



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀN KH G O
L LUẬ CHÍN A Ý N TR H ----Ị ---- - -
BÀ TẬ LỚ I P N
HỌ PHẦN CH NGHĨ X HỘ KHO HỌ C : Ủ A Ã I A C
CHỦ ĐỀ: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA DÂN TỘC HM
ÔN Ở VIỆ NA HIỆ NAY & Ý NGHĨ VIỆ G T M N NGHIÊN CỨU ĐỐI A C VỚI BẢN THÂN
Giảng viên hướng Phạ Than Hiề dẫn: m h n Mã lớp học 24PLT093 phần: 2 A 2 Nhó thự Nhó 5
m c hiện: m
H Nội thán 4 nă 202 à , g m 5
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN STT Mã SV Họ và tên 1 27A4012204 Lục Thị Sinh 2 27A4012209 Hoàng Phương Thanh 3 27A4012216 Nguyễn Thị Thảo 4 27A4012215
Nguyễn Thị Phương Thảo 5 27A4012218 Vũ Phương Thảo 6 27A4012221 Bùi Thu Thủy 7 27A4012223 Lê Anh Thư 8 27A4012227 Lưu Ngọc Hạnh Trang 9 27A4012229 Nguyễn Thị Mai Trang 10 27A4012230 Nguyễn Thị Thu Trang 11 27A4012231 Phạm Thu Trang 12 27A4012232 Trần Hà Trang 13 27A4012235 Lê Thị Kiều Trinh 14 27A4012244 Đặng Phương Uyên 15 27A4012245 Lý Thu Uyên 16 27A4012246 Đổng Thanh Vân 17 27A4012247 Ngô Hà Vi 18 27A4012258 Trần Thị Yến MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................5
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................5
2. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................5 3.
Đối tượng nghiên cứu...................................................................................5 4.
Ý nghĩa nghiên cứu.......................................................................................5
NỘI DUNG............................................................................................................6 I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN.........................................................................................6
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc........................................6
1.1.1. Khái niệm của dân tộc.....................................................................6
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của dân tộc..........................................................6
1.1.3. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc..........6
1.1.4. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin..............................6
1.2. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam.................................................7
1.2.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam............................................................7
1.2.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam
..................................................................................................................8 II.
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA DÂN TỘC H’MÔNG HIỆN NAY.......9
2.1. Khái quát về dân tộc H’Mông................................................................9
2.1.1. Giới thiệu chung..............................................................................9
2.1.2. Phân bố cư trú..................................................................................9
2.1.3. Đặc điểm kinh tế............................................................................10
2.1.4. Đời sống văn hoá - xã hội..............................................................10
2.1.5. Ngôn ngữ - chữ viết.......................................................................10
2.1.6. Những khó khăn nổi bật................................................................11
2.1.7. Vai trò trong cộng đồng dân tộc Việt Nam....................................11
2.2. Thực trạng đời sống dân tộc H'Mông hiện nay....................................11
2.2.1. Kinh tế...........................................................................................11
2.2.2. Giáo dục.........................................................................................12
2.2.3. Y tế - Sức khỏe..............................................................................14
2.2.4. Văn hoá - Xã hội............................................................................14
2.2.5. Cơ sở hạ tầng và môi trường sinh sống.........................................20
2.3. Nguyên nhân.........................................................................................21
2.3.1. Nguyên nhân khách quan...............................................................21
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan..................................................................22
2.4. Một số tín hiệu tích cực cụ thể..............................................................23
2.4.1. Cải thiện chất lượng giáo dục và nhận thức về học hành..............23
2.4.2. Phát triển hạ tầng và cải thiện điều kiện sống................................24
2.4.3. Phát triển kinh tế và giảm nghèo...................................................24
2.4.4. Cải thiện sức khỏe và chất lượng y tế............................................24
2.4.5. Về bảo tồn truyền thống dân tộc....................................................25
2.5. Định hướng và giải pháp cải thiện đời sống của dân tộc H’Mông.......25
2.5.1. Định hướng....................................................................................25
2.5.2. Giải pháp........................................................................................26
III. Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI SINH VIÊN.........................27
3.1. Nâng cao nhận thức xã hội...................................................................27
3.2. Gắn học với thực tiễn............................................................................27
3.3. Hình thành tinh thần trách nhiệm cộng đồng........................................28
3.4. Phát triển kĩ năng mềm.........................................................................28
3.5. Định hướng nghề nghiệp......................................................................28
KẾT LUẬN.........................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................2 LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dân tộc H’Mông là một trong những dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa độc đáo và lịch
sử lâu đời tại Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và những biến đổi
của thời đại, đời sống của đồng bào H’Mông vẫn còn gặp nhiều khó khăn, từ hạ tầng yếu
kém, giáo dục hạn chế đến bảo tồn văn hóa truyền thống.
Việc nghiên cứu thực trạng đời sống của dân tộc H’Mông không chỉ giúp hiểu rõ hơn về
những thách thức họ đang đối mặt mà còn góp phần đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình phát triển đất nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu -
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng đời sống kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội
của dân tộc H’Mông tại Việt Nam hiện nay. -
Phân tích những khó khăn, thách thức mà đồng bào H’Mông đang gặp phải trong
quá trình hội nhập và phát triển. -
Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, thách thức mà đồng bào H’Mông đang gặp phải -
Những chuyển biến tích cực trong quá trình hội nhập và phát triển của đồng bào dân tộc H’Mông -
Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc H'Mông.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng đời sống của dân tộc H'Mông tại Việt Nam,
tập trung vào các yếu tố như điều kiện kinh tế, đời sống văn hóa, trình độ học vấn, và các
vấn đề xã hội, y tế mà cộng đồng này đang trải qua ở thời điểm hiện tại. 4. Ý nghĩa nghiên cứu -
Về mặt lý luận: nghiên cứu góp phần làm rõ thực trạng đời sống của dân tộc
H’Mông, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số. -
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể giúp các cơ quan chức năng, tổ chức
xã hội đề ra những giải pháp phù hợp để nâng cao đời sống của người H’Mông, đồng thời
bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc này. -
Về mặt xã hội: Nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về cuộc
sống của người H’Mông, từ đó thúc đẩy sự đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các dân tộc
trong cộng đồng dân cư Việt Nam. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc
1.1.1. Khái niệm của dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã
hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của dân tộc
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
* Theo nghĩa rộng: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội có những
đặc trưng cơ bản sau đây: -
Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế. -
Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt. -
Có sự quản lý của một nhà nước, nhà nước. -
Có ngôn ngữ chung của quốc gia. -
Có chung một nền văn hoá và tâm lý dân tộc.
* Theo nghĩa hẹp: Dân tộc – tộc người là cộng đồng người được hình thành lâu dài trong
lịch sử và có ba đặc trưng cơ bản sau: -
Cộng đồng về ngôn ngữ - Cộng đồng về văn hóa -
Ý thức tự giác tộc người
1.1.3. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc -
Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân
tộc độc lập. Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về
quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để thành lập các dân tộc
độc lập. Xu hướng này thể hiện rõ nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. -
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều
quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa tư
bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi bóc lột thuộc địa; do sự phát triển của lực
lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội
tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc,
thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
1.1.4. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
Một là: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở trình
độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về
kinh tế, chính trị, văn hóa.
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền
đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng
dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây
dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Hai là: Các dân tộc được quyền tự quyết
Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa
chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng
vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc
và lợi ích của giai cấp công nhân.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số trong
một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết đấu
tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chiêu
bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, hoặc kích động đòi ly khai dân tộc.
Ba là: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải
phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước và
chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp
nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì
độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
=> Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận quan trọng để các
Đảng cộng sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc
lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.2. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
1.2.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với các đặc điểm sau: -
Có sự chênh lệch về dân số giữa các dân tộc -
Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau -
Các dân tộc thiểu số phân bố chủ yếu ở những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng… -
Các dân tộc có trình độ phát triển không đều. -
Các dân tộc có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc quốc gia thống nhất. -
Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng
của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
1.2.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam
Quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc thể hiện ở các nội dung sau: -
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời
cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. -
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau
cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết
đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. -
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng ở
vùng dân tộc và miền núi, kết hợp tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội và
thực hiện chính sách dân tộc; chú trọng phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số và bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống trong quá trình phát
triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất. -
Ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giao thông, xóa đói giảm nghèo, khai thác tiềm
năng vùng miền, bảo vệ môi trường và phát huy tinh thần tự lực của đồng bào các dân
tộc, kết hợp với sự hỗ trợ từ Trung ương và các địa phương. -
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị.
Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam:
Về chính trị: Thực hiện bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ giữa các dân tộc, nâng cao nhận
thức chính trị và đoàn kết dân tộc, hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc, chủ nghĩa
xã hội, dân giàu, nước mạnh và xã hội công bằng, văn minh.
Về kinh tế: Chính sách tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc
thiểu số, giảm khoảng cách phát triển giữa các vùng và các dân tộc. Các chương trình và
dự án kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở các khu vực này.
Về văn hóa: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Giữ gìn và phát huy
giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, phát triển ngôn ngữ và đời sống văn hóa ở
cơ sở, đồng thời nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân. Tăng cường giao lưu văn hóa
quốc tế và đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống diễn biến hòa bình trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.
Về xã hội: Thực hiện chính sách xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho đồng bào dân
tộc thiểu số, tiến tới bình đẳng xã hội và công bằng thông qua các chương trình xóa đói
giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục và các chính sách phát triển phù hợp với đặc thù từng dân tộc.
Về an ninh quốc phòng: Tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia, duy trì ổn định chính trị và
trật tự an toàn xã hội. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và xây dựng mối quan hệ
quân dân vững mạnh, tạo thế trận quốc phòng toàn dân ở các vùng dân tộc thiểu số.
II. THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA DÂN TỘC H’MÔNG HIỆN NAY
2.1. Khái quát về dân tộc H’Mông
2.1.1. Giới thiệu chung
Dân tộc H’Mông là một trong 54 dân tộc anh em tại Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ
Mông - Dao. Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, người H’Mông có khoảng hơn 1,3
triệu người, là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất cả nước.
Dân tộc H’Mông có nguồn gốc từ vùng núi cao ở khu vực Trung Quốc ngày nay. Theo
nhiều nghiên cứu lịch sử và dân tộc học, người H’Mông từng sinh sống chủ yếu ở các
tỉnh phía nam Trung Quốc như Quý Châu, Vân Nam, Tứ Xuyên và Quảng Tây.
Từ khoảng thế kỷ 18–19, do chiến tranh, xung đột và áp lực chính trị, nhiều cộng đồng
H’Mông đã di cư dần xuống phía nam, trong đó có một bộ phận lớn di cư vào Việt Nam,
Lào, Thái Lan và Myanmar. Ở Việt Nam, người H’Mông định cư chủ yếu ở các vùng núi
phía Bắc, nơi có địa hình cao và khí hậu phù hợp với tập quán sinh sống của họ.
Quá trình di cư lâu dài và phân tán đã tạo ra sự đa dạng trong các nhóm H’Mông, như
H’Mông Đen, H’Mông Trắng, H’Mông Hoa, H’Mông Xanh…, mỗi nhóm có nét văn hóa và phong tục riêng
2.1.2. Phân bố cư trú
Dân tộc H’Mông cư trú chủ yếu ở các vùng núi cao phía Bắc Việt Nam, thường tập trung
ở độ cao từ 800 đến 1.700 mét so với mực nước biển. Họ sống nhiều tại các tỉnh: -
Vùng Tây Bắc: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái -
Vùng Đông Bắc: Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang -
Một bộ phận dân cư H’Mông cũng di cư vào khu vực miền Trung và Tây Nguyên
như Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng…
Đặc điểm cư trú: Người H’Mông thường sống thành bản nhỏ, rải rác trên các sườn đồi,
núi cao, nơi có địa hình hiểm trở. Nhà ở phổ biến là nhà đất (trình tường), nhà gỗ hoặc
nhà sàn, tùy vào điều kiện từng vùng. Hình thức cư trú phân tán khiến mỗi nhóm H’Mông
(như H’Mông Đen, H’Mông Trắng, H’Mông Hoa, H’Mông Xanh) có những đặc trưng
văn hóa riêng biệt, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong đời sống dân tộc
2.1.3. Đặc điểm kinh tế
Người H’Mông chủ yếu sống bằng nghề nông, đặc biệt là canh tác trên nương rẫy. Họ
trồng các loại cây như ngô, lúa nương, sắn, cây thuốc và cây công nghiệp ngắn ngày. Do
địa hình chủ yếu là đồi núi cao, nên hình thức canh tác chủ yếu là làm nương rẫy theo
kiểu phát – đốt – trỉa.
Ngoài trồng trọt, người H’Mông còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà để phục vụ sinh hoạt và
trao đổi. Một số hộ gia đình còn làm nghề thủ công như rèn, mộc, dệt vải thổ cẩm – đặc
biệt là dệt và thêu thùa phục vụ cho trang phục truyền thống.
Ngày nay, ở một số địa phương, người H’Mông đã bắt đầu tiếp cận với các mô hình kinh
tế mới như trồng dược liệu, làm du lịch cộng đồng, buôn bán nhỏ lẻ… góp phần cải thiện
đời sống và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
2.1.4. Đời sống văn hoá - xã hội
Người H’Mông có đời sống văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Điều này thể
hiện qua trang phục, ngôn ngữ, phong tục tập quán và các lễ hội truyền thống. -
Trang phục truyền thống của người H’Mông rất đa dạng, được thêu tay tỉ mỉ với
hoa văn sặc sỡ. Mỗi nhóm H’Mông như H’Mông Đen, H’Mông Trắng, H’Mông Hoa…
đều có kiểu dáng và màu sắc khác nhau. -
Khèn Mông là loại nhạc cụ tiêu biểu, thường được sử dụng trong lễ hội, cưới hỏi, giao duyên. -
Lễ hội quan trọng nhất là Tết cổ truyền của người H’Mông, thường diễn ra vào
cuối tháng Chạp âm lịch, kéo dài nhiều ngày với nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian đặc sắc.
Về tín ngưỡng, người H’Mông thờ cúng tổ tiên và các vị thần gắn liền với tự nhiên như
thần núi, thần nước, thần lúa… Trong xã hội H’Mông, mối quan hệ dòng họ và gia đình
được đề cao. Các bản làng thường có trưởng bản hoặc người có uy tín để điều hành công
việc chung của cộng đồng.
2.1.5. Ngôn ngữ - chữ viết
Người H’Mông sử dụng tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao. Tiếng
H’Mông được sử dụng phổ biến trong đời sống hằng ngày, trong giao tiếp cộng đồng, lễ
hội và các sinh hoạt văn hóa truyền thống.
Về chữ viết, trước đây người H’Mông chưa có hệ thống chữ viết thống nhất. Sau này,
một số hệ chữ đã được xây dựng để ghi âm tiếng H’Mông, trong đó phổ biến nhất là hệ
chữ Latinh cải biên do các nhà truyền giáo phương Tây sáng tạo vào đầu thế kỷ 20.
Hiện nay, chữ viết H’Mông bằng hệ Latin đã được sử dụng trong sách báo, tài liệu giáo
dục và được giảng dạy ở một số địa phương có đông đồng bào H’Mông sinh sống.
2.1.6. Những khó khăn nổi bật -
Về kinh tế: Người H’Mông gặp khó khăn trong phát triển kinh tế nông nghiệp do
địa hình đồi núi, khí hậu khắc nghiệt và thiếu cơ sở hạ tầng. Các cây trồng chủ yếu có
năng suất thấp và không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai như hạn hán, lũ lụt. Địa
hình núi dốc khiến việc vận chuyển nông sản khó khăn, dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài. -
Về giáo dục: Tỉ lệ trẻ em đi học thấp do khó khăn về kinh tế, cơ sở vật chất và
thiếu trường lớp. Nhiều trẻ không sử dụng thành thạo tiếng Việt, gây khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức. -
Về văn hóa truyền thống: Hội nhập và toàn cầu hóa đã làm mai một nhiều giá trị
văn hóa truyền thống của người H’Mông, đặt ra thách thức lớn trong việc bảo tồn trang
phục, ngôn ngữ và phong tục tập quán.
2.1.7. Vai trò trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Bảo tồn và phát huy văn hóa đa dạng: Trang phục người H’Mông với thiết kế đặc sắc,
độc đá đã trở thành 1 phần của di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
Phong tục tập quán: các phong tục độc đáo như lễ Gầu Tào, nghi lễ vòng đời là những
nét văn hóa đặc sắc, góp phần làm đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc việt nam
Ngôn ngữ: Tiếng H’Mông góp phần làm đa dạng ngôn ngữ của quốc gia
Phát triển kinh tế: Việc khai thác các vùng đất đồi núi, gia tăng xuất các loại cây lương
thực như ngô, lúa nước giúp phát triển kinh tế nông thôn
Phát triển dịch vụ du lịch: Những địa bàn có đồng bào H’Mông sinh sống như Sapa,
Mộc Châu đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch góp phần phát triển ngành
du lịch địa phương và cả nước
Tăng cường sự gắn kết cộng đồng dân tộc thiểu số: Người H’Mông, cùng các dân tộc
khác, góp phần tạo nên xã hội đa dạng về dân tộc và văn hóa ở Việt Nam, thúc đẩy sự hòa
hợp, đoàn kết và tương trợ giữa các cộng đồng.
2.2. Thực trạng đời sống dân tộc H'Mông hiện nay 2.2.1. Kinh tế
Nền kinh tế của người H’Mông hiện nay vẫn chủ yếu gắn liền với nông nghiệp, chăn nuôi
và các hoạt động sản xuất tự cung tự cấp, mặc dù đã có những thay đổi đáng kể trong
những năm gần đây. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn và cũng có nhiều
cơ hội trong việc phát triển kinh tế 2.2.1.1 Khó khăn
Kinh tế nông nghiệp vẫn là trụ cột -
Canh tác nương rẫy: Nông nghiệp của người H’Mông chủ yếu dựa vào canh tác
nương rẫy với lúa, ngô và khoai, nhưng phương thức này không bền vững vì đất thoái
hóa và năng suất thấp, gây khó khăn trong việc cải thiện thu nhập. -
Chăn nuôi gia súc: Chăn nuôi gia súc như trâu, bò, lợn, dê là một phần quan trọng
trong sinh kế của người H'Mông, chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, tự cung tự cấp. Hoạt động
chăn nuôi phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và dễ bị tác động bởi thiên tai cũng như dịch bệnh. -
Phương thức canh tác: đơn sơ, chưa biết ứng dụng công nghệ mới dẫn đến năng
suất kém và doanh thu thấp -
Hạn chế về tiếp cận thị trường: Người H'Mông sống ở khu vực xa xôi với điều
kiện giao thông khó khăn, cản trở việc đưa sản phẩm của họ đến các thị trường lớn, dẫn
đến sự thiếu cạnh tranh trên thị trường.
Khó khăn trong việc tiếp cận vốn -
Thiếu thông tin và kiến thức về các chương trình hỗ trợ tài chính: Người H’Mông
thiếu thông tin về hỗ trợ tài chính, gây khó khăn trong việc vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất. -
Thiếu kỹ năng quản lý tài chính và kinh doanh: Một số người vay vốn thiếu kế
hoạch và kỹ năng kinh doanh, gây nguy cơ không trả được nợ và mất niềm tin từ tổ chức cho vay 2.2.1.2 Cơ hội
Phát triển ngành du lịch: Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, độc đáo của người H’Mông giúp
phát triển ngành du lịch, tạo cơ hội tăng thu nhập từ homestay, dịch vụ ăn uống và bán đồ thủ công mỹ nghệ.
Tiếp cận giáo dục và đào tạo nghề: Cộng đồng người H’Mông ngày càng quan tâm đến
giáo dục và đào tạo nghề, giúp cải thiện cơ hội việc làm, thu nhập và ổn định đời sống.
Tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp: Một bộ phận người H’Mông, đặc
biệt là giới trẻ, đã tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như buôn bán nhỏ
và làm thuê tại các khu công nghiệp hoặc thành phố lớn. 2.2.2. Giáo dục
Theo báo cáo "Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019" do Ủy ban Dân tộc
và Tổng cục Thống kê thực hiện, tỷ lệ người dân tộc Mông từ 15 tuổi trở lên biết đọc,
viết chữ phổ thông là 54,3%. Mặc dù tỷ lệ người đi học chung cấp tiểu học rất cao, đạt
99,9%, nhưng tỷ lệ người đi học ở các cấp học cao hơn lại giảm dần, chỉ có 77,3% học
sinh dân tộc Mông hoàn thành cấp trung học cơ sở và chỉ 29,5% hoàn thành cấp trung
học phổ thông. Đặc biệt, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường là 22,6%, cho thấy một phần lớn
trẻ em dân tộc Mông không được tiếp cận đầy đủ với giáo dục.
Ngoài những yếu tố về tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ học sinh bỏ học, còn có một số vấn đề nổi
bật trong giáo dục dân tộc Mông:
2.2.2.1. Bất bình đẳng trong giáo dục -
Tỷ lệ trẻ em không đi học trong cộng đồng dân tộc Mông cao hơn 4-7 lần so với
các nhóm dân tộc khác như Kinh, Hoa, Tày, Thái, Mường, Nùng -
Tỷ lệ học sinh dân tộc Mông hoàn thành chương trình học, đặc biệt là ở bậc THCS
và THPT, cũng rất thấp. Chỉ khoảng 20% học sinh Mông hoàn thành cấp 3, trong khi con
số trung bình ở các nhóm học sinh người Kinh – Hoa, Tày, Thái, Mường, Nùng rơi vào khoảng 50-60%
2.2.2.2. Khó khăn trong tiếp cận giáo dục
Chính sách giáo dục hiện nay chưa thực sự phù hợp với đặc thù của các dân tộc ít người
như dân tộc Mông. Học sinh Mông gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tiếng Việt,
trong khi các em cũng cần học bằng tiếng mẹ đẻ, điều này khiến cho kết quả học tập bị
ảnh hưởng nghiêm trọng và khả năng hòa nhập vào môi trường giáo dục bị hạn chế.
2.2.2.3. Thiếu sự hỗ trợ cho trẻ em ở vùng khó khăn
Các chính sách hỗ trợ giáo dục như miễn học phí, cấp học bổng, hỗ trợ ăn ở chủ yếu tập
trung vào các vùng đặc biệt khó khăn (vùng III), trong khi học sinh dân tộc Mông ở các
vùng I và II vẫn thiếu sự hỗ trợ đầy đủ. Điều này tạo ra những khó khăn lớn cho học sinh
dân tộc Mông trong việc duy trì việc học.
2.2.2.4. Chữ Mông và vấn đề tài liệu giảng dạy
Người Mông luôn tự hào về ngôn ngữ và văn hóa của mình. Sau nhiều năm mất chữ viết
cổ, Nhà nước đã ban hành bộ chữ Mông vào năm 1961 và triển khai giảng dạy trong
trường học. Mặc dù bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt trong việc giảm tỷ lệ
mù chữ, nhưng việc dạy chữ Mông gặp khó khăn do thiếu chương trình, sách giáo khoa
và giáo viên. Đến những năm 90, ngành giáo dục triển khai chương trình dạy chữ Mông
mới với đầy đủ chuẩn bị về tài liệu và đào tạo giáo viên, giúp nâng cao chất lượng giảng
dạy. Đến năm 2019, chương trình đã có mặt ở 114 trường, 584 lớp với 14.277 học sinh.
Tuy nhiên, chữ Mông Việt Nam vẫn thiếu tài liệu và phương tiện sử dụng trong đời sống
hàng ngày. Bộ chữ Mông Mỹ, dù không đầy đủ, lại được sử dụng rộng rãi trong các văn
bản Kinh thánh và truyền thông. Để phát triển ngôn ngữ Mông, cần mở rộng dạy học
tiếng Mông, đào tạo giáo viên và phát hành thêm tài liệu để nâng cao hiệu quả giáo dục
và bảo tồn văn hóa dân tộc Mông.
2.2.2.5. Chưa gắn kết giáo dục với phát triển cộng đồng
Chính sách giáo dục hiện tại chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kinh tế mà chưa thực sự chú
trọng đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa, tri thức bản địa của dân tộc Mông. Hệ thống
giáo dục không tạo ra sự khuyến khích mạnh mẽ để người dân Mông tham gia vào quá
trình giáo dục và phát triển cộng đồng.
Những vấn đề trên chỉ ra rằng chính sách giáo dục dành cho dân tộc Mông cần được điều
chỉnh để phù hợp hơn với điều kiện đặc thù và thúc đẩy sự hòa nhập, bảo tồn văn hóa của
cộng đồng này. Chính sách giáo dục cần đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng môi trường
học tập thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra các cơ hội học tập bình đẳng
cho tất cả trẻ em dân tộc Mông, đặc biệt là ở các vùng khó khăn. 2.2.3. Y tế - Sức khỏe
Về tình hình chăm sóc sức khỏe của đồng bào dân tộc H’Mông, hiện nay, mặc dù đã có
những cải thiện nhờ các chính sách và chương trình hỗ trợ, nhưng vẫn còn nhiều khó
khăn và thách thức lớn. Đặc biệt, các chỉ số sức khỏe của người dân H’Mông, như tỷ lệ
tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) và tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR), vẫn còn ở
mức cao so với các dân tộc khác. Theo dữ liệu Điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, tỷ lệ tử
vong trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) ở khu vực miền núi phía Bắc, nơi có đông đồng bào dân
tộc H’Mông sinh sống, là 16,2‰, cao hơn mức bình quân cả nước là 11,3‰. Trong khi
đó, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR) của khu vực này lên tới 24,4‰, so với mức
bình quân của cả nước là 16,9%.
Hệ thống y tế cơ sở tại các khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc H’Mông vẫn còn
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng. Nhiều trạm
y tế xã tại khu vực miền núi thiếu bác sĩ và nhân viên y tế được đào tạo chuyên sâu. Thêm
vào đó, cơ sở vật chất của các trạm y tế còn yếu kém, thiếu các trang thiết bị y tế cần
thiết, làm giảm hiệu quả trong việc khám chữa bệnh.
Trong những năm gần đây, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (giai đoạn 2021-2025) đã tích cực triển khai
các biện pháp hỗ trợ. Các chương trình này không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà
còn chú trọng đến việc nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở, đào tạo cán bộ y tế, và xây
dựng các cơ sở khám chữa bệnh ở các khu vực khó khăn.
Cần có thêm những giải pháp tích cực trong việc nâng cao nhận thức của người dân về
chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu,
để giảm thiểu các vấn đề sức khỏe hiện tại và góp phần nâng cao chất lượng dân số trong tương lai.
2.2.4. Văn hoá - Xã hội 2.2.4.1 Văn hoá
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc H’Mông là một trong những dân tộc ít bị
mai một hơn về bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Văn hoá H’Mông là một thành
tố văn hoá Việt Nam, bản sắc văn hoá độc đáo của họ đã đóng góp và làm phong phú cho
nền văn hoá Việt Nam. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay, để phát triển “hòa
nhập” mà không bị hòa tan, mất bản sắc, thì việc bảo tồn văn hóa dân tộc đòi hỏi phải có
sự nghiên cứu, tâm huyết, bền bỉ, lâu dài. Có như thế những giá trị văn hóa sẽ mãi mãi
được gìn giữ và phát huy.
a. Trang phục truyền thống và nghề thủ công -
Thực trạng trang phục truyền thống hiện tại:
+ Trang phục truyền thống của người H’Mông đang trải qua sự chuyển biến đáng kể, thể
hiện qua sự phân hóa theo vùng miền, độ tuổi và tình hình kinh tế – xã hội. Ở những vùng
cao, xa trung tâm như Mèo Vạc hay Sìn Hồ, phụ nữ lớn tuổi vẫn thường xuyên mặc trang
phục truyền thống, nhưng ở những nơi phát triển du lịch như Sa Pa, trang phục chủ yếu
được mặc để phục vụ khách du lịch và chụp ảnh, thay vì sử dụng hàng ngày.
+ Theo khảo sát năm 2023, hơn 70% thanh niên H’Mông dưới 25 tuổi không mặc đồ dân
tộc hàng ngày, và gần 40% không biết may váy truyền thống. Sự thay đổi này không chỉ
thể hiện ở tần suất sử dụng mà còn ở hình thức và chất lượng. Ngày trước, việc làm váy
truyền thống rất công phu, nhưng hiện nay, nhiều bộ váy được sản xuất nhanh bằng máy,
sử dụng vải công nghiệp, giảm chiều dài và chất lượng. Phụ kiện trang phục cũng bị giản
lược, thay thế bởi các sản phẩm giá rẻ. -
Thực trạng nghề thủ công truyền thống hiện nay: Trong khoảng 20 năm trở lại đây,
nghề thủ công truyền thống của người H’Mông như dệt lanh, rèn đúc, thêu tay đang suy
giảm mạnh. Số lượng nghệ nhân ngày càng ít, phần lớn là người cao tuổi sống ở vùng
sâu, vùng xa. Theo điều tra của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2022), chỉ
còn khoảng 15–20% hộ gia đình H’Mông thực hành nghề thủ công thường xuyên, trong
khi trên 60% người H’Mông dưới 30 tuổi không biết dệt vải lanh hoặc thêu tay. Nhiều
làng nghề rèn, đúc bạc ở Lào Cai, Hà Giang đã ngừng hoạt động do thiếu người kế thừa
b. Tín ngưỡng và lễ hội truyền thống -
Thực trạng duy trì thực hành tín ngưỡng truyền thống:
+ Hiện nay, các nghi lễ và tín ngưỡng truyền thống của người H’Mông vẫn được gìn giữ
khá tốt tại vùng sâu, vùng xa – nơi ít chịu tác động của đời sống hiện đại. Theo khảo sát
năm 2023, khoảng 58% hộ người H’Mông ở những khu vực này vẫn duy trì nghi lễ cúng
tổ tiên và lễ Gầu Tào hàng năm. Tuy nhiên, chỉ 22% người H’Mông dưới 30 tuổi hiểu rõ
ý nghĩa lễ hội truyền thống. Hơn 40% nghi lễ đã bị rút gọn, chỉ mang tính tượng trưng.
+ Một số lễ hội truyền thống, như Gầu Tào, đã biến đổi về hình thức và ý nghĩa. Ở nhiều
nơi, lễ hội này trở thành sự kiện văn hóa – du lịch, mang tính biểu diễn nhiều hơn là tín
ngưỡng. Nhiều nghi lễ gia đình cũng bị giản lược hoặc thay thế bằng hình thức hiện đại,
khiến giới trẻ không còn tiếp cận và thực hành đúng các nghi thức cổ truyền. -
Một số nỗ lực bảo tồn và hướng phát triển: Sự vào cuộc của chính quyền địa
phương: Lễ hội Gầu Tào được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Chương trình phục dựng lễ hội truyền thống: ghi hình, lưu trữ, số hóa nghi lễ. Giáo dục
cộng đồng: tổ chức lớp học truyền dạy tiếng H’Mông, thổi khèn, bài cúng truyền thống
tại trường học vùng cao.
c, Ngôn ngữ - văn học - nghệ thuật -
Thực trạng bảo tồn và sử dụng hiện nay
+ Ngôn ngữ: Tại các tỉnh vùng cao như Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, trên 85%
người H’Mông vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt. Tuy nhiên, ở vùng ven đô, tiếng
H’Mông dần bị thay thế bởi tiếng Kinh. Việc dạy – học tiếng H’Mông mới được triển
khai thí điểm tại một số nơi như Điện Biên, Lào Cai, song còn hạn chế do thiếu giáo viên
và tài liệu. Theo Viện Ngôn ngữ học (2022), chỉ 37% thanh niên H’Mông (15–25 tuổi)
biết đọc, viết tiếng H’Mông.
+ Văn học dân gian: Chủ yếu tồn tại dưới hình thức truyền miệng. Nhiều truyện cổ, truyền
thuyết đang bị mai một. Một số công trình như Văn hóa dân gian H’Mông đã được xuất
bản, nhưng chưa phổ biến rộng rãi.
+ Nghệ thuật dân gian: Các loại hình như khèn, sáo, đàn môi đang dần mất chỗ đứng
trong giới trẻ. Lớp truyền dạy tại Mèo Vạc, Bắc Hà có nhưng số lượng học sinh ít. Hát
giao duyên giảm mạnh do thay đổi quan niệm tình cảm. Dân ca ở chợ tình phần lớn mang
tính biểu diễn du lịch.
+ Thêu hoa văn: Nghề thêu truyền thống suy giảm do phổ biến vải công nghiệp và trang
phục may sẵn. Tuy nhiên, một bộ phận giới trẻ đang phục dựng hoa văn truyền thống qua
các dự án thời trang và thủ công mỹ nghệ.
- Một số mô hình bảo tồn hiệu quả:
+ Lớp học tiếng H’Mông: Tổ chức tại các trường nội trú như Trường PTDT Nội trú Lào
Cai, Điện Biên, với giáo trình do Bộ GD&ĐT và Viện Ngôn ngữ học biên soạn thử nghiệm.
+ Dự án dạy thổi khèn H’Mông: Thực hiện tại xã Sín Chéng (Bắc Hà), mỗi lớp 10– 15
học viên, do nghệ nhân ưu tú đứng lớp.
+ Các cuộc thi hát dân ca, kể chuyện dân gian H’Mông: Được tổ chức trong khuôn khổ
Lễ hội Gầu Tào, Ngày hội văn hóa các dân tộc vùng cao.
+ Ứng dụng công nghệ số hóa truyện dân gian: Một số startup người H’Mông bắt đầu
làm sách tranh, phim hoạt hình bằng tiếng mẹ đẻ để gìn giữ truyện cổ. 2.2.4.2. Xã hội
Dân tộc H’Mông tổ chức xã hội truyền thống theo mô hình gia đình lớn, họ tộc, và trưởng
bản có vai trò quan trọng. Có hệ thống phong tục, tập quán và tín ngưỡng riêng gắn liền
với đời sống cộng đồng. Kinh tế tự cung tự cấp, dựa vào nông nghiệp nương rẫy, chăn nuôi và nghề thủ công. a.
Thực trạng về phân bố và dân số H’Mông hiện nay
Dân tộc H’Mông ở Việt Nam có 1.393.547 người, chiếm 1,45% dân số cả nước, trong đó
có 711.066 nam và 682.481 nữ. Dân tộc này sống chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
đặc biệt là Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai và Lai Châu, chiếm 72,83% tổng dân
số H’Mông cả nước. Hà Giang có số lượng người H’Mông đông nhất với 292.677 người,
còn Điện Biên có tỷ trọng người H’Mông cao nhất với 38,12%. b. Việc làm và thu nhập
Người H’Mông chủ yếu sinh sống ở vùng núi cao, làm nông nghiệp theo hình thức truyền
thống. Tuy nhiên do thiếu kỹ thuật và đầu tư, năng suất thấp, thu nhập không ổn định.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng mang tính tự cung, chưa hiệu quả do thiếu giống tốt và
kỹ thuật. Sau vụ thu hoạch, thiếu việc làm phổ biến. Một số người H’Mông di cư đến
thành phố làm công nhân, lao động phổ thông, nhưng việc làm không ổn định, thu nhập
thấp và dễ bị bóc lột do thiếu kỹ năng và giấy tờ hợp pháp. - Khó khăn chính:
+ Rào cản ngôn ngữ, phong tục truyền thống ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường
lao động, đặc biệt với phụ nữ và thanh niên.
+ Thiếu cơ sở hạ tầng, dịch vụ việc làm và đào tạo nghề phù hợp với điều kiện vùng cao.
+ Tỷ lệ thất nghiệp, lao động không ổn định cao, đặc biệt ở giới trẻ. - Chính sách hỗ trợ:
+ Một số chương trình đào tạo nghề đã triển khai nhưng còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào nghề thủ công.
+ Chính sách vay vốn ưu đãi được áp dụng nhưng khó tiếp cận do thiếu tài sản thế chấp và kiến thức kinh doanh.
+ Các chính sách tái định cư, hỗ trợ di cư lao động gặp trở ngại do người dân còn gắn bó
với phong tục cũ và thiếu niềm tin vào mô hình kinh tế mới. -
Tác động văn hóa – xã hội:
+ Quan niệm truyền thống, hôn nhân sớm, phân biệt vai trò giới ảnh hưởng đến cơ hội học tập và việc làm.
+ Tư duy nghề nghiệp chưa thay đổi, người H’Mông còn e ngại khi tiếp cận ngành nghề mới, hiện đại.
Tóm lại: Thực trạng việc làm và thu nhập của dân tộc H’Mông hiện nay vẫn còn nhiều
thách thức lớn. Mặc dù đã có những nỗ lực cải thiện, nhưng sự phát triển kinh tế ở khu
vực này vẫn chưa bền vững. Việc đầu tư vào phát triển hạ tầng, giáo dục, đào tạo nghề,
và các chương trình hỗ trợ sinh kế cho người H'Mông là rất quan trọng để giúp cộng đồng
này vượt qua đói nghèo và thiếu thốn.
c. Thực trạng về hôn nhân và giới tính - Hôn nhân sớm:
+ Trong cộng đồng H’Mông, hôn nhân thường diễn ra từ rất sớm, đặc biệt là với nữ giới (từ 12–16 tuổi).
+ Tác động: Kết hôn sớm ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, chấm dứt con đường học vấn
và làm giảm cơ hội phát triển nghề nghiệp, khiến phụ nữ dễ phụ thuộc vào chồng và khó thoát nghèo. -
Hôn nhân cưỡng ép và tục “bắt vợ”:
+ Tục “bắt vợ” vẫn tồn tại ở một số vùng, khi nam giới dùng hình thức ép buộc để kết
hôn, đôi khi không có sự đồng thuận của nữ giới.
+ Tác động: Phụ nữ mất quyền tự quyết, dễ rơi vào tình trạng bị bạo lực gia đình, bất bình
đẳng giới, và tổn thương tâm lý. - Chế độ đa thê:
+ Dù đang mai một, chế độ đa thê vẫn xuất hiện ở một số vùng cao. Một số đàn ông có
nhiều vợ, đặc biệt trong các gia đình khá giả.
+ Tác động: Gây ra sự bất công với phụ nữ, làm suy giảm vai trò, tiếng nói và quyền lợi
của họ trong gia đình và xã hội. -
Vai trò và vị thế của phụ nữ:
+ Phụ nữ H’Mông chủ yếu gắn với chăm sóc gia đình, sản xuất nông nghiệp, nhưng ít
được tham gia quyết định các vấn đề lớn trong gia đình và cộng đồng.
+ Hạn chế: Phụ nữ ít được tiếp cận giáo dục, nghề nghiệp, và tham gia hoạt động xã hội
– chính trị, khiến vai trò của họ trong phát triển cộng đồng còn yếu. -
Nỗ lực nâng cao quyền phụ nữ:
+ Các chương trình nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, giáo dục về sức khỏe sinh sản
và phòng chống bạo lực gia đình đã được triển khai ở một số nơi.
+ Chính sách hỗ trợ: Chính phủ và các tổ chức xã hội đã mở các lớp tập huấn, truyền
thông về quyền phụ nữ, khuyến khích nữ giới tham gia hoạt động cộng đồng. -
Thách thức trong thay đổi nhận thức: Những quan niệm truyền thống về giới và
hôn nhân vẫn còn ăn sâu, khó thay đổi trong thời gian ngắn. Việc cải thiện vai trò của phụ
nữ cần sự kiên trì, linh hoạt và phù hợp với văn hóa địa phương.
Tóm lại: Vấn đề hôn nhân và giới tính trong cộng đồng H’Mông hiện nay đang phải đối
mặt với nhiều thách thức lớn, bao gồm hôn nhân sớm, hôn nhân cưỡng ép, vai trò giới
tính không bình đẳng và những ảnh hưởng tiêu cực đối với phụ nữ. Tuy nhiên, với những
nỗ lực từ chính phủ và các tổ chức xã hội, cũng như sự thay đổi dần dần trong nhận thức
của cộng đồng, hy vọng rằng sẽ có những cải cách tích cực về hôn nhân và giới tính trong
tương lai, giúp nâng cao quyền lợi và vị thế của phụ nữ H’Mông.
d. Thực trạng an ninh xã hội của dân tộc H’Mông hiện nay -
Tội phạm và vi phạm pháp luật
+ Tội phạm hình sự: Mặc dù tỷ lệ tội phạm không cao, nhưng vẫn xuất hiện các vụ trộm
cắp, xâm phạm tài sản, mâu thuẫn nội bộ dòng họ, đặc biệt trong bối cảnh xã hội biến động nhanh.
+ Vi phạm pháp luật: Một số người H’Mông vi phạm luật liên quan đến buôn bán ma túy,
động vật hoang dã, vi phạm môi trường… do thiếu hiểu biết pháp luật và vẫn sống theo
tập quán tự cung tự cấp.
+ Bạo lực gia đình, mâu thuẫn xã hội: Tranh chấp hôn nhân, quyền lợi, đất đai trong gia
đình có thể dẫn tới các hành vi bạo lực và vi phạm pháp luật. - Tệ nạn xã hội
+ Ma túy: Các khu vực biên giới là nơi nguy cơ cao về sử dụng và buôn bán ma túy trong
cộng đồng người H’Mông. Điều này làm tăng nguy cơ phạm tội và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến an ninh, sức khỏe cộng đồng.
+ Cờ bạc: Thường diễn ra trong lễ hội, gây mâu thuẫn gia đình, mất trật tự thôn bản. -
Tranh chấp đất đai và di cư
+ Tranh chấp đất đai: Do hạn chế về pháp lý và ghi nhận sở hữu đất, các mâu thuẫn về
đất đai giữa các dòng họ, hộ gia đình thường xảy ra, có nguy cơ dẫn đến bạo lực.
+ Di cư tự do: Di cư để tìm đất canh tác hoặc sinh kế mới cũng gây ra mâu thuẫn với cộng
đồng địa phương, làm ảnh hưởng đến ổn định xã hội. -
Tai nạn giao thông và lao động
+ Giao thông nguy hiểm: Địa hình vùng cao hiểm trở, giao thông khó khăn, nhiều tuyến
đường không đảm bảo an toàn khiến tai nạn giao thông tăng.
+ Tai nạn lao động: Người H’Mông thường lao động nặng, thiếu thiết bị bảo hộ, dẫn đến
nguy cơ cao trong các ngành như nông nghiệp, khai thác rừng, xây dựng… -
Công tác quản lý an ninh xã hội
+ Chính quyền địa phương: Lực lượng chức năng còn mỏng, thiếu trang bị. Tuy nhiên,
công tác tuyên truyền, tuần tra, kết hợp với người dân địa phương đang được đẩy mạnh.
+ Chính sách phát triển: Các chương trình giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội góp
phần cải thiện tình hình an ninh xã hội, giảm tệ nạn, ổn định cộng đồng. -
Tác động của văn hóa và tín ngưỡng
+ Tập tục truyền thống: Một số phong tục như tảo hôn, bắt vợ, cưới xin không đăng ký
có thể dẫn đến mâu thuẫn xã hội, thậm chí vi phạm pháp luật.
+ Khả năng hòa nhập: Sự khác biệt về văn hóa khiến một bộ phận người H’Mông khó
hòa nhập, tạo ra rào cản với cộng đồng khác, dễ phát sinh xung đột về phong tục, lối sống.
Tóm lại: Tình hình an ninh xã hội của dân tộc H’Mông hiện nay vẫn đối mặt với nhiều
thách thức, bao gồm tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, mâu thuẫn đất đai, và các vấn đề về
giao thông. Tuy nhiên, với các chính sách phát triển kinh tế và xã hội từ Chính phủ, cùng
với sự hỗ trợ của cộng đồng, có thể kỳ vọng rằng tình hình an ninh xã hội sẽ dần được
cải thiện trong tương lai. Các nỗ lực này bao gồm việc tăng cường công tác tuyên truyền,
cải thiện cơ sở hạ tầng, và thúc đẩy sự hòa nhập giữa các cộng đồng trong xã hội.
2.2.5. Cơ sở hạ tầng và môi trường sinh sống
- Cơ sở hạ tầng giao thông
+ Đường sá: Một trong những vấn đề lớn nhất đối với dân tộc H’Mông là cơ sở hạ tầng
giao thông. Họ chủ yếu sống ở các vùng núi cao, điều kiện địa lý đặc biệt khó khăn, dẫn
đến việc xây dựng và duy trì hệ thống đường xá rất hạn chế. Các tuyến đường chủ yếu là
đường đất, đường mòn, hoặc chỉ có thể di chuyển bằng xe máy hoặc phương tiện thô sơ.
Trong mùa mưa, nhiều tuyến đường bị sạt lở, khiến giao thông trở nên vô cùng khó khăn,
thậm chí là không thể đi lại.
+ Thiếu kết nối với các khu vực khác: Mặc dù có một số dự án cải thiện đường bộ được
triển khai, nhưng các con đường dẫn đến các xã, huyện vùng sâu, vùng xa vẫn chưa được
cải thiện đồng bộ và chưa đủ chất lượng. Điều này khiến cho việc vận chuyển hàng hóa,
nông sản hoặc việc đi lại giữa các vùng trở nên rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc phát
triển kinh tế và sinh hoạt của người dân.
+ Đi lại phụ thuộc vào phương tiện thô sơ: Ở các khu vực miền núi, người dân vẫn chủ
yếu di chuyển bằng xe máy, ngựa hoặc đi bộ. Phương tiện công cộng rất hạn chế và không
có kết nối ổn định giữa các vùng. Điều này tạo ra sự khó khăn trong việc tiếp cận các dịch
vụ công cộng, trường học, bệnh viện hay các cơ quan hành chính. - Điều kiện nhà ở
+ Nhà ở chủ yếu là nhà sàn: Nhà ở của người H’Mông chủ yếu là nhà sàn, được làm từ
gỗ và tre, với mái lợp lá hoặc tôn. Nhà sàn giúp người dân tránh được ẩm thấp và có
không gian sống riêng biệt cho gia đình, nhưng lại thiếu tiện nghi hiện đại. Các nhà sàn
không được xây dựng đồng bộ và có chất lượng xây dựng thấp, dễ bị hư hỏng trong điều
kiện thời tiết khắc nghiệt.
+ Khó khăn về điện và nước sạch: Nhiều khu vực mà người H’Mông sinh sống vẫn chưa
được kết nối với lưới điện quốc gia. Họ chủ yếu sử dụng điện từ các nguồn năng lượng
tái tạo như điện mặt trời hoặc điện gió, nhưng việc cung cấp không ổn định.
Điều này gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là cho trẻ em khi học tập vào ban đêm.
+ Vấn đề nước sinh hoạt: Mặc dù các khu vực vùng cao của người H’Mông có nguồn
nước tự nhiên từ suối hoặc các con sông, nhưng nước sạch vẫn là vấn đề lớn đối với nhiều
gia đình. Nước dùng cho sinh hoạt trong các gia đình H’Mông chủ yếu là nước suối, nước
ao hồ, hoặc nước giếng đào, nhưng không phải lúc nào cũng đảm bảo vệ sinh và có thể
gặp phải tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong mùa mưa hoặc mùa khô. - Môi trường sống
+ Ô nhiễm môi trường: Mặc dù phần lớn các khu vực sinh sống của người H’Mông vẫn
duy trì môi trường sống trong lành, nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xuất
hiện ở những vùng có sự phát triển kinh tế, đặc biệt là các khu vực có sản xuất nông
nghiệp quy mô lớn. Việc sử dụng thuốc trừ sâu, hóa chất trong sản xuất nông nghiệp và
chăn nuôi khiến cho đất đai và nguồn nước ở một số nơi bị ô nhiễm.
+ Biến đổi khí hậu: Người H’Mông cũng chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu,
đặc biệt là tình trạng mưa lớn, lũ lụt và hạn hán. Các hiện tượng thiên tai này gây thiệt
hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, làm giảm thu nhập và ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Tóm lại: Cơ sở hạ tầng và điều kiện sinh sống của dân tộc H’Mông hiện nay còn gặp rất
nhiều khó khăn. Giao thông hạn chế, nhà ở thiếu thốn, hệ thống y tế và giáo dục chưa đáp
ứng đủ nhu cầu, cùng với khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đã ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của người H’Mông. Để cải thiện tình hình, cần có sự đầu tư mạnh