán phá giá độc quyền) hình
thức bán giá xuất khẩu tạm thời thấp hơn giá nội địa để tăng sức cạnh tranh,
loại trừ đối thủ. Chiến lược này giúp đơn vị bán hàng đẩy nhanh nhận diện
thương hiệu đối với khách hàng Khi đã đạt được mục đích thì mức giá sẽ được
nâng lên ở mức giá độc quyền.
Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Phá giá chớp nhoáng là hành vi vi phạm thô
bạo nguyên tắc cạnh tranh bản chất của hành vi nhằm độc quyền hoá,
làm hủy hoại cạnh tranh nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất ổn về
kinh tế. Theo WTO, thiệt hại do bán phá giá độc quyền gây ra thể là: thiệt
hại vật chất đối với sản xuất công nghiệp trong nước; nguy gây ra tổn thất
vật chất hoặc gây cản trở đến hoạt động của ngành công nghiệp tương tự trong
nước.
6
dụ: Điển hình về chiến lược bán phá giá trong kinh doanh thời gian
gần đây chính công ty dược phẩm Hoa Linh. Nhằm mục đích tiếp cận
thương hiệu đến người tiêu dùng, công ty đã thuê "chiến thần" Linh
livestream bán hàng xả kho với mức giá thấp hơn thị trường. Kết quả, sau
chương trình rất nhiều người đã biết đến thương hiệu này chỉ trong thời gian
ngắn. Kho hàng của Hoa Linh cũng sạch trơn hàng trong ngày hôm đó.
4.3 Bán phá giá không thường xuyên
Khái niệm:hành vi bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí sản xuất,
thường xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn và có những lý do cụ thể.
Mục tiêu: Giải quyết hàng tồn kho, hư hại, thừa và duy trì năng lực cạnh
tranh ở thị trường nội địa. Trong nền kinh tế hàng hóa trước đây, khi gặp khủng
hoảng thừa, các chủ doanh nghiệp thường chất đống hàng hóa của mình, châm
lửa đốt, hoặc đổ xuống biển để giữ giá, nhất định không bán phá giá. Còn hiện
nay, các nước kinh tế phát triển, gặp trường hợp này, nhà buôn thể chọn
một trong vài giải pháp thường dùng. Đầu tiên lưu kho chờ ngày tốt bán giá
tốt hơn. Nhưng lưu khi đòi hỏi phải có chỗ chứa, và chỉ áp dụng với những mặt
hàng không có thời hạn sử dụng. Giải pháp thứ hai là bán xôn. Nhiều khi đây là
giải pháp duy nhất đối với một mặt hàng: thực phẩm sắp hết hạn sử dụng, máy
tính đời cũ,...
Ảnh hưởng đến nền kinh tế:
- Về tác động tích cực: Thứ nhất, kích cầu tiêu dùng. Bán phá giá không
thường xuyên thường đi kèm với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, thu hút
người tiêu dùng mua sắm, kích thích nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Thứ hai, giải phóng nguồn vốn: Việc bán nhanh hàng tồn kho giúp
doanh nghiệp giải phóng nguồn vốn để đầuvào các hoạt động sản xuất kinh
doanh mới, tạo ra cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Tác động tiêu cực: Thứ nhất, ảnh hưởng đến doanh nghiệp: Bán phá giá
không thường xuyên thường dẫn đến lợi nhuận giảm hoặc thậm chí lỗ, gây khó
khăn cho doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động lâu dài. Không chỉ vậy,
việc giảm giá quá nhiều thường xuyên thể làm giảm uy tín của thương
hiệu, khiến khách hàng nghi ngờ về chất lượng sản phẩm. Thứ hai, ảnh hưởng
đến thị trường: Bán giá phá giá không thường xuyên quá nhiều thể gây ra
tình trạng rối loạn thị trường, làm giảm giá trị của các sản phẩm cùng loại
ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, người tiêu dùng có thể
hình thành thói quen chờ đợi các đợt giảm giá, khiến cho việc tiêu dùng trở nên
thiếu bền vững.
7
dụ: Ngành công nghiệp thời trang: Cuối mùa, các thương hiệu thời
trang thường bán thanh những bộ sưu tập để nhường chỗ cho các mẫu
mới. dụ, các thương hiệu thời trang nhanh như Zara, H&M thường các
chương trình giảm giá lớn vào cuối mùa để xả hàng tồn. Ngành công nghiệp
thực phẩm đồ uống: Các sản phẩm thực phẩm đồ uống sắp hết hạn s
dụng thường được bán với giá giảm để tránh lãng phí. Sau 21h, đồ ăn đóng hộp
được sale giá rẻ tại các siêu thị như Big C, Fuji mart…
8
KẾT LUẬN
Như vậy, bán phá giá một thực tế tồn tại trong thương mại quốc tế, gây ra
những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia. Các hình
thức bán phá giá đa dạng, từ bán phá giá bền vững đến bán phá giá chớp
nhoáng thường xuyên, đều nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường loại bỏ
đối thủ cạnh tranh. Để đối phó với vấn đề này, các quốc gia cần tăng cường
hợp tác quốc tế, hoàn thiện khung pháp về chống bán phá giá, đồng thời hỗ
trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, việc
xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và cạnh tranh lành
mạnh là yếu tố quan trọng để hạn chế các hành vi không lành mạnh này.
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Công ty TNHH Luật Ngọc Phú, ,Bán phá giá được hiểu như thế nào
NPLAW, https://nplaw.vn/ban-pha-gia-duoc-hieu-nhu-the-nao.html
[2] Estelle Tran (2014), US imposes antidumping, countervailing duties on Chinese
steel wire rod, SPglobal, https://www.spglobal.com/commodityinsights/en/market-
insights/latest-news/metals/121514-us-imposes-antidumping-countervailing-duties-
on-chinese-steel-wire-rod
[3] Thư viện pháp luật, THỰC THI ĐIỀU VI CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ
THUẾ QUAN THƯƠNG MẠI - GATT (1994),
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-Thuc-thi-Dieu-VI-
cua-Hiep-dinh-chung-ve-Thue-quan-Thuong-mai-GATT-1994-15002.aspx
[4] Bạn cần biết (2024), Bán phá giá gì? Cách xác định các biện pháp
chống bán phá giá?, Bancanbiet, https://bancanbiet.vn/ban-pha-gia-la-gi-cach-
xac-dinh-va-cac-bien-phap-chong-ban-pha-gia/
[5] Bob Casey (2024), Casey, Colleagues to Biden: Stop China’s Illegal Steel
Surge, Protect Our Workers, Jobs, Manufacturers, Bob Casey,
https://www.casey.senate.gov/news/releases/casey-colleagues-to-biden-stop-
chinas-illegal-steel-surge-protect-our-workers-jobs-manufacturers
[6] Báo Nhân dân (2004), Bán phá giá trong thương mại quốc tế thực tiễn
Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử B Tài chính,
https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/ttpltc/pages_r/l/chi-tiet-tin-ttpltc?
dDocName=BTC337377
[7] Báo cáo thực tập - Hiệp định về chống bán phá giá của WTO và một số giải
pháp chống bán phá giá của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
Zun, https://www.zun.vn/tai-lieu/bao-cao-thuc-tap-hiep-dinh-ve-chong-ban-
pha-gia-cua-wto-va-mot-so-giai-phap-chong-ban-pha-gia-cua-viet-nam-trong-
tien-25664/

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÀI TẬP LỚN
MARKETING TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ Chủ đề: Bán phá giá
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thúy Hà Mã học phần: MKT24A03 Nhóm: 01 Đoàn Xuân Bắc 25A4052030 Nguyễn Hoàng Dương 25A4052318 Bùi Quang Hiếu 25A4050050 Vũ Thế Dương 25A4052320 Trần Hoàng Linh 25A4050395 Lê Hồng Vi 25A4051681 Lê Hương Giang 25A4052329 Nguyễn Thị Hà 25A4052340 Nguyễn Thị Hoàng Ly 24A4050051 Hà Nội, 11/2024 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU..............................................................................2
1. Khái niệm.......................................................................................................2
2. Cách xác định bán phá giá..............................................................................2
3. Tính pháp lý của bán phá giá..........................................................................4
4. Các hình thức bán phá giá..............................................................................4
4.1 Bán phá giá bền vững............................................................................4
4.2 Bán phá giá chớp nhoáng......................................................................5
4.3 Bán phá giá không thường xuyên...........................................................6
KẾT LUẬN........................................................................................................8
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................9 MỞ ĐẦU
Bán phá giá, một hành vi thương mại không công bằng, đã trở thành
một vấn đề nhức nhối trong thương mại quốc tế. Khi các doanh nghiệp nước
ngoài bán sản phẩm vào một thị trường với giá thấp hơn đáng kể so với giá
thành sản xuất hoặc giá bán trên thị trường nội địa, điều này không chỉ gây
thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước mà còn làm mất cân bằng thị trường.
Sau đây ta sẽ đi sâu vào khái niệm bán phá giá, phân tích các hình thức bán phá
giá phổ biến và làm rõ tác động của chúng đến nền kinh tế. Qua đó, chúng ta sẽ
hiểu rõ về sự nguy hại của hành vi này hơn. 1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm
Phá giá nghĩa là sản phẩm được đưa ra bán ở một nước với mức giá
thấp hơn giá thông thường của nó.
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá, khi được đưa vào thương mại
của một quốc gia khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó , nếu giá
xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ quốc gia này sang quốc gia khác
thấp hơn giá tương đương , trong quá trình thương mại thông thường, đối với
sản phẩm tương tự khi được tiêu thụ tại quốc gia xuất khẩu. (Điều 2.1 của ADA)
Ví dụ: Đường được doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ với giá
123,54$/ tấn. Trong khi đó, ở Trung Quốc, doanh nghiệp này bán đường mía và
các sản phẩm tương tự với giá 1000 nhân dân tệ/ tấn tương đương 154,43 US $
(trong điều kiện thương mại thông thường)
2. Cách xác định bán phá giá
Xác định bán phá giá là một quy trình phức tạp nhằm đánh giá mức độ
bất công trong việc định giá hàng hóa nhập khẩu so với thị trường nội địa, từ
đó bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi những tác động tiêu cực.
Dựa vào giá trên thị trường nội địa nước xuất:
Hàng nhập khẩu bị xem là bán phá giá khi mà giá nhập khẩu của sản
phẩm đó vào thị trường nước nhập thấp hơn giá trị thông thường tại thị trường
sản phẩm đó xuất xứ (thị trường nội địa). Ví dụ, trong một báo cáo của Bộ
Thương mại Hoa Kỳ, thép cuộn cán nóng của Trung Quốc được bán vào thị
trường Mỹ với giá thấp hơn 16% so với giá tại Trung Quốc, dẫn đến một số
doanh nghiệp Mỹ bị giảm lợi nhuận trầm trọng.
Biên độ bán phá giá:
Đây là yếu tố then chốt giúp xác định mức độ của hiện tượng bán phá
giá. Biên độ bán phá giá được tính dựa trên chênh lệch giữa giá trị thông
thường và giá xuất khẩu theo công thức: BĐBPG=(GTTT−GXK)/GXK×100% Trong đó:
GTTT (giá trị thông thường): giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu.
GXK (giá xuất khẩu): giá trên hợp đồng giữa nhà xuất khẩu nước ngoài với nhà nhập khẩu. Đánh giá: 2
Nếu biên độ này lớn hơn 0%, có nghĩa là có hiện tượng bán phá giá
Nếu biên độ này đạt mức tối thiểu là 2%, điều đó được coi là bán phá giá, cần
áp dụng những biện pháp chống bán phá giá.
Mức độ thiệt hại “đáng kể” của nước nhập khẩu:
Khi hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá, ngành sản xuất của nước nhập
khẩu có thể phải chịu tổn thất nghiêm trọng, biểu hiện qua giảm doanh thu, mất
thị phần, lợi nhuận suy giảm, và thậm chí là phá sản. Theo quy định của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), mức độ thiệt hại được xác định là "đáng
kể" nếu các chỉ số trên đều bị tác động, và chỉ ra một xu hướng suy giảm của
ngành sản xuất nội địa.
- Về hình thức: Các thiệt hại này có thể tồn tại dưới hai dạng: thiệt hại thực
tế hoặc nguy cơ thiệt hại.
- Về mức độ: Các thiệt hại này phải ở mức đáng kể.
- Về phương pháp: Các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân tích
tất cả các yếu tố có liên quan đến thực trạng của ngành sản xuất nội địa (ví dụ
tỷ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi
về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công…)
Căn cứ khoản 5.8 Điều 5 Hiệp định 261/WTO/VB về Chống bán phá giá -Thực
thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT 1994
quy định rằng: Khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá sẽ được coi là không
đáng kể nếu như khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ
thể nào đó chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước
nhập khẩu, ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản phẩm tương
tự từ mỗi nước có khối lượng nhập dưới 3%, nhưng tổng số các sản phẩm
tương tự nhập khẩu từ những nước này chiếm trên 7% nhập khẩu sản phẩm
tương tự vào Thành viên nhập khẩu.
Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại của chúng
Để chứng minh bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước, cần phải được thực hiện bằng các phân tích kinh tế, so sánh thời gian và
xem xét ảnh hưởng của việc bán phá giá đến tăng trưởng của ngành nội địa.
Tùy thuộc vào việc mỗi quốc gia có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để
xác định mối quan hệ này. Ví dụ: sự trùng hợp về thời gian giữa việc bán giá và
thiệt hại xảy ra, các phân tích. kinh tế để xác định mức tăng trưởng của ngành
sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu…..Các
biện pháp chống phá giá sẽ được áp dụng nếu có bằng chứng rõ ràng về sự sụt
giảm thị phần và lợi nhuận của ngành trong nước có liên quan trực tiếp đến 3
việc hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá. Điều này giúp loại trừ các yếu tố
khác, như thay đổi công nghệ hoặc giảm nhu cầu thị trường, và chỉ ra rằng
hàng nhập khẩu giá rẻ đã gây ra các tác động tiêu cực.
3. Tính pháp lý của bán phá giá
Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì
chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (antidumping) như thuế
chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, cam kết hạn chế định lượng hoặc điều
chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho
ngành sản xuất trong nước nhập khẩu
Tổ chức thế giới
Tính pháp lý của bán phá giá bền vững thường được điều chỉnh qua các biện
pháp chống bán phá giá (anti dumping measures). Các tổ chức như Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) cho phép các nước áp dụng thuế chống bán phá
giá nếu chứng minh được rằng hành vi bán phá giá gây ra thiệt hại lớn cho
ngành sản xuất nội địa. Nhiều nước sử dụng thuế nhập khẩu hoặc thuế bảo vệ
để giảm thiểu tác động của hành vi này và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
địa phương phục hồi và cạnh tranh công bằng. Quốc gia
- Luật cạnh tranh: Hành vi bán phá giá có thể vi phạm các quy định về
cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trên thị trường.
- Luật thương mại quốc tế: Các hiệp định thương mại quốc tế thường có
những quy định cụ thể về chống bán phá giá, nhằm bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước và đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các quốc gia.
- Luật thuế: Trong một số trường hợp, các quốc gia có thể áp dụng thuế
chống bán phá giá lên các sản phẩm nhập khẩu bị bán phá giá, nhằm bù đắp
thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước.
4. Các hình thức bán phá giá
4.1 Bán phá giá bền vững

Khái niệm: Là chiến lược mà doanh nghiệp nước ngoài duy trì giá bán
thấp hơn giá trị thực của sản phẩm trong thời gian dài, thường xuyên bán dưới
chi phí sản xuất để chiếm lĩnh thị trường của nước nhập khẩu.
Mục tiêu: thống trị và gia tăng thị phần ở một thị trường cụ thể do khác
biệt về chi phí quản lý, sản xuất chung và đặc tính của cầu, khiến các đối thủ
địa phương không thể cạnh tranh được do chênh lệch giá. Qua thời gian, khi
các doanh nghiệp trong nước rút lui vì lợi nhuận giảm hoặc bị phá sản, công ty 4
nước ngoài có thể dễ dàng tăng giá trở lại và thu lợi nhuận cao hơn. Mục tiêu
chính không chỉ là mở rộng thị trường mà còn để xây dựng vị thế thống trị lâu dài.
Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Về ngắn hạn, người tiêu dùng được hưởng
lợi từ giá cả thấp hơn, nhưng về dài hạn, sự rút lui của các doanh nghiệp địa
phương có thể dẫn đến thị trường bị kiểm soát bởi một vài doanh nghiệp ngoại
quốc, làm tăng nguy cơ độc quyền và giá tăng cao trong tương lai. Hậu quả này
có thể ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và cả sự phát triển công nghiệp của
nước nhập khẩu, đặc biệt khi những ngành sản xuất nội địa gặp khó khăn lớn
trong việc tái gia nhập thị trường do bị lấn át trước đây.
Ví dụ: Một ví dụ điển hình là vụ bán phá giá thép của Trung Quốc vào
thị trường Mỹ. Năm 2024, Bộ Thương mại Mỹ xác định rằng các sản phẩm
thép cán mỏng từ Trung Quốc đã bán phá giá thép bất hợp pháp với biên độ
bán phá giá lên đến 110.52% bằng cách vận chuyển thép qua Mexico trước khi
vào Hoa Kỳ và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất tại Mexico, từ đó tác
động tiêu cực lên việc làm của công nhân thép ở Pennsylvania nói riêng và toàn
quốc gia nói chung. Các công ty lớn như Baoshan Iron & Steel đã bị điều tra và
áp thuế mạnh mẽ. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng áp dụng lại mức thuế 25% đối với tất
cả mặt hàng thép nhập khẩu từ Mexico để giảm tác động của chiến lược phá giá
này đối với ngành thép nội địa Mỹ, bảo vệ việc làm và ngăn chặn các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh từ Trung Quốc.
4.2 Bán phá giá chớp nhoáng
Khái niệm: Là hình thức bán giá xuất khẩu tạm thời thấp hơn giá nội địa
để tăng sức cạnh tranh, loại trừ đối thủ.
Mục tiêu: Bán phá giá chớp nhoáng (bán phá giá độc quyền) là hình
thức bán giá xuất khẩu tạm thời thấp hơn giá nội địa để tăng sức cạnh tranh,
loại trừ đối thủ. Chiến lược này giúp đơn vị bán hàng đẩy nhanh nhận diện
thương hiệu đối với khách hàng Khi đã đạt được mục đích thì mức giá sẽ được
nâng lên ở mức giá độc quyền.
Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Phá giá chớp nhoáng là hành vi vi phạm thô
bạo nguyên tắc cạnh tranh vì bản chất của nó là hành vi nhằm độc quyền hoá,
làm hủy hoại cạnh tranh và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất ổn về
kinh tế. Theo WTO, thiệt hại do bán phá giá độc quyền gây ra có thể là: thiệt
hại vật chất đối với sản xuất công nghiệp trong nước; nguy cơ gây ra tổn thất
vật chất hoặc gây cản trở đến hoạt động của ngành công nghiệp tương tự trong nước. 5
Ví dụ: Điển hình về chiến lược bán phá giá trong kinh doanh thời gian
gần đây chính là công ty dược phẩm Hoa Linh. Nhằm mục đích tiếp cận
thương hiệu đến người tiêu dùng, công ty đã thuê "chiến thần" Hà Linh
livestream bán hàng xả kho với mức giá thấp hơn thị trường. Kết quả, sau
chương trình rất nhiều người đã biết đến thương hiệu này chỉ trong thời gian
ngắn. Kho hàng của Hoa Linh cũng sạch trơn hàng trong ngày hôm đó.
4.3 Bán phá giá không thường xuyên
Khái niệm: Là hành vi bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí sản xuất,
thường xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn và có những lý do cụ thể.
Mục tiêu: Giải quyết hàng tồn kho, hư hại, thừa và duy trì năng lực cạnh
tranh ở thị trường nội địa. Trong nền kinh tế hàng hóa trước đây, khi gặp khủng
hoảng thừa, các chủ doanh nghiệp thường chất đống hàng hóa của mình, châm
lửa đốt, hoặc đổ xuống biển để giữ giá, nhất định không bán phá giá. Còn hiện
nay, ở các nước kinh tế phát triển, gặp trường hợp này, nhà buôn có thể chọn
một trong vài giải pháp thường dùng. Đầu tiên là lưu kho chờ ngày tốt bán giá
tốt hơn. Nhưng lưu khi đòi hỏi phải có chỗ chứa, và chỉ áp dụng với những mặt
hàng không có thời hạn sử dụng. Giải pháp thứ hai là bán xôn. Nhiều khi đây là
giải pháp duy nhất đối với một mặt hàng: thực phẩm sắp hết hạn sử dụng, máy tính đời cũ,...
Ảnh hưởng đến nền kinh tế:
- Về tác động tích cực: Thứ nhất, kích cầu tiêu dùng. Bán phá giá không
thường xuyên thường đi kèm với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, thu hút
người tiêu dùng mua sắm, kích thích nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Thứ hai, giải phóng nguồn vốn: Việc bán nhanh hàng tồn kho giúp
doanh nghiệp giải phóng nguồn vốn để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh
doanh mới, tạo ra cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Tác động tiêu cực: Thứ nhất, ảnh hưởng đến doanh nghiệp: Bán phá giá
không thường xuyên thường dẫn đến lợi nhuận giảm hoặc thậm chí lỗ, gây khó
khăn cho doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động lâu dài. Không chỉ vậy,
việc giảm giá quá nhiều và thường xuyên có thể làm giảm uy tín của thương
hiệu, khiến khách hàng nghi ngờ về chất lượng sản phẩm. Thứ hai, ảnh hưởng
đến thị trường: Bán giá phá giá không thường xuyên quá nhiều có thể gây ra
tình trạng rối loạn thị trường, làm giảm giá trị của các sản phẩm cùng loại và
ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, người tiêu dùng có thể
hình thành thói quen chờ đợi các đợt giảm giá, khiến cho việc tiêu dùng trở nên thiếu bền vững. 6
Ví dụ: Ngành công nghiệp thời trang: Cuối mùa, các thương hiệu thời
trang thường bán thanh lý những bộ sưu tập cũ để nhường chỗ cho các mẫu
mới. Ví dụ, các thương hiệu thời trang nhanh như Zara, H&M thường có các
chương trình giảm giá lớn vào cuối mùa để xả hàng tồn. Ngành công nghiệp
thực phẩm và đồ uống: Các sản phẩm thực phẩm và đồ uống sắp hết hạn sử
dụng thường được bán với giá giảm để tránh lãng phí. Sau 21h, đồ ăn đóng hộp
được sale giá rẻ tại các siêu thị như Big C, Fuji mart… 7 KẾT LUẬN
Như vậy, bán phá giá là một thực tế tồn tại trong thương mại quốc tế, gây ra
những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia. Các hình
thức bán phá giá đa dạng, từ bán phá giá bền vững đến bán phá giá chớp
nhoáng và thường xuyên, đều nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường và loại bỏ
đối thủ cạnh tranh. Để đối phó với vấn đề này, các quốc gia cần tăng cường
hợp tác quốc tế, hoàn thiện khung pháp lý về chống bán phá giá, đồng thời hỗ
trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, việc
xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và cạnh tranh lành
mạnh là yếu tố quan trọng để hạn chế các hành vi không lành mạnh này. 8 TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Công ty TNHH Luật Ngọc Phú, Bán phá giá được hiểu như thế nào,
NPLAW, https://nplaw.vn/ban-pha-gia-duoc-hieu-nhu-the-nao.html
[2] Estelle Tran (2014), US imposes antidumping, countervailing duties on Chinese
steel wire rod
, SPglobal, https://www.spglobal.com/commodityinsights/en/market-
insights/latest-news/metals/121514-us-imposes-antidumping-countervailing-duties- on-chinese-steel-wire-rod
[3] Thư viện pháp luật, THỰC THI ĐIỀU VI CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ
THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994)
,
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-Thuc-thi-Dieu-VI-
cua-Hiep-dinh-chung-ve-Thue-quan-Thuong-mai-GATT-1994-15002.aspx
[4] Bạn cần biết (2024), Bán phá giá là gì? Cách xác định và các biện pháp
chống bán phá giá?
, Bancanbiet, https://bancanbiet.vn/ban-pha-gia-la-gi-cach-
xac-dinh-va-cac-bien-phap-chong-ban-pha-gia/
[5] Bob Casey (2024), Casey, Colleagues to Biden: Stop China’s Illegal Steel
Surge, Protect Our Workers, Jobs, Manufacturers
, Bob Casey,
https://www.casey.senate.gov/news/releases/casey-colleagues-to-biden-stop-
chinas-illegal-steel-surge-protect-our-workers-jobs-manufacturers
[6] Báo Nhân dân (2004), Bán phá giá trong thương mại quốc tế và thực tiễn Việt Nam,
Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính,
https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/ttpltc/pages_r/l/chi-tiet-tin-ttpltc? dDocName=BTC337377
[7] Báo cáo thực tập - Hiệp định về chống bán phá giá của WTO và một số giải
pháp chống bán phá giá của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Zun,
https://www.zun.vn/tai-lieu/bao-cao-thuc-tap-hiep-dinh-ve-chong-ban-
pha-gia-cua-wto-va-mot-so-giai-phap-chong-ban-pha-gia-cua-viet-nam-trong- tien-25664/ 9