
















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ
Học phần: Kinh tế vi mô ĐỀ TÀI:
BIẾN ĐỘNG CUNG CẦU DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG CỦA HÃNG VIETNAM
AIRLINES TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19
Giảng viên hướng dẫn : Đỗ Thị Thu
Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Lớp : K24TCE
Danh sách thành viên: Nguyễn Thị Huyền Anh – 24A4012506
Phạm Trịnh Ngọc Mai - 24A4012546
Nguyễn Lê Dung Nhi - 24A4010415
Lê Thị Ngọc Thảo - 24A4011613
Nguyễn Thu Huyền - 24A4012070
Hoàng Lâm Tùng - 24A4010065
Dương Ngọc Linh - 24A4010097
Trần Thị Huyền - 24A4012073
Đinh Thị Hằng - 24A4010812
Hà Sỹ Thao - 24A4010515
Vũ Thảo Mi - 24A4010547 11
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2022 MỤC LỤC
I. KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1. Bối cảnh nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
2. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
3. Mục tiêu nghiên cứu: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
5. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
II. NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1. Biến động cung dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines và các yếu tố
tác động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.1. Lý thuyết về cung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.2. Biến động cung dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines . . . . . . . 2
1.3. Các yếu tố tác động đến cung dịch vụ hàng không của hãng Vietnam
Airlines . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
2. Biến động cầu dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines và các yếu tố tác
động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.1. Lý thuyết về cầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.2. Biến động cầu dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines . . . . . . . . 7
2.3. Các yếu tố tác động đến cầu dịch vụ hàng không của hãng Vietnam
Airlines . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
3. Định hướng phát triển . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
3.1. Giải pháp vượt qua đại dịch COVID-19 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
3.2. Định hướng phát triển tương lai . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
III. KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
I. KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang diễn ra phức tạp, thế giới phải đối mặt
với rất nhiều khó khăn và thách thức. Dịch bệnh không chỉ làm đảo lộn cuộc sống của
người dân mà còn khiến nền kinh tế thế giới phải gánh chịu nhiều thiệt hại to lớn, mà
ngành đầu tiên chịu tác động nặng nề nhất chính là ngành vận tải hàng không. Hàng
loạt chuyến bay bị cắt giảm, máy bay "đắp chiếu", hành khách vắng bóng, cảng hàng
không ngưng trệ, các dịch vụ hàng không hãng liên tiếp thông báo lỗ... cho thấy ảnh
hưởng tiêu cực của dịch bệnh tới hoạt động kinh doanh của ngành này.
2. Lý do chọn đề tài
Có thể nói hàng không là một ngành có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ
trong phát triển kinh tế, mà còn là cầu nối giữa các quốc gia, các vấn đề liên quan đến
an ninh, quân sự. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày việc di chuyển hay trao đổi
hàng hóa với khoảng cách địa lý xa là một việc hết sức khó khăn, mất thời gian đôi khi
ảnh hưởng trực tiếp đến công việc. Chính vì thế mà ta không thể phủ nhận được tầm
quan trọng của dịch vụ hàng không hãng trong đời sống xã hội cũng như trong sự phát triển của đất nước.
Trước bối cảnh khủng hoảng của ngành hàng không thế giới, ngành hàng không
Việt Nam cũng không nằm ngoài tác động của đại dịch COVID-19. Là doanh nghiệp
chủ lực của hàng không nước ta, Vietnam Airlines đã cung cấp nhiều đường bay nội
địa và quốc tế để đáp ứng nhu cầu cho nhiều hành khách trong và ngoài nước. Tuy
nhiên vì ảnh hưởng của dịch bệnh mà lượng hành khách cũng như hàng hóa giảm đáng
kể gây ra những biến động ảnh hưởng không nhỏ đến nhà sản xuất cũng như người
tiêu dùng. Chính vì những lý do đó mà nhóm quyết định nghiên cứu đề tài “Biến động
cung cầu dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines trong bối cảnh đại dịch
COVID-19” để phân tích sự thay đổi cung cầu dịch vụ hàng không hãng Vietnam
Airlines từ đó đề ra một số giải pháp nhằm vượt qua đại dịch COVID-19 và phát triển
dịch vụ hàng không hãng của hãng trong tương lai.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Bài tiểu luận nghiên cứu về sự biến động cung cầu và giá cả của dịch vụ hàng
không hãng Vietnam Airlines trong bối cảnh đại dịch, giúp cho người đọc có cái nhìn 1
bao quát hơn về thị trường hàng không.
- Phân tích, đề xuất những phương án, giải pháp giúp cho hãng Vietnam
Airlines ngày càng phát triển theo quy luật cung cầu vừa là để đáp ứng nhu cầu của
người dân cũng như mong muốn của thị trường.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2019 đến 03/2022
- Phạm vi không gian: Dịch vụ vận chuyển trong nước và quốc tế của hãng Vietnam Airlines.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Dựa trên nguồn lý thuyết giáo trình Kinh tế
vi mô để tổng hợp kiến thức trọng tâm làm cơ sở cho phân tích thị trường; kết hợp với
các số liệu thực tế trên các nguồn thông tin mạng uy tín.
- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên nguồn thông tin thu thập được, mô tả
thông tin thu được qua các dạng biểu đồ. II. NỘI DUNG
1. Biến động cung dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines và các yếu tố tác động
1.1. Lý thuyết về cung
Cung là khối lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có muốn bán và có
khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, với giả định
các yếu tố khác không đổi.
1.2. Biến động cung dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines
Trước ảnh hưởng của cú sốc kinh tế - xã hội do dịch bệnh COVID-19, thực
trạng cung dịch vụ hàng không của Vietnam Airlines đã có nhiều biến động lớn, thể
hiện qua một số đặc điểm như sau.
Thứ nhất, tổng số chuyến bay đã giảm đáng kể vào năm 2020 và đầu năm
2021 và có dấu hiệu tăng trở lại vào đầu năm 2022.
Trước tiên nhìn vào tình hình chung của các hãng hàng không ở Việt Nam,
theo số liệu mới nhất từ Cục Hàng không Việt Nam cho thấy, trong tháng 8 năm 2
2021, tổng chuyến bay khai thác của các dịch vụ hàng không hãng Việt Nam sụt
giảm tới 90,6% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 59,3% so với tháng trước, chỉ
còn 1536 chuyến. Trong đó, tổng số chuyến bay khai thác của Vietnam Airlines cao
nhất với 1025 chuyến, tuy nhiên nó vẫn giảm 84,6% so với cùng thời điểm năm
ngoái và giảm 47% so với tháng trước.
Hình 1. Số chuyến bay khai thác của các dịch vụ hàng không hãng Nguồn: VnEconomy
Có thể thấy do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, các Dịch vụ hàng không
hãng toàn cầu phải dừng hầu hết chuyến bay chở khách từ giữa 3/2020 trong đó có Vietnam Airlines.
Hình 2: Thống kê số chuyến bay Vietnam Airlines giai đoạn 2015-2020
Nguồn: Báo cáo thường niên của Vietnam Airlines 2020 3
Nối tiếp một năm 2020 đầy u ám cho ngành hàng không thì Tổ chức Hàng
không dân dụng quốc tế (ICAO) cũng nhận định tiêu cực về nửa đầu năm 2021 khi
dự báo lượng ghế cung ứng giảm 42 - 47% so với năm 2019.
Tuy nhiên cho đến năm 2022, khi tình hình dịch bệnh đang dần được kiểm
soát ổn định hơn thì Vietnam Airlines đã quyết định mở thêm 10 đường bay nội địa
và tăng mạnh tần suất từ ngày 01/01/2022. Cụ thể, Vietnam Airlines sẽ khôi phục
thêm đường bay giữa TP.HCM và Vân Đồn cùng nhiều đường bay địa phương khác.
Với kế hoạch mở rộng mạng bay nội địa trong thời gian tới, dự kiến Vietnam
Airlines sẽ cung ứng gần 2 triệu ghế trong dịp cao điểm Tết Nguyên đán 2022.
Thứ hai, các chuyến bay nội địa và chuyến bay quốc tế đều giảm mạnh.
Thời gian qua, do “cú sốc” từ làn sóng thứ 4, không chỉ đường bay quốc tế,
mà đường bay nội địa đều “đóng băng” hoàn toàn. Mặc dù Vietnam Airlines đứng
đầu bảng xếp hạng là hãng thực hiện nhiều chuyến bay nhất trong 9 tháng đầu năm
2021 với 39.544 chuyến bay nhưng vẫn giảm 33,1% so với cùng kỳ 2020.
Thứ ba, mặc dù tổng số chuyến bay giảm mạnh nhưng hầu hết các chuyến
bay vận chuyển hàng hoá vẫn được duy trì.
Điều này nhằm phục vụ nền kinh tế và đời sống xã hội, bao gồm vận chuyển
hàng phục vụ chiến dịch phòng, chống dịch COVID-19 gồm khẩu trang y tế, trang
thiết bị, vật tư y tế… Bên cạnh đó Vietnam Airlines cũng đã thực hiện thành công
187 chuyến bay hồi hương và 89 chuyến chở chuyên gia.
Thứ tư, Vietnam Airlines luôn phải đối mặt với vấn đề dư thừa nguồn lực
trong suốt giai đoạn 2020 -2021.
Theo thống kê hiện số lượng tàu bay của các hãng hàng không Việt đến thời
điểm hiện tại là khoảng 230 tàu, tăng 24 tàu so với năm 2019 (tương ứng tăng
khoảng 10% đội tàu bay). Căn cứ theo số giờ bay thực tế của tất cả các hãng, giờ
bay trung bình/tàu bay theo từng loại tàu và số tàu bay hiện có của các hãng trong
tháng 4/2021, tổng số máy bay dư thừa của các hãng hàng không Việt Nam là xấp xỉ
58 tàu (chiếm 26% tổng số máy bay các hãng).
Để xóa lỗ và tạo dòng tiền đầu tư, Vietnam Airlines đã buộc phải đưa ra giải
pháp tái cơ cấu đội bay khi đã đẩy lùi lịch nhận của 9 tàu bay có lịch giao trong năm
2020-2021 và có kế hoạch bán 11 tàu A321CEO trong năm 2021. 4
Thứ năm, trước áp lực dư cung, giá vé dịch vụ vận chuyển hành khách của
Vietnam Airlines đã được điều chỉnh theo xu hướng giảm vào năm 2020 và bắt đầu
tăng trở lại vào năm 2021.
Năm 2020, ngành vận tải hàng không nói chung và Vietnam Airlines nói
riêng đứng trước những thử thách lớn chưa từng có trong lịch sử do sự bùng phát
của đại dịch COVID-19. Trước tình hình đó, mặt bằng giá vé giảm mạnh do dư thừa
cung ứng làm doanh thu toàn thị trường chỉ bằng 54% so với năm 2019. Kết quả
kinh doanh của các hãng cho thấy doanh thu đều sụt giảm, kể cả giai đoạn cao điểm nhất vào 7/2020.
Năm 2020 – năm đầu tiên của đại dịch COVID-19 thì số chuyến bay của
Vietnam Airlines đã giảm đi đáng kể. Chủ tịch Vietnam Airlines cho biết năm 2020
và 2021, giá vé máy bay giảm còn 40% so với năm 2018 và 2019, khi mà tất cả các
dịch vụ hàng không hãng đều không phải tạm dừng các chặng bay. Áp lực giảm giá
vé máy bay đã xuất hiện từ đầu năm 2020 để kích thích nhu cầu đi lại, cũng như
tránh mất khách vào tay các đối thủ khác. Tuy nhiên đầu năm 2021, giá vé máy bay
đã có xu hướng tăng lên do tình hình dịch COVID dần được cải thiện, từ đó làm cho
nhu cầu đi lại của mọi người được phục hồi.
Hình 3: Biểu đồ biến động giá vé máy bay của hãng Vietnam Airlines giai đoạn 2018-2021
(Số liệu ở biểu đồ là giá vé 1 chiều dành cho người lớn, đã gồm thuế phí, hạng phổ
thông được tổng hợp từ các nguồn tham khảo khác nhau). 5
Có thể thấy trước bối cảnh khủng hoảng của ngành hàng không thế giới,
ngành hàng không Việt Nam cũng không nằm ngoài tác động của đại dịch COVID-
19. Đặc biệt trong thời điểm dịch COVID-19 lên cao đến đỉnh điểm thì hàng loạt các
hãng hàng không điêu đứng, doanh thu sụt giảm đáng kể cũng những hệ lụy khác
ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế. Cũng chính vì thế mà nhìn chung lượng cung
giảm mạnh vào những năm 2019-2020. Tuy nhiên sau đó có xu hướng tăng lên vào
năm 2021-2022. Đây cũng có thể xem là dấu hiệu khởi sắc để chấm dứt chuỗi ngày
u ám của Vietnam Airlines nói riêng và ngành hàng không nói chung.
1.3. Các yếu tố tác động đến cung dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines
Công nghệ sản xuất:
Trong thời gian diễn ra dịch bệnh COVID-19, Vietnam Airlines đã nhanh
chóng triển khai giải pháp ứng dụng công nghệ để giảm tiếp xúc như khuyến khích
hành khách sử dụng các hình thức tự làm thủ tục để hạn chế xếp hàng, tránh tập trung
đông người tại sân bay. Chính vì thế mà dịch vụ hàng không hãng đã và đang triển
khai, phát triển dịch vụ Kiosk check-in cho phép khách hàng làm thủ tục trực tuyến,
đặt vé nhanh chóng, tiện lợi… Nhờ vậy mà có thể mang lại sự thuận tiện, chủ động
cho hành khách và giảm nguy cơ lây nhiễm COVID-19. Nhờ nâng cao công nghệ, chất
lượng dịch vụ mà lượng khách đi lại nhiều hơn đồng nghĩa với việc số chuyến bay cung ứng tăng lên.
Các kênh người bán
Kênh phân phối của hãng tại Việt Nam bao gồm: hệ thống bán vé qua hơn 27
phòng vé và 422 đại lý chính thức trải dài trên toàn quốc và bán vé qua mạng trên
website chính thức của hãng. Ngoài ra trong những năm qua mạng lưới phân phối của
Vietnam Airlines đã mở rộng một cách nhanh chóng, bao trùm phạm vi địa lí rộng lớn
ở 4 châu lục của Thế giới, đó là thành tích hết sức ấn tượng với một thương hiệu của
Việt Nam. Điều này giúp Vietnam Airlines tiếp cận với khách hàng nhanh chóng, đảm
bảo việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách tối ưu, hiệu quả.
Các yếu tố đầu vào
Đối với ngành hàng không, chi phí nhiên liệu chiếm từ 30 - 50 % giá thành. Giá
nhiên liệu tăng mạnh đang là vấn đề đe dọa sự phục hồi của các dịch vụ hàng không
hãng sau cuộc khủng hoảng COVID-19. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Vận tải Hàng không 6
Quốc tế (IATA), giá nhiên liệu máy bay đã tăng gấp đôi lên gần 750 USD/tấn trong năm 2021.
Trong báo cáo, tỷ trọng chi phí nhiên liệu của Vietnam Airlines là khoảng 29%
tổng chi phí trong điều kiện thường, năm 2020 là 19% do ảnh hưởng của dịch bệnh.
Nắm rõ tình hình đó, Vietnam Airlines đã sử dụng các dòng máy bay thế hệ
mới như B787, A350, A321 neo…; phối hợp với IATA triển khai chương trình bay tiết
kiệm nhiên liệu. Điều này giúp đảm bảo duy trì nguồn cung chuyến bay.
2. Biến động cầu dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines và các yếu tố tác động
2.1. Lý thuyết về cầu
Cầu là khối lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua muốn mua và có khả
năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, giả định với
các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu là không đổi.
2.2. Biến động cầu dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines
Bên cạnh những ảnh hưởng đến cung, dịch bệnh COVID-19 cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến cầu của thị trường về dịch vụ của hãng hàng không Vietnam Airlines.
Thứ nhất, nhu cầu đi lại của người dân trong nước giảm mạnh.
Trước thời điểm đại dịch COVID-19 bùng nổ, Vietnam Airlines là hãng vận
chuyển hành khách lớn nhất, vận chuyển 22,9 triệu lượt khách trong năm 2019. Tuy
nhiên, khi đại dịch COVID-19 bùng phát, năm 2020 số lượt khách bay Vietnam
Airlines chỉ còn 14,1 triệu lượt khách, giảm 8,8 triệu lượt tức 38,4% so với năm 2019.
Trước tình thế cấp bách của dịch bệnh, ngày 31/03/2020 Thủ tướng Chính phủ
ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện cách ly toàn xã hội trong vòng 15
ngày kể từ 0 giờ ngày 01/4/2020 trên phạm vi toàn quốc khiến cho việc đi lại bị hạn
chế. Hơn nữa thời điểm này các ổ dịch diễn biến phức tạp khiến cho tâm lý người dân
e ngại khi phải di chuyển tới những nơi đông người như sân bay. Chính vì vậy mà cầu
của hãng thời điểm này bắt đầu suy giảm.
Tuy quý III/2020 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực về sản lượng vận chuyển
hành khách so với quý II, nhưng do các dịch vụ hàng không hãng trong nước tăng tải ồ
ạt, đồng thời thực hiện nhiều chương trình kích cầu nhằm thúc đẩy du lịch theo mục
tiêu lớn của Chính phủ và thị trường hàng không quốc tế chưa được khai thác trở lại 7
nên hiệu quả trực tiếp cho Vietnam Airlines còn ở mức độ rất hạn chế.
Hình 4. Thống kê số khách vận chuyển của Vietnam Airlines giai đoạn 2015-2020
Nguồn: Báo cáo thường niên của Vietnam Airlines 2020
Khi làn sóng dịch thứ 3 được kiểm soát tốt tại Việt Nam, số lượng khách đi lại
bằng đường hàng không đã nhanh chóng phục hồi. Các số liệu giai đoạn Tết Tân Sửu
2021 cho thấy Vietnam Airlines vận chuyển gần 800.000 lượt khách, trong tổng số các
dịch vụ hàng không hãng Việt Nam vận chuyển là hơn 1,7 triệu lượt khách.
Thứ hai, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng giảm mạnh.
Đầu năm 2020, khi dịch COVID-19 bùng phát, nhằm đảm bảo công tác phòng
chống dịch hiệu quả, Việt Nam đã tạm dừng đóng cửa du lịch quốc tế. Theo báo cáo
của Tổng cục Thống kê tính chung cả năm 2020 và 11 tháng năm 2021, Việt Nam chỉ
đón 7,6 triệu lượt khách quốc tế, rất thấp so với con số 18 triệu lượt khách của năm
2019, trong đó chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự
án ở Việt Nam, du học sinh và lái xe vận chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu. Điều này
đồng nghĩa với việc các chuyến bay quốc tế của Vietnam Airlines bị cắt giảm kéo theo
đó làm sụt giảm cầu của hãng.
Tuy nhiên đến đầu năm 2022, lượng vacxin đã được bao phủ rộng, các hạn chế
đối với việc vận chuyển hàng khách đã được dỡ bỏ, Số liệu Tổng cục Thống kê công
bố ngày 29/3 cho thấy khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2022 tăng 41,4% so
với tháng trước và gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm 2021 do Việt Nam đã mở cửa hoàn
toàn du lịch, nhiều đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Trong số đó, khách đến
bằng đường hàng không chiếm gần 90,5% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng
165,2%. Đây là dấu hiệu đáng mừng đối với ngành hàng không nói chung và Vietnam Airlines nói riêng. 8
Tuy nhiên, nhu cầu vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là các trang thiết bị y tế lại
có xu hướng tăng trong giai đoạn dịch bệnh diễn biến phức tạp.
Kể từ khi đại dịch bùng phát đến nay, Vietnam Airlines ghi nhận đã vận chuyển
hơn 6.000 y bác sĩ, cán bộ nhân viên y tế, hậu cần và quân y. Bên cạnh đó, hãng hàng
không quốc gia cũng vận chuyển miễn cước hơn 200 tấn hành lý, hàng hóa y tế, bao
gồm hàng triệu liều vaccine, bộ xét nghiệm, trang phục bảo hộ y tế, máy thở, máy X
quang phổi, máy lọc máu…
Có thể thấy ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh đã làm cho cầu dịch vụ hàng
không Vietnam Airlines suy giảm mạnh trong giai đoạn 2020-2021. Bước sang năm
2022 đã cho thấy những dấu hiệu tích cực trở lại, Vietnam Airlines tiếp tục thực hiện
các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, lộn ngược dòng tăng trưởng mạnh mẽ.
2.3. Các yếu tố tác động đến cầu dịch vụ hàng không của hãng Vietnam Airlines
Thị hiếu người tiêu dùng
Đại dịch COVID-19 diễn ra căng thẳng, gây lên những nỗi lo cho hàng khách
khi di chuyển đến những nơi đông người như sân bay. Người dân có xu hướng lựa
chọn những dịch vụ an toàn, nhanh gọn, tiết kiệm thời gian, tránh phải xếp hàng chờ
đợi lâu. Để giải tỏa rào cản tâm lý cho khách hàng, Vietnam Airlines luôn đặt nhiệm
vụ phòng chống dịch để bảo vệ an toàn cho hành khách lên hàng đầu.
Ngay từ những ngày đầu khi dịch bùng phát, Vietnam Airlines đã ban hành văn
bản hướng dẫn công tác phòng chống dịch theo các cấp độ dịch bệnh để linh hoạt, chủ
động ứng phó với diễn biến của dịch tới các đơn vị sân bay.
Vietnam Airlines không ngừng tìm tòi, sáng tạo, đa dạng hoá thực đơn trên các
chuyến bay nhằm gia tăng trải nghiệm của hành khách. Các bộ thực đơn mới có chất
lượng tốt, cập nhật các xu hướng ẩm thực, sở thích của hành khách. Đặc biệt, để đảm
bảo yêu cầu phòng chống dịch bệnh COVID-19, suất ăn, thức uống được điều chỉnh
linh hoạt để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh.
Các dịch vụ của Vietnam airlines luôn xuất phát từ sự hài lòng của khách hàng
vì vậy có thể nói khi cơn bão đại dịch COVID-19 ập đến, ngành hàng không như bị
đóng băng cục bộ thì VietNam Airlines vẫn vươn mình trỗi dậy. 9
Hình 5. Chỉ số thiện cảm và chỉ số hài lòng khách hàng về Vietnam Airlines
Nguồn: Báo cáo thường niên của Vietnam Airlines 2020
Thu nhập người tiêu dùng
Theo Báo cáo của Tổng cục thống kê Năm 2020 thu nhập bình quân tháng của
người lao động là 4,2 triệu đồng, giảm khoảng 1% so với năm 2019. Số người thất
nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2020 là hơn 1,4 triệu người, tăng 203,7 nghìn người
so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,22%, tăng 0,54 điểm
phần trăm so với năm trước. Người lao động phi chính thức bị giảm thu nhập nhiều
hơn so với lao động chính thức. Người lao động có học vấn, bằng cấp thì mức giảm thu nhập ít hơn.
Thu nhập là yếu tố quyết định khả năng sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng.
Khi thu nhập giảm, người dân hủy bỏ các kế hoạch đi du lịch trong và ngoài nước kéo
theo đó làm giảm lượng khách di chuyển bằng đường hàng không. Từ đó làm cho cầu
hãng của Vietnam Airlines giảm đáng kể.
Yếu tố xã hội khác
Dịch COVID-19 dần được kiểm soát, tiến độ tiêm vắc xin phòng dịch COVID-
19 đạt kết quả khả quan và Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ
được ban hành kịp thời đã đảm bảo việc tiếp tục thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng
chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội” nên thị trường hàng không dần khởi
sắc. Các hoạt động kinh doanh, sản xuất dần bình thường hóa trở lại, thu nhập của
người dân dần ổn định hơn. Lượng bao phủ vắc xin ngày càng lớn, người dân bớt e
ngại hơn về dịch bệnh, các lễ hội, địa điểm du lịch được mở cửa trở lại sau những ngày
thực hiện giãn cách.
Ngày 16/5/2020 Vietnam Airlines phối hợp với Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát
động chương trình kích cầu du lịch nội địa toàn quốc. Ông Lê Hồng Hà, Phó Tổng 10
giám đốc Vietnam Airlines cho biết: “Hơn 70% khách đi trên chuyến bay của Vietnam
Airlines là khách du lịch, gồm khách nội địa, khách quốc tế đến Việt Nam cũng như từ
Việt Nam đi quốc tế. Do đó, Vietnam Airlines xác định hàng không và du lịch có mối
quan hệ hữu cơ khăng khít và gắn bó, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn này.”
Vietnam Airlines đã chủ động nắm bắt mọi cơ hội phục hồi của thị trường để
đáp ứng linh hoạt, tiên phong phát động các chiến dịch kích cầu du lịch trên toàn quốc
và liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ. Người dân lạc quan hơn về tình hình dịch bệnh,
các nhu cầu đi lại được thực hiện. Cầu dịch vụ hàng không hãng Vietnam Airlines có
sự tăng trưởng trở lại.
3. Định hướng phát triển
3.1. Giải pháp vượt qua đại dịch COVID-19
Chỉ trong năm 2020, dịch bệnh COVID-19 đã phá hủy toàn bộ thành tựu trong
quá khứ của Vietnam Airlines, không những thế vốn chủ sở hữu của hãng âm khoảng
⅔. Trước tình hình đó Vietnam Airlines cần nhanh chóng đề ra các chiến lược kinh
doanh, thay đổi phù hợp thích nghi với tình hình dịch bệnh.
Thứ nhất, Vietnam Airlines cần tái cơ cấu đội bay: đẩy lùi lịch nhận tàu bay
mới từ 2019 về trước, thanh lý tàu bay cũ để giảm chi phí, tăng cường cho thuê máy
bay, đa dạng hóa các hoạt động khuyến mại để thu hút khách, kích cầu, tạo nguồn thu.
Thứ hai, dịch vụ hàng không hãng có thể kêu gọi sự hỗ trợ từ đối tác, đàm phán
để giãn, hoãn các khoản thanh toán, gia hạn vay giúp doanh nghiệp có thể duy trì trong
thời điểm dịch bệnh khó khăn.
Thứ ba, để tăng vốn của doanh nghiệp, Vietnam Airlines có thể phát hành thêm
cổ phiếu, trái phiếu để có tiền thanh toán các khoản nợ và góp phần bổ sung vốn lưu
động đảm bảo duy trì khả năng sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu các khoản vay.
Thứ tư, hãng bay cần thoái vốn đầu tư khỏi các doanh nghiệp không thuộc hoạt
động kinh doanh cốt lõi để có thể tập trung tối đa nguồn lực vào lĩnh vực hàng không.
Thứ năm, việc tái cơ cấu quỹ đất có thể giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận,
mang lại nguồn thu đáng kể. Thêm vào đó, Vietnam Airlines cần mở rộng kinh doanh
vận tải hàng hóa, khai thác và phát huy tối đa thế mạnh của hãng.
3.2. Định hướng phát triển tương lai
Chuyển đổi số 11
Vietnam Airlines tiếp tục thực hiện chuyển đổi công nghệ mạnh mẽ hướng tới
là dịch vụ hàng không hãng công nghệ số. Tập trung triển khai nhanh, mạnh công tác
chuyển đổi số doanh nghiệp. Ưu tiên phát triển thương mại điện tử và công nghệ hỗ
trợ khách hàng. Công nghệ giúp thời gian xử lý thông tin hay các giao dịch được rút
ngắn. Ứng dụng đó tạo ra cho phép người dùng sử dụng thông tin cá nhân để mua vé,
yêu cầu về đồ ăn thức uống, nêu cảm nhận đánh giá về chuyến bay. Những tiện ích
mới sẽ mang lại sự hài lòng cho khách hàng và là cơ sở để giữ chân hành khách.
Xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu
Vietnam Airlines cần đẩy mạnh việc sử dụng mạng xã hội như Instagram,
Twitter, …Ví dụ như American Express tập trung vào Digital và nhận thấy được tiềm
năng khó cưỡng lại được từ việc giao tiếp và kết nối với khách hàng trên Instagram từ
đó họ đã tăng cường đăng nhiều hình ảnh kèm theo những nội dung hấp dẫn và thu về
lượng khách hàng sử dụng mới cực lớn. Việc Vietnam Airlines đẩy mạnh việc sử dụng
mạng xã hội sẽ giúp hãng nhanh chóng tiếp cận ý kiến phản hồi từ khách hàng, thảo
luận và chia sẻ vấn đề cùng họ, giúp họ kịp thời giải đáp các thắc mắc.
Vietnam Airlines có thể hợp tác với một thương hiệu phát hành thẻ bay dành
cho những người hay đi công tác trong nước hay công tác nước ngoài nhiều lần trong
một tháng để phát hành thẻ tháng hoặc có thể dành cho những gia đình hay có thói
quen đi du lịch vào những ngày lễ để phát hành thẻ năm. Những khách hàng sử dụng
thẻ có thể nhận được những ưu đãi về giá cả, dịch vụ; những voucher khi mua vé cho
nhóm nhiều người khi thanh toán qua thẻ.
Thực hiện bay an toàn tuyệt đối
Theo ông Nguyễn Thái Trung – Phó Tổng giám đốc Vietnam Airlines nhận
định: “Đến năm 2025, văn hóa an toàn của Vietnam Airlines đạt mức tiên tiến, an toàn
trở thành giá trị cốt lõi và nền tảng trong văn hóa doanh nghiệp”. Để đạt được điều
này, Vietnam Airlines tiếp tục nâng cao hệ thống quản lý an toàn để dự báo, xác định
các nguy cơ, từ đó xử lý, phòng ngừa rủi ro kịp thời.
Bên cạnh đó cần điều chỉnh mức giá vé máy bay hợp lý. Với mức giá vé máy
bay "thấp như hiện nay", theo ông Đặng Ngọc Hòa - chủ tịch hội đồng quản trị
Vietnam Airlines, cũng làm ảnh hưởng đến an toàn hàng không trong khi đây là tiêu
chuẩn cực kỳ cao. Do đó, nếu các hãng hạ giá vé mà thấp hơn cả giá xăng dầu cho một 12
chuyến bay sẽ ảnh hưởng đến chi phí an toàn hàng không, nguy cơ sự cố an toàn hàng
không và ảnh hưởng tới quốc gia.
Nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, hãng sẽ áp dụng biện pháp phòng, chống
dịch cấp 2 đối với chuyến bay khởi hành từ Việt Nam và cấp 4 đối với chuyến bay từ
nước ngoài về, đồng thời thử nghiệm ứng dụng hộ chiếu sức khỏe điện tử IATA
Travel Pass nhằm đảm bảo quản lý và cập nhật thông tin khách hàng một cách an toàn.
Đẩy mạnh các chương trình ưu đãi và chăm sóc khách hàng
Để có những bước đột phá mới, Vietnam Airlines liên tục cập nhật xu hướng,
tăng cường hợp tác cùng các đối tác bên ngoài để hành khách có thể đa dạng trải
nghiệm ở các dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, mua sắm, làm đẹp, nghỉ dưỡng...
Bên cạnh đó, hãng đề ra những chương trình khuyến mại cho khách hàng
thường xuyên, khách hàng lớn và chính sách giá cho người khuyết tật, liên tục cải
thiện các dịch vụ: cung cấp wifi, dịch vụ giải trí không dây, nâng cao văn hóa ẩm
thực… nhằm mang đến cho khách hàng những trải nghiệm mới mẻ, chưa từng có khi
đi máy bay. Hãng tiếp tục mở rộng hợp tác trên mọi phương diện nhằm giảm giá cho
đường bay liên doanh, tránh đối đầu với các dịch vụ hàng không hãng lớn mạnh. Bởi
trong cuộc chiến giá cả, một dịch vụ hàng không hãng có tiềm lực kinh tế mạnh luôn chiếm lợi thế.
Nâng cao cơ sở hạ tầng
Để tiếp tục phát triển và duy trì là một trong những dịch vụ hàng không hãng
quốc dân, Vietnam Airlines cần tiếp tục cố gắng hoàn thiện và nâng cao cơ sở hạ tầng
từng ngày để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, cũng như thỏa mãn sự hài lòng của hành khách.
Ký kết hợp tác phát triển du lịch
Trong đại dịch COVID-19, Vietnam Airlines đã cùng với Hiệp hội Du lịch Việt
Nam thực hiện các chương trình kích cầu du lịch nội địa. Điều này đã mang lại những
hiệu quả rất tích cực. Trong tương lai Vietnam Airlines cần tiếp tục phát huy, duy trì
mối quan hệ hợp tác với các đối tác lớn như: Công ty CP Vinpearl, NovaGroup, IHG
(tập đoàn khách sạn hàng đầu thế giới) . . Có thể nói hàng không và du lịch có mối
quan hệ khăng khít với nhau, kích cầu du lịch làm phục hồi nhanh chóng thị trường hàng không. 13
III. KẾT LUẬN
Có thể thấy trong khoảng thời gian vừa qua cả ngành hàng không nói chung
cũng như hãng Vietnam Airlines nói riêng đã phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực của
đại dịch COVID-19, làm sụt giảm nguồn cung, cầu đáng kể. Tuy nhiên dưới sự hỗ trợ
và khả năng kiểm soát dịch bệnh tốt của Chính phủ cũng như trong nội tại của hãng đã
có những sự thay đổi, phản ứng phù hợp, tức thời để đối phó với những khó khăn do
đại dịch mang đến và đã có những dấu hiệu phục hồi, trở lại. Số lượt khách bay đã có
dấu hiệu tăng trở lại khi tình hình dịch có chuyển biến tích cực, cách lệnh giãn cách
được gỡ bỏ, các chính sách kích cầu du lịch được ban hành. Song trong suốt quá trình
nghiên cứu về hãng cũng như về cả ngành vận tải hàng không, sự hồi phục của
Vietnam Airlines cũng như các hãng khác chỉ mang tính chất gỡ bỏ những khó khăn
trước mắt chưa đem đến hiệu quả thực sự về mặt lâu dài. Để khôi phục mức độ tăng
trưởng và phát triển hơn nữa hãng cần có các giải pháp lâu dài trong tương lai. Do
trình độ bản thân còn nhiều hạn chế và bước đầu áp dụng lý luận vào thực tiễn nên bài
tiểu luận này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong quá trình viết bài. Nhóm
chúng em rất mong nhận được sự đóng góp của cô để bài viết của nhóm chúng em
được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn! 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan & TS. Trần Thị Thanh Huyền (Đồng chủ biên),
Giáo trình kinh tế vi mô, Nhà xuất bản Lao động
[2] Anh Dương (2021), ‘Vietnam Airlines đưa nhiều công nghệ thông minh để
giảm tiếp xúc COVID-19’, Cafef, truy cập lần cuối ngày 8 tháng 7 năm 2021
từ giam-tiep-xuc-COVID-19-2021070813321396.chn>
[3] Bạch Mộc (2021), ‘Giá dầu tăng cao, các dịch vụ hàng không hãng của Việt
Nam phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu thế nào?’, Cafebiz, truy cập lần cuối ngày
23 tháng 10 năm 2021, từ khong-cua-viet-nam-phong-ngua-rui-ro-gia-nhien-lieu-the-nao-202110230853 3055.chn>
[4] Lương Hạnh (2020), ‘Chiến lược Marketing của American Express’ truy cập
ngày 15 tháng 3 năm 2022 từ cua-american-express-dinh-cao-cua-dich-vu-la-day-chu-dau/>
[5] Khánh Linh (2021), “Kỷ lục buồn của hàng không Việt Nam: Tổng chuyến bay
khai thác giảm 91%, Vietravel "trắng chuyến"” truy cập lần cuối ngày 15 tháng
03 năm 2022 từ tong-chuyen-bay-khai-thac-giam-91-vietravel-trang-chuyen.htm>
[6] Thắng Nguyễn (2020), ‘Chiến lược Marketing của Vietnam Airlines “đối đầu”
với các dịch vụ hàng không hãng giá rẻ’, MarketingAI, truy cập lần cuối ngày
14 tháng 3 năm 2020, từ vietnam-airlines-doi-dau-voi-cac-hang-hang-khong-gia-re/#ftoc-heading-4>
[7] Vietnam Airlines (2020), Báo cáo thường niên 2020, Hà Nội.
[8] Vietnam Airlines (2020), ‘Vietnam Airlines và Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát
động chương trình kích cầu du lịch nội địa toàn quốc’, Hà Nội
[9] Tổng cục thống kê (2020), Thông cáo báo chí về kết quả khảo sát mức sống dân
cư năm 2020, Hà Nội
[10] Tổng cục thống kê (2020), Tăng cường thị trường nội địa, hàng không khởi sắc
trong tháng 10, Hà Nộ 15