lOMoARcPSD| 58511332
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA TÀI CHÍNH
BÀI TẬP LỚN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
Thực trạng giá trị truyền thống trong các gia đình Việt Nam
hiện nay. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với bản thân.
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thanh Hiền
Mã học phần: PLT09A
Lớp niên chế: K27 Tài chính B
Nhóm: 6
DANH SÁCH SINH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
STT
Mã sinh viên
Họ và tên
Vị trí
1
27A4012148
Phạm Khánh Linh
Nhóm trưởng
2
27A4012047
Hoàng Duy Anh
Thành viên
3
27A4012076
Hoàng Minh Công
Thành viên
4
27A4012091
Dương Minh Đức
Thành viên
5
27A4012120
Nguyễn Mai Hương
Thành viên
6
27A4012122
Lã Ngọc Kim Khánh
Thành viên
7
27A4012123
Lã Qúy Khánh
Thành viên
8
27A4012128
Hà Ngọc Lan
Thành viên
9
27A4012129
Bùi Diệu Linh
Thành viên
10
27A4012139
Nguyễn Khánh Linh
Thành viên
11
27A4012141
Nguyễn Thị Diệu Linh
Thành viên
12
27A4012145
Nguyễn Thị Ngọc Linh
Thành viên
13
27A4012185
Hồ Phúc Nguyên
Thành viên
14
27A4012198
Phạm Minh Quân
Thành viên
15
27A4012248
Nguyễn Phạm Hoài Vi
Thành viên
16
27A4012249
Dương Khắc Việt
Thành viên
17
27A4012252
Đặng Quốc Vương
Thành viên
18
27A4012257
Trần Thị Hải Yến
Thành viên
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
TS. Phạm Thanh Hiền. Trong quá trình học tập tìm hiểu bộ môn
Chủ Nghĩa Hội Khoa Học, chúng em đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của cô. đã giúp chúng
em tích lũy thêm nhiều kiến thức để có cái nhìn sâu sắc hoàn thiện
hơn trong cuộc sống. Thông qua bài tiểu luận này, chúng em xin trình
bày lại những mình đã tìm hiểu về vấn đề thực trạng giá trị
truyền thống trong các gia đình Việt Nam hiện nay ý nghĩa của
việc nghiên cứu đối với bản thân.
lẽ kiến thức hạn sự tiếp nhận kiến thức của bản thân
mỗi người luôn tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, trong quá
trình hoàn thành tiểu luận, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót. Bản thân chúng em rất mong nhận được những góp ý đến t
để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn.
Kính chúc sức khỏe, thành công trên con đường sự nghiệp
giảng dạy.
LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan đề tài “Thực trạng giá trị truyền thống
trong các gia đình Việt Nam hiện nay và ý nghĩa của việc nghiên cứu
đối với bản thân” nghiên cứu riêng của nhóm chúng em dưới sự
hướng dẫn của Phạm Thanh Hiền. Những thông tin, nội dung trong
đề tài này strung thực chưa được công bố dưới bất hình thức
nào. Các số liệu phục vụ việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu
thập từ các nguồn khác nhau đều được chúng em trích dẫn tài liệu
tham khảo rõ ràng, đầy đủ.
Nếu phát hiện bất kì sự gian lận nào, nhóm xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Người thực hiện
Tập thể nhóm 6
lOMoARcPSD| 58511332
MỤC LỤC
I.
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................6 II.
CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................7
2.1
Khái niệm gia đình............................................................................7 2.2
Vị trí của gia đình..............................................................................8 2.3
Chức năng gia đình.........................................................................10 2.4
Giá
trị truyền thống.........................................................................11
2.4.1
Cái nhìn tổng quát về giá trị truyền thống (là gì, biểu hiện qua cái gì,
chủ trương của Đảng)..................................................................................11
2.4.2
Cụ thể giá trị truyền thống trong gia đình..........................................12
2.4.3
Gia đình truyền thống Việt Nam.........................................................14 III.
THỰC TRẠNG...................................................................16
3.1 Biến đổi quy mô, kết cấu.................................................................16 3.2
THÀNH TỰU..................................................................................22
3.2.1
Quy mô và kết cấu gia đình thích nghi và phát triển phù hợp với thời đại
mới, song vẫn giữ được những giá trị truyền thống.............................23
3.2.2
Các chức năng của gia đình................................................................24
3.2.3
Quan hệ gia đình.................................................................................25
3.3. THÁCH THỨC...............................................................................26
3.3.1
Sự xa cách trong các gia đình hiện nay do nhịp sống và công vệc bận
rộn……….....................................................................................................26
3.3.2
Biến đổi chức năng..............................................................................27
lOMoARcPSD| 58511332
3.3.3
Biến đổi quan hệ gia đình...................................................................30
IV.
Ý NGHĨA.............................................................................33
KẾT LUẬN...............................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................38
lOMoARcPSD| 58511332
I. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình tế bào của mọi hội , cái nôi hình thành nên tính cách mỗi người
,là nơi lưu giữ và truyền lại những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc. Những
giá trị ấy được thể hiện qua các khía cạnh về lối sống , tình cảm giữa người với
người , về chuẩn mực đạo đức, được ông ta truyền lại qua các câu ca dao tục ngữ
như lá lành đùm lá rách, kính trên nhường dưới , một giọt máu đào hơn ao nước
, hay các phong tục tập quán như thắp hương thcúng ông tổ tiên , ngày Tết
Nguyên Đán – thời điểm mà con cháu một nhà tự họp đông vui. Tất cả những điều
tưởng chừng đơn giản ấy đã tạo nên một bản sắc dân tộc độc đáo , một nếp sống
truyền thống mang đậm bản sắc Việt .
Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, các gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thay đổi v
cấu, chức năng, quan hệ lối sống. Chính sự chuyển biến mạnh mẽ đó đã tác
động không nhỏ đến việc gìn giữ phát huy những giá trị truyền thống vốn được
hun đúc qua nhiều thế hệ.
Sự chuyển biến mạnh mẽ ấy đã đặt ra một câu hỏi : Liệu hiện nay giá trị truyền
thống trong các gia đình Việt Nam bị mai một ? Xuất phát từ mối lo đó , việc
nghiên cứu đề tài Thực trạng giá trị truyền thống trong các gia đình Việt Nam hiện
nay.” Không chỉ một đề tài mang tính xã hội còn mang ý nghĩa sâu sắc đối
với bản thân mỗi người con Việt Nam . Thông qua đề tài nghiên cứu này , hy vọng
mỗi người chúng ta sẽ hiểu hơn ý nghĩa của giá trị truyền thống , biết trân trọng
hơn những giá trị tốt đẹp được truyền lại qua bao thế hệ , giữ gìn và phát huy những
điều tốt đẹp ấy cho hiện tại và tương lai sau này .
lOMoARcPSD| 58511332
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN
- Khái niệm gia đình
- Khái niệm giá trị truyền thống; giá trị truyền thống trong gia đình - Tại sao lại
được hình thành, coi trọng?
- Bao nhiêu thế hệ sống cùng nhau? Nhu cầu đẻ con? Dạy dỗ con cái??
2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen, khi đề cập đến gia đình đã cho rằng:
“Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo
ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy
nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”
1
.
Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân (vợ và
chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ và con cái...). Những mối quan hệ này tồn tại
trong sự gắn bó, liên kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, bởi nghĩa vụ, quyền lợi
trách nhiệm của mi người, được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý. Quan hệ hôn nhân
là cơ sở, nền tảng hình thành nên các mi quan hệ khác trong gia đình, là cơ sở pháp lý
cho sự tồn tại của mỗi gia đình. Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng
một dòng máu, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân. Đây là mối quan hệ tự nhiên, là yếu t
mạnh mẽ nhất gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau. Trong gia đình, ngoài hai
mối quan hệ cơ bản là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ với con cái, còn
có các mối quan hệ khác, quan hệ giữa ông bà với cháu chắt, giữa anh chị em với nhau,
giữa cô, dì, chú bác với cháu v.v..Việt Nam cũng như trên thế giới còn thừa nhận quan
hệ cha mẹ nuôi (người đỡ đầu) với con nuôi (được công nhận bằng thủ tục pháp lý)
trong quan hệ gia đình.
lOMoARcPSD| 58511332
Dù hình thành từ hình thức nào, trong gia đình tất yếu nảy sinh quan hệ nuôi
dưỡng, đó là sự quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình cả về
vật chất và tinh thần. Nó vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là một quyền lợi thiêng liêng
giữa các thành viên trong gia đình. Trong xã hội hiện đại, hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc củagia đình được xã hội quan tâm chia sẻ, xong không thể thay thế hoàn toàn sự
chăm sóc, nuôi dưỡng của gia đình. Các quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và
biến đổi, phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị-xã hội.
Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì
và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia
đình.
2.2 Vị trí của gia đình
- Gia đình tế bào của hội: gia đình vai trò quan trọng đối với sự tồn tại,
vận động phát triển của xã hội. Gia đình vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận
động phát triển của hội. Ph.Ăngghen đã chrõ: “Theo quan điểm duy vật thì nhân
tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực
tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại hai loại. Một mặt sản xuất ra liệu sinh
hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó;
mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, sự truyền nòi giống. Những trật t
hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định của một nước nhất
định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt do trình độ phát triển của
lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình.
- Gia đình tổ ấm, nơi mang lại các giá trị, niềm hạnh phúc sự hài lòng
trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên: Từ khi còn nằm trong bụng mẹ, đến lúc lọt
lòng và suốt cả cuộc đời, mỗi nhân đều gắn bó chặt chẽ với gia đình. Gia đình môi
trường tốt nhất để mỗi nhân được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, trưởng thành,
lOMoARcPSD| 58511332
phát triển. Sự yên ổn, hạnh phúc của mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự
hình thành, phát triển nhân cách, thể lực, trí lực để trở thành công dân tốt cho xã hội. Chỉ
trong môi trường yên ấm của gia đình, nhân mới cảm thấy bình yên, hạnh phúc,
động lực để phấn đấu trở thành con người xã hội tốt.
- Gia đình cầu nối giữa nhân hội: Gia đình cộng đồng hội đầu
tiên mà mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân
cách của từng người. Chỉ trong gia đình mới thhiện được quan hệ tình cảm thiêng liêng,
sâu đậm giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau mà không cộng đồng
nào được và có thể thay thế. Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại không thể chỉ sống trong quan
hệ tình cảm gia đình, mà còn có nhu cầu quan hệ xã hội, quan hệ với những người khác,
ngoài các thành viên trong gia đình. Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà
còn là thành viên của xã hội. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đồng thời cũng
quan hệ giữa các thành viên của hội. Không nhân bên ngoài gia đình, cũng
không thể nhân bên ngoài hội. Gia đình cộng đồng hội đầu tiên đáp ứng
nhu cầu quan hệ xã hội của mỗi cá nhân. Gia đình cũng chính là môi trường đầu tiên mà
mỗi cá nhân học được và thực hiện quan hệ xã hội. Ngược lại, gia đình cũng là một trong
những cộng đồng để xã hội tác động đến cá nhân. Nhiều thông tin, hiện tượng của xã hội
thông qua lăng kính gia đình mà tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi
nhân về tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách v.v.. hội nhận thức đầy đủ toàn
diện hơn vmỗi cá nhân khi xem xét họ trong các quan hệ hội và quan hệ với gia đình.
những vấn đề quản hội phải thông qua hoạt động của gia đình đtác động đến
nhân. Nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi nhân được thực hiện với shợp tác của các
thành viên trong gia đình. Chính vậy, bất cứ hội nào, giai cấp cầm quyền muốn
quản xã hội theo yêu cầu của mình, cũng đều coi trọng việc xây dựng củng cố gia
đình. Vậy nên, đặc điểm của gia đình mỗi chế độ hội khác nhau. Trong hội
phong kiến, để củng cố, duy trì chế độ bóc lột, với quan hệ gia trưởng, độc đoán, chuyên
quyền đã có những quy định rất khắt khe đối với phụ nữ, đòi hỏi người phụ nữ phải tuyệt
lOMoARcPSD| 58511332
đối trung thành với người chồng, người cha - những người đàn ông trong gia đình. Trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa hội, để xây dựng một hội thật sự bình đẳng, con người
được giải phóng, giai cấp công nhân chủ trương bảo vchế độ hôn nhân một vợ một
chồng, thực hiện sự bình đẳng trong gia đình, giải phóng phụ nữ. Chtịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng ch nghĩa xã hội chỉ một nửa. Vì
vậy, quan hệ gia đình trong chủ nghĩa xã hội có đặc điểm khác về chất so với các chế độ
xã hội trước đó.
2.3 Chức năng gia đình
- Gia đình có 4 chức năng cơ bản
+ Chức năng tái sản xuất con người: đây chức năng đặc thù nhất của gia đình.
Chức năng này 1 mặt đáp ứng nhu cầu tự nhiên, mặt khác nó mang ý nghĩa xã hội lớn lao
là cung cấp những công dân mới, đảm bảo cho sự phát sinh liên tục và sự trường tồn của
xã hội loài người.
+ Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục: đây chức năng hội hết sức quan trọng,
làm tốt chức năng này gia đình thực sự góp phần quan trọng vào việc đào tạo thế hệ trẻ
nói chung, vào việc duy trì, phát triển truyền thống đạo đức, văn hóa, dân tộc
+ Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng: nhằm tạo thu nhập cho gia đình bảo đảm
các nhu cầu thiết yếu nhất của các thành viên trong gia đình. Qua đó, gia đình có cơ sở để
tổ chức đời sống (vật chất và tinh thần), nuôi dạy, giáo dục con cái đồng thời góp phần to
lớn vào sự nghiệp xây dựng xã hội bằng việc làm cụ thể
+ Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia điình: vị tđặc
biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế để xây dựng gia đình
hạnh phúc, đồng thời những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực của
nhân trong cuộc sống gia đình và xã hội.
lOMoARcPSD| 58511332
2.4 Giá trị truyền thống 2.4.1 Cái nhìn tổng quát về giá trị truyền thống (là
gì, biểu hiện qua cái gì,
chủ trương của Đảng)
- Giá trị truyền thống là những giá trị văn hóa, đạo đức, tinh thần đã được hình
thành lưu truyền qua nhiều thế hệ trong một cộng đồng hoặc dân tộc. Những giá trị
này thường được thừa nhận, đánh gbảo tồn qua thời gian, góp phần tạo nên bản
sắc riêng của mỗi dân tộc.
- Trong đời sống hàng ngày, giá trị truyền thống không chỉ những nét đẹp văn hóa
còn là cơ sở đạo đức, chuẩn mực ứng xử giữa người với người. Trong suốt nghìn năm
văn hiến của dân tộc Việt Nam, các giá trị truyền thống được hun đúc qua nhiều thế hệ,
tạo nên bản sắc dân tộc đậm đà và bền vững. Chúng không chỉ là những nguyên tắc sống,
cách xử còn cảm hứng giúp các nhân định hướng cuộc đời, xây dựng mối
quan hệ bền chặt trong gia đình, cộng đồng đất nước. Đó là lòng yêu nước, là tinh thần
đoàn kết, truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, lòng nhân ái,
tinh thần cần sáng tạo,…Những giá trị truyền thống không chỉ góp phần tạo nên bản
sắc riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là nền tảng vững chắc để xây dựng và phát triển
gia đình mà to hơn nữa đất nước, xã hội nhất là trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc
hiện nay.
Đảng ta luôn quan tâm việc xây dựng và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam, gia đình Việt Nam. Tại Đại hội VIII, Đảng chỉ
2
: “Phát huy trách
nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang
thế hệ khác”. Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Chiến lược phát triển gia đình
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
1
xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng giáo dục nhân cách, bảo tồn phát huy văn
1
Quyết định số 629/QĐ-TTg, ngày 29-5-2012, của Thủ ớng Chính ph, “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”
lOMoARcPSD| 58511332
hóa truyền thống tốt đẹp chống lại các tệ nạn hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
xây dựng bảo vệ Tổ quốc”. Thực hiện quan điểm, chính sách của ĐảngNhà nước,
nhiều giá tr truyền thống của gia đình Việt vẫn tiếp tục được bồi đắp, gìn giữ, kế thừa và
phát huy, đặc biệt trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển đổi từ
truyền thống sang hiện đại.
3
2.4.2 Cụ thể giá trị truyền thống trong gia đình
Các giá trị truyền thống của gia đình Việt chủ yếu bắt đầu từ tưởng Nho giáo,
tưởng đó đặt nền móng cho những quan niệm về lễ nghĩa, trung hiếu sự gắn kết gia
đình. Triết học xem con người là một thực thhội, không thể tồn tại một cách đơn độc.
Bởi vậy, Nho giáo không chỉ dạy về cách đối nhân xử thế còn nhấn mạnh việc xây
dựng nhân cách, coi gia đình tấm, nơi gắn giữa các thế hệ, môi trường đầu
tiên hình thành nên nhân cách lối sống của mỗi cá nhân. tưởng này nhấn mạnh rng
mỗi nhân không chỉ trách nhiệm với bản thân mà còn gắn kết sâu sắc với gia đình
cộng đồng, tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa các thế hệ. Giá trị truyền thống của
các gia đình không tồn tại tách rời nhau mà luon gắn với điều kiện lịch sử - văn hóa, với
quá trình phát triển lịch sử dân tộc.
Hình 1: Ảnh minh họa cho ví dụ về gắn với lịch sử dân tộc cho đội PPT
Văn hóa Việt hình thành và phát triển trên nền tảng của nền văn hóa nông nghiệp với
nghề trồng lúa nước. Những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước tạo dựng dấu ấn trên mọi
mặt của đời sống văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng của con người Việt Nam. Trong hội
lOMoARcPSD| 58511332
nông thôn truyền thống, gia đình vai trò cùng quan trọng. Gia đình Việt Nam không
ngừng bồi đắp những truyền thống tốt đẹp, dòng chảy liên tục bền vững, tạo nên một
diện mạo văn hóa hết sức độc đáo. Giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam sự kết
tinh của văn hóa gia đình văn hóa dân tộc, chi phối nhận thức hành vi của mỗi
thành viên, đặt nền móng cho sự phát triển của gia đình trong hiện tại và tương lai. Kho
tàng tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc có nhiều câu đúc rút giá trị truyền thống gia đình:
"Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ
kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"; "Giấy rách phải giữ lấy lề"; "Ðói cho sạch,
rách cho thơm", “Lá rụng về cội”...Những giá trị truyền thống qbáu của ông cha ta
ngày xưa như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, thủy chung,
hiếu nghĩa, hiếu học, cần sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua
mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp trong suốt quá trình
lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và phát huy. Trong đó, sự yêu thương và chia sẻ
là giá trị cốt lõi ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên trong cả gia đình truyền
thống lẫn hiện đại. Với gia đình Việt Nam, chuẩn mực cao nhất của hạnh phúc gia đình là
tình nghĩa, sgắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Cuộc sống những biến đổi,
nhưng gia đình vẫn là một tổ ấm yêu thương, một phần thiêng liêng không thể thiếu trong
cuộc đời mỗi người, động lực tinh thần to lớn để mỗi người nỗ lực vượt qua mọi khó
khăn, thử thách của cuộc sống.
2.4.3 Gia đình truyền thống Việt Nam
- Theo tiến trình lịch sử, xã hội loài người đã trải qua những kiểu gia đình: gia đình
mẫu hệ, gia đình phụ hệ, gia đình cùng huyết thống, gia đình sản, gia đình cộng
sản,…Cũng như các dân tộc khác, người Việt txưa đã chung sống thành gia đình. Họ
gồm những người cùng huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân chung sống với nhau thành
gia đình lớn từ ba thế hệ trở lên (ông bà, cha mẹ, con cái) hoặc gia đình nhỏ có hai thế hệ
(gia đình hạt nhân). Gia đình người Việt là tiểu gia đình phụ quyền với các chức năng cơ
lOMoARcPSD| 58511332
bản: kinh tế tự chủ, tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống, thờ cúng, nuôi dưỡng,
giáo dục, trao truyền các gia trị văn hóa dân tộc, cân bằng tâm sinh lý và tình cảm.
Trong quan hệ vợ chồng, tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận vừa chuẩn mực đạo
đức, vừa yêu cầu, nguyên tắc bản. Các cặp vợ chồng cũng luôn chú trọng đến s
thủy chung, coi đây là chuẩn mực, tiêu chí hàng đầu trong quan hệ hôn nhân. Đồng thời,
sự hòa thuận vợ chồng, “thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn” cũng là mt yếu
tố đặc biệt quan trọng để duy thạnh phúc gia đình. Ngoài ra, trong việc xây dựng gia
đình, người đàn ông sẽ giữ vai trò trung tâm trong gia đình, được xem là trụ cột về cả vật
chất lẫn tinh thần. Họ người gánh vác những công việc lớn, quyết định những vai trò
quan trọng, đồng thời có trách nhiệm duy trì dòng tộc, lo hương hỏa tổ tiên và dạy dcon
cái theo khuôn phép. Còn người phn vai trò nội trợ, quán xuyến việc nhà, chăm sóc
nuôi dạy con cái và phục vụ gia đình nhà chồng.
Trong mối quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu, chuẩn mực ông bà, cha mẹ
nhân từ, con cháu hiếu thảo là nét đặc trưng văn hóa của gia đình Việt Nam. Ở đó, ông
những “cây đại thụ” vững chắc, cầu nối giữa các thế hệ. Ông với kinh nghiệm
sống phong phú, họ truyền lại cho con cháu những giá trị truyền thống tốt đẹp, họ giữ vai
trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, nnếp gia đình hình thành nhân cách.
Trong bất cứ thời kỳ nào, “từ” cũng là điểm xuất phát, là cơ sở để hình thành “hiếu”. Sự
yêu thương, chăm sóc, dạy bảo con cháu luôn là tình cảm, trách nhiệm nghĩa vụ của
các bậc ông bà, cha mẹ; đồng thời, con cái thì lễ phép, kính trọng, biết ơn công dưỡng dục
của đấng sinh thành và trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi về già.
Trong quan hệ anh, chị, em, sự hòa thuận, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là giá trị
truyền thống của gia đình Việt Nam. Quan hệ anh chị em mối quan hlâu dài, sâu nặng,
gắn liền suốt đời mỗi con người. Đây là tình cảm hai chiều, anh, chị, em trong gia đình
phải yêu thương, gắn bó, hòa thuận, đùm bọc, che chở cho nhau. Trong đó, “hòa thuận”
được coi là yêu cầu, chuẩn mực hàng đầu, nghĩa là phải luôn yêu thương, đoàn kết, giúp
đỡ lẫn nhau, không xích mích, tranh giành quyền lợi với nhau ngay cả khi đã có gia đình
lOMoARcPSD| 58511332
riêng, cuộc sống riêng. Hòa thuận không chỉ là nhu cầu nội tại của mối quan hệ giữa anh
- ch- em còn yêu cầu, mong muốn của cha, mẹ, họ hàng. Tình cảm đó được ông
bà ta gửi gắm qua các câu ca dao tục ngữ, là văn hóa có từ ngàn đời nay, nhắc nhở người
cùng một nhà phải biết yêu thương, gắn bó với nhau: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài;
cùng một mẹ chhoài đá nhau”. Dù hội có nhiều biến đổi, nhưng sự hòa thuận, gắn
bó keo sơn, bền chặt giữa những người ruột thịt vẫn giữ vị trí cao trong hệ giá trị xã hội.
Trong gia phong, con cái trách nhiệm tôn trọng truyền thống giữ gìn lnghi
gia đình ông bà tổ tiên truyền lại. Đây không chỉ là sự tuân thủ nề nếp, quy tắc mà còn là
biểu hiện của lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm với cội nguồn, góp phần giáo dục con cháu
về lòng hiếu nghĩa đạo “uống nước nhớ nguồn”. Việc duy tri các nghi lễ như cúng
giỗ, Tết nguyên đán, thờ cúng tổ tiên là giá trị truyền thống được ông cha ta từ bao thế hệ
trước truyền lại, trở thành giá trị tinh thần ngàn đời nay trong mỗi gia đình Việt.
Cùng với quan hệ gia đình, gia đình Việt Nam luôn đề cao ý thức cộng đồng, chú
trọng đến trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng xã hội. Mỗi gia đình luôn gắn
chặt chẽ với làng xã, cộng đồng và đất nước. Nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi gia đình,
không chỉ xoay quanh những nhu cầu và lợi ích của các thành viên trong gia đình mà còn
là vớing xã và rộng hơn là dân tộc. Mỗi gia đình luôn coi trọng tình cảm họ hàng, dòng
tộc, trọng tình nghĩa, sống chan hòa trong tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”,
“bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “lá lành đùm lá rách”... Gia đình gắn bó mật thiết
với cộng đồng và Tổ quốc là nét văn hóa tốt đẹp mà đến nay vẫn luôn được các gia đình
chú trọng gìn giữ, vun đắp.
III. THỰC TRẠNG
Dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan như: sự phát triển của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn liền với kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại, cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng Nhà
lOMoARcPSD| 58511332
nước về gia đình…dẫn đến thực trạng những truyền thống gia đình Việt Nam đã và đang
những biến đổi khá toàn diện, từ quy mô, cơ cấu đến các chức năng quan hệ trong
gia đình. ngược lại, chính sự thay đổi này cũng trở thành động lực mới thúc đẩy sự
phát triển của xã hội.
3.1 Biến đổi quy mô, kết cấu
Gia đình Việt Nam ngày nay có thể được coi là “gia đình quá độ” trong bước chuyển
biến từ xã hội nông nghiệp cổ truyền sang xã hội công nghiệp hiện đại.
Trong quá trình này, sự giải thể của cấu trúc gia đình truyền thống và sự hình thành hình
thái mới một tất yếu. Gia đình đơn hay còn gọi gia đình hạt nhân đang trở nên rất
phổ biến ở các đô thvà cả ở nông thôn - thay thế cho kiểu gia đình truyền thống từng giữ
vai trò chủ đạo trước đây.
Năm 2009, trung bình 3,66 người/hộ, trong đó, đô thị 3,78 người/hộ và nông
thôn 3,84 người/hộ. Năm 2019, quy giảm xuống còn 3,6 người/hộ (chung), 3,4
người/hộ (đô thị) và 3,6 người/hộ (nông thôn) (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà
Trung ương, 2019).
4
Biểu đquy người/hộ năm 2009 2019
lOMoARcPSD| 58511332
Quy gia đình ngày nay tồn tại xu hướng thu nhỏ hơn so với trước kia, số thành
viên trong gia đình trở nên ít đi. Nếu như gia đình truyền thống xưa có thể tồn tại đến ba
bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà thì hiện nay, quy mô gia đình hiện đại đã
ngày càng được thu nhỏ lại. Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ hai thế hệ cùng sống chung:
cha mẹ - con cái, số con trong gia đình cũng không nhiều như trước, biệt còn có số ít
gia đình đơn thân, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ.
Biến đổi các chức năng của gia đình
- Chức năng tái sản xuất ra con người
Với những thành tựu của y học hiện đại, hiện nay việc sinh đẻ được các gia đình tiến
hành một cách chủ động, tự giác khi xác định số lượng con cái thời điểm sinh con. n
nữa, việc sinh con còn chịu sự điều chỉnh bởi chính sách hội của Nhà nước, tùy theo
tình hình dân số nhu cầu về sức lao động của hội. nước ta, từ những năm 70
80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã tuyên truyền, phổ biến áp dụng rộng rãi các phương
tiện biện pháp kỹ thuật tránh thai tiến hành kiểm soát dân số thông qua Cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con.
Sang thập niên đầu thế kỷ XXI, dân số Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn già
hóa. Để đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới
trong kế hoạch hóa gia đình là mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ hai con.
Nếu như trước kia, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán và nhu cầu sản xuất nông
nghiệp, trong gia đình Việt Nam truyền thống, nhu cầu về con cái thể hiện trên ba phương
diện: phải con, càng đông con càng tốt nhất thiết phải con trai nối dõi thì ngày
nay, nhu cầu ấy đã có những thay đổi căn bản: thể hiện ở việc giảm mức sinh của phụ nữ,
giảm số con mong muốn giảm nhu cầu nhất thiết phải con trai của các cặp vợ chồng.
Trong gia đình hiện đại, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc rất nhiều vào c yếu ttâm
lOMoARcPSD| 58511332
lý, tình cảm, kinh tế, chứ không phải chỉ các yếu tố con hay không con, con
trai hay không có con trai như gia đình truyền thống.
Từ năm 1999 đến 2022, mức sinh của Việt Nam duy trì ổn định quanh mức sinh thay
thế (2,1). Tuy nhiên, hai năm gần đây, mức sinh giảm nhanh, từ 1,96 con/phụ nữ năm
2023 xuống 1,91 con/phụ nnăm 2024 - mức thấp nhất trong lịch sử. Đây cũng năm
thứ ba liên tiếp mức sinh của Việt Nam giảm dưới mức sinh thay thế, theo Bộ Y tế. Tại
khu vực thành thị, mức sinh năm 2024 chỉ đạt 1,67 con/phụ nữ, thấp hơn đáng kể so với
khu vực nông thôn (2,08 con/phụ nữ). Đáng chú ý, mức sinh ở nông thôn – vốn luôn cao
hơn mức sinh thay thế đã bắt đầu giảm mạnh trong hai năm qua, xuống dưới mức sinh
thay thế.
(
5
)
- Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Thành phố Hà Nội hiện nay, ước tính khoảng 80- 85.000 phụ nữ tcác vùng nông
thôn ra làm nghề giúp việc gia đình. Từ đó, gia đình dần mất đi vai trò của đơn vsản xuất
và vai trò là đơn vị tiêu dùng ngày càng thể hiện rõ ràng hơn (Theo “Chức năng gia đình
Mức sinh ở Việt Nam 2022-2024
lOMoARcPSD| 58511332
và sự biến đổi từ tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng”, số 7- 2018). Một nghiên cứu của
nhóm tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết, Hà Việt Hùng Phan Thuận (2016) cho thấy, trong
quá trình hiện đại hóa, các chức năng gia đình đang thay đổi khá mạnh mẽ, trong đó sự
biến đổi chức năng kinh tế của gia đình đã dẫn tới sự thay đổi các chức năng khác của gia
đình.
6
Xét một cách khái quát, cho đến nay kinh tế gia đình đã hai bước chuyển mang
tính bước ngoặt: Thứ nhất, từ kinh tế tự cấp tự túc thành kinh tế hàng hóa, tức từ một
đơn vị kinh tế khép kín sản xuất để đáp ứng nhu cầu của gia đình thành đơn vị sản
xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của người khác hay của xã hội. Thứ hai, từ đơn vị kinh
tế đặc trưng sản xuất hàng a đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc gia thành tổ
chức kinh tế ca nền kinh tế thị trường hiện đại đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu.
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa và nguồn thu nhập bằng tiền của gia đình tăng lên
làm cho gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội. Các gia đình Việt
Nam đang tiến tới tiêu dùng sản phẩm do người khác làm ra”, tức sử dụng hàng hóa
và dịch vụ xã hội.
- Chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục xã hội
thì ngày nay, giáo dục hội bao trùm lên giáo dục gia đình đưa ra những mục tiêu,
những yêu cầu của giáo dc hội cho giáo dục gia đình. Điểm tương đồng giữa giáo dục
gia đình truyền thống và giáo dục của xã hội mới là tiếp tục nhấn mạnh sự hy sinh của cá
nhân cho cộng đồng.
Giáo dục gia đình hiện nay phát triển theo xu hướng sự đầu tư tài chính của gia đình
cho giáo dục con cái tăng lên. Nội dung giáo dục gia đình hiện nay không chỉ nặng về
giáo dục đạo đức, ứng xử trong gia đình, dòng họ, làng xã, hướng đến giáo dục kiến
thức khoa học hiện đại, trang bị công cụ để con cái hòa nhập với thế giới.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58511332
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH
BÀI TẬP LỚN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI:
Thực trạng giá trị truyền thống trong các gia đình Việt Nam
hiện nay. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với bản thân.
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thanh Hiền
Mã học phần: PLT09A
Lớp niên chế: K27 Tài chính B Nhóm: 6
DANH SÁCH SINH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI STT Mã sinh viên Họ và tên Vị trí 1 27A4012148 Phạm Khánh Linh Nhóm trưởng 2 27A4012047 Hoàng Duy Anh Thành viên 3 27A4012076 Hoàng Minh Công Thành viên 4 27A4012091 Dương Minh Đức Thành viên 5 27A4012120 Nguyễn Mai Hương Thành viên 6 27A4012122 Lã Ngọc Kim Khánh Thành viên 7 27A4012123 Lã Qúy Khánh Thành viên 8 27A4012128 Hà Ngọc Lan Thành viên 9 27A4012129 Bùi Diệu Linh Thành viên 10 27A4012139 Nguyễn Khánh Linh Thành viên 11 27A4012141 Nguyễn Thị Diệu Linh Thành viên 12 27A4012145 Nguyễn Thị Ngọc Linh Thành viên 13 27A4012185 Hồ Phúc Nguyên Thành viên 14 27A4012198 Phạm Minh Quân Thành viên 15 27A4012248 Nguyễn Phạm Hoài Vi Thành viên 16 27A4012249 Dương Khắc Việt Thành viên 17 27A4012252 Đặng Quốc Vương Thành viên 18 27A4012257 Trần Thị Hải Yến Thành viên LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
TS. Phạm Thanh Hiền. Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn
Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, chúng em đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của cô. Cô đã giúp chúng
em tích lũy thêm nhiều kiến thức để có cái nhìn sâu sắc và hoàn thiện
hơn trong cuộc sống. Thông qua bài tiểu luận này, chúng em xin trình
bày lại những gì mà mình đã tìm hiểu về vấn đề thực trạng giá trị
truyền thống trong các gia đình Việt Nam hiện nay và ý nghĩa của
việc nghiên cứu đối với bản thân.
Có lẽ kiến thức là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân
mỗi người luôn tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, trong quá
trình hoàn thành tiểu luận, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót. Bản thân chúng em rất mong nhận được những góp ý đến từ cô
để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn.
Kính chúc cô sức khỏe, thành công trên con đường sự nghiệp giảng dạy. LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan đề tài “Thực trạng giá trị truyền thống
trong các gia đình Việt Nam hiện nay và ý nghĩa của việc nghiên cứu
đối với bản thân” là nghiên cứu riêng của nhóm chúng em dưới sự
hướng dẫn của cô Phạm Thanh Hiền. Những thông tin, nội dung trong
đề tài này là sự trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thức
nào. Các số liệu phục vụ việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu
thập từ các nguồn khác nhau đều được chúng em trích dẫn tài liệu
tham khảo rõ ràng, đầy đủ.
Nếu phát hiện bất kì sự gian lận nào, nhóm xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Người thực hiện Tập thể nhóm 6 lOMoAR cPSD| 58511332 MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................6 II.
CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................7
2.1 Khái niệm gia đình............................................................................7 2.2
Vị trí của gia đình..............................................................................8 2.3
Chức năng gia đình.........................................................................10 2.4 Giá
trị truyền thống.........................................................................11

2.4.1 Cái nhìn tổng quát về giá trị truyền thống (là gì, biểu hiện qua cái gì,
chủ trương của Đảng)..................................................................................11
2.4.2 Cụ thể giá trị truyền thống trong gia đình..........................................12
2.4.3 Gia đình truyền thống Việt Nam.........................................................14 III.
THỰC TRẠNG...................................................................16
3.1 Biến đổi quy mô, kết cấu.................................................................16 3.2
THÀNH TỰU..................................................................................22
3.2.1 Quy mô và kết cấu gia đình thích nghi và phát triển phù hợp với thời đại
mới, song vẫn giữ được những giá trị truyền thống.............................23
3.2.2 Các chức năng của gia đình................................................................24
3.2.3 Quan hệ gia đình.................................................................................25
3.3. THÁCH THỨC...............................................................................26
3.3.1 Sự xa cách trong các gia đình hiện nay do nhịp sống và công vệc bận
rộn……….....................................................................................................26
3.3.2 Biến đổi chức năng..............................................................................27 lOMoAR cPSD| 58511332
3.3.3 Biến đổi quan hệ gia đình...................................................................30
IV. Ý NGHĨA.............................................................................33
KẾT LUẬN...............................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................38 lOMoAR cPSD| 58511332
I. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của mọi xã hội , là cái nôi hình thành nên tính cách mỗi người
,là nơi lưu giữ và truyền lại những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc. Những
giá trị ấy được thể hiện qua các khía cạnh về lối sống , tình cảm giữa người với
người , về chuẩn mực đạo đức, được ông bà ta truyền lại qua các câu ca dao tục ngữ
như lá lành đùm lá rách, kính trên nhường dưới , một giọt máu đào hơn ao nước lã
, hay các phong tục tập quán như thắp hương thờ cúng ông bà tổ tiên , ngày Tết
Nguyên Đán – thời điểm mà con cháu một nhà tự họp đông vui. Tất cả những điều
tưởng chừng đơn giản ấy đã tạo nên một bản sắc dân tộc độc đáo , một nếp sống
truyền thống mang đậm bản sắc Việt .
Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, các gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thay đổi về
cơ cấu, chức năng, quan hệ và lối sống. Chính sự chuyển biến mạnh mẽ đó đã tác
động không nhỏ đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống vốn được
hun đúc qua nhiều thế hệ.
Sự chuyển biến mạnh mẽ ấy đã đặt ra một câu hỏi : “Liệu hiện nay giá trị truyền
thống trong các gia đình Việt Nam có bị mai một ? “ Xuất phát từ mối lo đó , việc
nghiên cứu đề tài “Thực trạng giá trị truyền thống trong các gia đình Việt Nam hiện
nay.” Không chỉ là một đề tài mang tính xã hội mà còn mang ý nghĩa sâu sắc đối
với bản thân mỗi người con Việt Nam . Thông qua đề tài nghiên cứu này , hy vọng
mỗi người chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa của giá trị truyền thống , biết trân trọng
hơn những giá trị tốt đẹp được truyền lại qua bao thế hệ , giữ gìn và phát huy những
điều tốt đẹp ấy cho hiện tại và tương lai sau này . lOMoAR cPSD| 58511332
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN - Khái niệm gia đình
- Khái niệm giá trị truyền thống; giá trị truyền thống trong gia đình - Tại sao nó lại
được hình thành, coi trọng?
- Bao nhiêu thế hệ sống cùng nhau? Nhu cầu đẻ con? Dạy dỗ con cái??
2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen, khi đề cập đến gia đình đã cho rằng:
“Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo
ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy
nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”1.
Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân (vợ và
chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ và con cái...). Những mối quan hệ này tồn tại
trong sự gắn bó, liên kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, bởi nghĩa vụ, quyền lợi và
trách nhiệm của mỗi người, được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý. Quan hệ hôn nhân
là cơ sở, nền tảng hình thành nên các mối quan hệ khác trong gia đình, là cơ sở pháp lý
cho sự tồn tại của mỗi gia đình. Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng
một dòng máu, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân. Đây là mối quan hệ tự nhiên, là yếu tố
mạnh mẽ nhất gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau. Trong gia đình, ngoài hai
mối quan hệ cơ bản là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ với con cái, còn
có các mối quan hệ khác, quan hệ giữa ông bà với cháu chắt, giữa anh chị em với nhau,
giữa cô, dì, chú bác với cháu v.v..Việt Nam cũng như trên thế giới còn thừa nhận quan
hệ cha mẹ nuôi (người đỡ đầu) với con nuôi (được công nhận bằng thủ tục pháp lý) trong quan hệ gia đình. lOMoAR cPSD| 58511332
Dù hình thành từ hình thức nào, trong gia đình tất yếu nảy sinh quan hệ nuôi
dưỡng, đó là sự quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình cả về
vật chất và tinh thần. Nó vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là một quyền lợi thiêng liêng
giữa các thành viên trong gia đình. Trong xã hội hiện đại, hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc củagia đình được xã hội quan tâm chia sẻ, xong không thể thay thế hoàn toàn sự
chăm sóc, nuôi dưỡng của gia đình. Các quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và
biến đổi, phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị-xã hội.
Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì
và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
2.2 Vị trí của gia đình
- Gia đình là tế bào của xã hội: gia đình có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại,
vận động và phát triển của xã hội. Gia đình có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận
động và phát triển của xã hội. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Theo quan điểm duy vật thì nhân
tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực
tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh
hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó;
mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những trật tự xã
hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất
định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của
lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình.
- Gia đình là tổ ấm, nơi mang lại các giá trị, niềm hạnh phúc và sự hài lòng
trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên: Từ khi còn nằm trong bụng mẹ, đến lúc lọt
lòng và suốt cả cuộc đời, mỗi cá nhân đều gắn bó chặt chẽ với gia đình. Gia đình là môi
trường tốt nhất để mỗi cá nhân được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, trưởng thành, lOMoAR cPSD| 58511332
phát triển. Sự yên ổn, hạnh phúc của mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự
hình thành, phát triển nhân cách, thể lực, trí lực để trở thành công dân tốt cho xã hội. Chỉ
trong môi trường yên ấm của gia đình, cá nhân mới cảm thấy bình yên, hạnh phúc, có
động lực để phấn đấu trở thành con người xã hội tốt.
- Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội: Gia đình là cộng đồng xã hội đầu
tiên mà mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân
cách của từng người. Chỉ trong gia đình mới thể hiện được quan hệ tình cảm thiêng liêng,
sâu đậm giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau mà không cộng đồng
nào có được và có thể thay thế. Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại không thể chỉ sống trong quan
hệ tình cảm gia đình, mà còn có nhu cầu quan hệ xã hội, quan hệ với những người khác,
ngoài các thành viên trong gia đình. Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà
còn là thành viên của xã hội. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đồng thời cũng
là quan hệ giữa các thành viên của xã hội. Không có cá nhân bên ngoài gia đình, cũng
không thể có cá nhân bên ngoài xã hội. Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên đáp ứng
nhu cầu quan hệ xã hội của mỗi cá nhân. Gia đình cũng chính là môi trường đầu tiên mà
mỗi cá nhân học được và thực hiện quan hệ xã hội. Ngược lại, gia đình cũng là một trong
những cộng đồng để xã hội tác động đến cá nhân. Nhiều thông tin, hiện tượng của xã hội
thông qua lăng kính gia đình mà tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi
cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách v.v.. Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn
diện hơn về mỗi cá nhân khi xem xét họ trong các quan hệ xã hội và quan hệ với gia đình.
Có những vấn đề quản lý xã hội phải thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến
cá nhân. Nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi cá nhân được thực hiện với sự hợp tác của các
thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, ở bất cứ xã hội nào, giai cấp cầm quyền muốn
quản lý xã hội theo yêu cầu của mình, cũng đều coi trọng việc xây dựng và củng cố gia
đình. Vậy nên, đặc điểm của gia đình ở mỗi chế độ xã hội có khác nhau. Trong xã hội
phong kiến, để củng cố, duy trì chế độ bóc lột, với quan hệ gia trưởng, độc đoán, chuyên
quyền đã có những quy định rất khắt khe đối với phụ nữ, đòi hỏi người phụ nữ phải tuyệt lOMoAR cPSD| 58511332
đối trung thành với người chồng, người cha - những người đàn ông trong gia đình. Trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, để xây dựng một xã hội thật sự bình đẳng, con người
được giải phóng, giai cấp công nhân chủ trương bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một
chồng, thực hiện sự bình đẳng trong gia đình, giải phóng phụ nữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Vì
vậy, quan hệ gia đình trong chủ nghĩa xã hội có đặc điểm khác về chất so với các chế độ xã hội trước đó.
2.3 Chức năng gia đình
- Gia đình có 4 chức năng cơ bản
+ Chức năng tái sản xuất con người: đây là chức năng đặc thù nhất của gia đình.
Chức năng này 1 mặt đáp ứng nhu cầu tự nhiên, mặt khác nó mang ý nghĩa xã hội lớn lao
là cung cấp những công dân mới, đảm bảo cho sự phát sinh liên tục và sự trường tồn của xã hội loài người.
+ Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục: đây là chức năng xã hội hết sức quan trọng, vì
làm tốt chức năng này gia đình thực sự góp phần quan trọng vào việc đào tạo thế hệ trẻ
nói chung, vào việc duy trì, phát triển truyền thống đạo đức, văn hóa, dân tộc
+ Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng: nhằm tạo thu nhập cho gia đình bảo đảm
các nhu cầu thiết yếu nhất của các thành viên trong gia đình. Qua đó, gia đình có cơ sở để
tổ chức đời sống (vật chất và tinh thần), nuôi dạy, giáo dục con cái đồng thời góp phần to
lớn vào sự nghiệp xây dựng xã hội bằng việc làm cụ thể
+ Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia điình: có vị trí đặc
biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế để xây dựng gia đình
hạnh phúc, đồng thời là những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực của cá
nhân trong cuộc sống gia đình và xã hội. lOMoAR cPSD| 58511332
2.4 Giá trị truyền thống 2.4.1 Cái nhìn tổng quát về giá trị truyền thống (là
gì, biểu hiện qua cái gì,
chủ trương của Đảng)
- Giá trị truyền thống là những giá trị văn hóa, đạo đức, và tinh thần đã được hình
thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ trong một cộng đồng hoặc dân tộc. Những giá trị
này thường được thừa nhận, đánh giá và bảo tồn qua thời gian, góp phần tạo nên bản
sắc riêng của mỗi dân tộc.
- Trong đời sống hàng ngày, giá trị truyền thống không chỉ là những nét đẹp văn hóa
mà còn là cơ sở đạo đức, chuẩn mực ứng xử giữa người với người. Trong suốt nghìn năm
văn hiến của dân tộc Việt Nam, các giá trị truyền thống được hun đúc qua nhiều thế hệ,
tạo nên bản sắc dân tộc đậm đà và bền vững. Chúng không chỉ là những nguyên tắc sống,
cách cư xử mà còn là cảm hứng giúp các cá nhân định hướng cuộc đời, xây dựng mối
quan hệ bền chặt trong gia đình, cộng đồng và đất nước. Đó là lòng yêu nước, là tinh thần
đoàn kết, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, lòng nhân ái,
tinh thần cần cù sáng tạo,…Những giá trị truyền thống không chỉ góp phần tạo nên bản
sắc riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là nền tảng vững chắc để xây dựng và phát triển
gia đình mà to hơn nữa là đất nước, xã hội nhất là trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay.
Đảng ta luôn quan tâm việc xây dựng và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam, gia đình Việt Nam. Tại Đại hội VIII, Đảng chỉ rõ2: “Phát huy trách
nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang
thế hệ khác”. Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Chiến lược phát triển gia đình
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 20301 xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn
1 Quyết định số 629/QĐ-TTg, ngày 29-5-2012, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”
lOMoAR cPSD| 58511332
hóa truyền thống tốt đẹp chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thực hiện quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước,
nhiều giá trị truyền thống của gia đình Việt vẫn tiếp tục được bồi đắp, gìn giữ, kế thừa và
phát huy, đặc biệt trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển đổi từ
truyền thống sang hiện đại.3
2.4.2 Cụ thể giá trị truyền thống trong gia đình
Các giá trị truyền thống của gia đình Việt chủ yếu bắt đầu từ tư tưởng Nho giáo, tư
tưởng đó đặt nền móng cho những quan niệm về lễ nghĩa, trung hiếu và sự gắn kết gia
đình. Triết học xem con người là một thực thể xã hội, không thể tồn tại một cách đơn độc.
Bởi vậy, Nho giáo không chỉ dạy về cách đối nhân xử thế mà còn nhấn mạnh việc xây
dựng nhân cách, coi gia đình là tổ ấm, nơi gắn bó giữa các thế hệ, và là môi trường đầu
tiên hình thành nên nhân cách và lối sống của mỗi cá nhân. Tư tưởng này nhấn mạnh rằng
mỗi cá nhân không chỉ có trách nhiệm với bản thân mà còn gắn kết sâu sắc với gia đình
và cộng đồng, tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa các thế hệ. Giá trị truyền thống của
các gia đình không tồn tại tách rời nhau mà luon gắn với điều kiện lịch sử - văn hóa, với
quá trình phát triển lịch sử dân tộc.
Hình 1: Ảnh minh họa cho ví dụ về gắn với lịch sử dân tộc cho đội PPT
Văn hóa Việt hình thành và phát triển trên nền tảng của nền văn hóa nông nghiệp với
nghề trồng lúa nước. Những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước tạo dựng dấu ấn trên mọi
mặt của đời sống văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng của con người Việt Nam. Trong xã hội lOMoAR cPSD| 58511332
nông thôn truyền thống, gia đình vai trò vô cùng quan trọng. Gia đình Việt Nam không
ngừng bồi đắp những truyền thống tốt đẹp, là dòng chảy liên tục và bền vững, tạo nên một
diện mạo văn hóa hết sức độc đáo. Giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam là sự kết
tinh của văn hóa gia đình và văn hóa dân tộc, chi phối nhận thức và hành vi của mỗi
thành viên, đặt nền móng cho sự phát triển của gia đình trong hiện tại và tương lai. Kho
tàng tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc có nhiều câu đúc rút giá trị truyền thống gia đình:
"Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ
kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"; "Giấy rách phải giữ lấy lề"; "Ðói cho sạch,
rách cho thơm", “Lá rụng về cội”...Những giá trị truyền thống quý báu của ông cha ta
ngày xưa như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, thủy chung,
hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua
mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp trong suốt quá trình
lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và phát huy. Trong đó, sự yêu thương và chia sẻ
là giá trị cốt lõi ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên trong cả gia đình truyền
thống lẫn hiện đại. Với gia đình Việt Nam, chuẩn mực cao nhất của hạnh phúc gia đình là
tình nghĩa, sự gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Cuộc sống dù có những biến đổi,
nhưng gia đình vẫn là một tổ ấm yêu thương, một phần thiêng liêng không thể thiếu trong
cuộc đời mỗi người, là động lực tinh thần to lớn để mỗi người nỗ lực vượt qua mọi khó
khăn, thử thách của cuộc sống.
2.4.3 Gia đình truyền thống Việt Nam
- Theo tiến trình lịch sử, xã hội loài người đã trải qua những kiểu gia đình: gia đình
mẫu hệ, gia đình phụ hệ, gia đình cùng huyết thống, gia đình tư sản, gia đình cộng
sản,…Cũng như các dân tộc khác, người Việt từ xưa đã chung sống thành gia đình. Họ
gồm những người có cùng huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân chung sống với nhau thành
gia đình lớn từ ba thế hệ trở lên (ông bà, cha mẹ, con cái) hoặc gia đình nhỏ có hai thế hệ
(gia đình hạt nhân). Gia đình người Việt là tiểu gia đình phụ quyền với các chức năng cơ lOMoAR cPSD| 58511332
bản: kinh tế tự chủ, tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống, thờ cúng, nuôi dưỡng,
giáo dục, trao truyền các gia trị văn hóa dân tộc, cân bằng tâm sinh lý và tình cảm.
Trong quan hệ vợ chồng, tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận vừa là chuẩn mực đạo
đức, vừa là yêu cầu, nguyên tắc cơ bản. Các cặp vợ chồng cũng luôn chú trọng đến sự
thủy chung, coi đây là chuẩn mực, tiêu chí hàng đầu trong quan hệ hôn nhân. Đồng thời,
sự hòa thuận vợ chồng, “thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn” cũng là một yếu
tố đặc biệt quan trọng để duy trì hạnh phúc gia đình. Ngoài ra, trong việc xây dựng gia
đình, người đàn ông sẽ giữ vai trò trung tâm trong gia đình, được xem là trụ cột về cả vật
chất lẫn tinh thần. Họ là người gánh vác những công việc lớn, quyết định những vai trò
quan trọng, đồng thời có trách nhiệm duy trì dòng tộc, lo hương hỏa tổ tiên và dạy dỗ con
cái theo khuôn phép. Còn người phụ nữ có vai trò nội trợ, quán xuyến việc nhà, chăm sóc
nuôi dạy con cái và phục vụ gia đình nhà chồng.
Trong mối quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu, chuẩn mực ông bà, cha mẹ
nhân từ, con cháu hiếu thảo là nét đặc trưng văn hóa của gia đình Việt Nam. Ở đó, ông bà
là những “cây đại thụ” vững chắc, là cầu nối giữa các thế hệ. Ông bà với kinh nghiệm
sống phong phú, họ truyền lại cho con cháu những giá trị truyền thống tốt đẹp, họ giữ vai
trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, nề nếp gia đình và hình thành nhân cách.
Trong bất cứ thời kỳ nào, “từ” cũng là điểm xuất phát, là cơ sở để hình thành “hiếu”. Sự
yêu thương, chăm sóc, dạy bảo con cháu luôn là tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ của
các bậc ông bà, cha mẹ; đồng thời, con cái thì lễ phép, kính trọng, biết ơn công dưỡng dục
của đấng sinh thành và có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi về già.
Trong quan hệ anh, chị, em, sự hòa thuận, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là giá trị
truyền thống của gia đình Việt Nam. Quan hệ anh chị em là mối quan hệ lâu dài, sâu nặng,
gắn liền suốt đời mỗi con người. Đây là tình cảm hai chiều, anh, chị, em trong gia đình
phải yêu thương, gắn bó, hòa thuận, đùm bọc, che chở cho nhau. Trong đó, “hòa thuận”
được coi là yêu cầu, chuẩn mực hàng đầu, nghĩa là phải luôn yêu thương, đoàn kết, giúp
đỡ lẫn nhau, không xích mích, tranh giành quyền lợi với nhau ngay cả khi đã có gia đình lOMoAR cPSD| 58511332
riêng, cuộc sống riêng. Hòa thuận không chỉ là nhu cầu nội tại của mối quan hệ giữa anh
- chị - em mà còn là yêu cầu, mong muốn của cha, mẹ, họ hàng. Tình cảm đó được ông
bà ta gửi gắm qua các câu ca dao tục ngữ, là văn hóa có từ ngàn đời nay, nhắc nhở người
cùng một nhà phải biết yêu thương, gắn bó với nhau: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài;
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Dù xã hội có nhiều biến đổi, nhưng sự hòa thuận, gắn
bó keo sơn, bền chặt giữa những người ruột thịt vẫn giữ vị trí cao trong hệ giá trị xã hội.
Trong gia phong, con cái có trách nhiệm tôn trọng truyền thống và giữ gìn lễ nghi
gia đình ông bà tổ tiên truyền lại. Đây không chỉ là sự tuân thủ nề nếp, quy tắc mà còn là
biểu hiện của lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm với cội nguồn, góp phần giáo dục con cháu
về lòng hiếu nghĩa và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Việc duy tri các nghi lễ như cúng
giỗ, Tết nguyên đán, thờ cúng tổ tiên là giá trị truyền thống được ông cha ta từ bao thế hệ
trước truyền lại, trở thành giá trị tinh thần ngàn đời nay trong mỗi gia đình Việt.
Cùng với quan hệ gia đình, gia đình Việt Nam luôn đề cao ý thức cộng đồng, chú
trọng đến trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng và xã hội. Mỗi gia đình luôn gắn bó
chặt chẽ với làng xã, cộng đồng và đất nước. Nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi gia đình,
không chỉ xoay quanh những nhu cầu và lợi ích của các thành viên trong gia đình mà còn
là với làng xã và rộng hơn là dân tộc. Mỗi gia đình luôn coi trọng tình cảm họ hàng, dòng
tộc, trọng tình nghĩa, sống chan hòa trong tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”,
“bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “lá lành đùm lá rách”... Gia đình gắn bó mật thiết
với cộng đồng và Tổ quốc là nét văn hóa tốt đẹp mà đến nay vẫn luôn được các gia đình
chú trọng gìn giữ, vun đắp.
III. THỰC TRẠNG
Dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan như: sự phát triển của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn liền với kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng
khoa học – công nghệ hiện đại, cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà lOMoAR cPSD| 58511332
nước về gia đình…dẫn đến thực trạng những truyền thống gia đình Việt Nam đã và đang
có những biến đổi khá toàn diện, từ quy mô, cơ cấu đến các chức năng và quan hệ trong
gia đình. Và ngược lại, chính sự thay đổi này cũng trở thành động lực mới thúc đẩy sự
phát triển của xã hội.
3.1 Biến đổi quy mô, kết cấu
Gia đình Việt Nam ngày nay có thể được coi là “gia đình quá độ” trong bước chuyển
biến từ xã hội nông nghiệp cổ truyền sang xã hội công nghiệp hiện đại.
Trong quá trình này, sự giải thể của cấu trúc gia đình truyền thống và sự hình thành hình
thái mới là một tất yếu. Gia đình đơn hay còn gọi là gia đình hạt nhân đang trở nên rất
phổ biến ở các đô thị và cả ở nông thôn - thay thế cho kiểu gia đình truyền thống từng giữ
vai trò chủ đạo trước đây.
Năm 2009, trung bình có 3,66 người/hộ, trong đó, đô thị là 3,78 người/hộ và nông
thôn là 3,84 người/hộ. Năm 2019, quy mô giảm xuống còn 3,6 người/hộ (chung), 3,4
người/hộ (đô thị) và 3,6 người/hộ (nông thôn) (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương, 2019).4
Biểu đồ quy mô người/hộ năm 2009 và 2019 lOMoAR cPSD| 58511332
Quy mô gia đình ngày nay tồn tại xu hướng thu nhỏ hơn so với trước kia, số thành
viên trong gia đình trở nên ít đi. Nếu như gia đình truyền thống xưa có thể tồn tại đến ba
bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà thì hiện nay, quy mô gia đình hiện đại đã
ngày càng được thu nhỏ lại. Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung:
cha mẹ - con cái, số con trong gia đình cũng không nhiều như trước, cá biệt còn có số ít
gia đình đơn thân, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ.
Biến đổi các chức năng của gia đình
- Chức năng tái sản xuất ra con người
Với những thành tựu của y học hiện đại, hiện nay việc sinh đẻ được các gia đình tiến
hành một cách chủ động, tự giác khi xác định số lượng con cái và thời điểm sinh con. Hơn
nữa, việc sinh con còn chịu sự điều chỉnh bởi chính sách xã hội của Nhà nước, tùy theo
tình hình dân số và nhu cầu về sức lao động của xã hội. Ở nước ta, từ những năm 70 và
80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã tuyên truyền, phổ biến và áp dụng rộng rãi các phương
tiện và biện pháp kỹ thuật tránh thai và tiến hành kiểm soát dân số thông qua Cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con.
Sang thập niên đầu thế kỷ XXI, dân số Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn già
hóa. Để đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới
trong kế hoạch hóa gia đình là mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ hai con.
Nếu như trước kia, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán và nhu cầu sản xuất nông
nghiệp, trong gia đình Việt Nam truyền thống, nhu cầu về con cái thể hiện trên ba phương
diện: phải có con, càng đông con càng tốt và nhất thiết phải có con trai nối dõi thì ngày
nay, nhu cầu ấy đã có những thay đổi căn bản: thể hiện ở việc giảm mức sinh của phụ nữ,
giảm số con mong muốn và giảm nhu cầu nhất thiết phải có con trai của các cặp vợ chồng.
Trong gia đình hiện đại, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tâm lOMoAR cPSD| 58511332
lý, tình cảm, kinh tế, chứ không phải chỉ là các yếu tố có con hay không có con, có con
trai hay không có con trai như gia đình truyền thống.
Từ năm 1999 đến 2022, mức sinh của Việt Nam duy trì ổn định quanh mức sinh thay
thế (2,1). Tuy nhiên, hai năm gần đây, mức sinh giảm nhanh, từ 1,96 con/phụ nữ năm
2023 xuống 1,91 con/phụ nữ năm 2024 - mức thấp nhất trong lịch sử. Đây cũng là năm
thứ ba liên tiếp mức sinh của Việt Nam giảm dưới mức sinh thay thế, theo Bộ Y tế. Tại
khu vực thành thị, mức sinh năm 2024 chỉ đạt 1,67 con/phụ nữ, thấp hơn đáng kể so với
khu vực nông thôn (2,08 con/phụ nữ). Đáng chú ý, mức sinh ở nông thôn – vốn luôn cao
hơn mức sinh thay thế – đã bắt đầu giảm mạnh trong hai năm qua, xuống dưới mức sinh thay thế.
Mức sinh ở Việt Nam 2022-2024 (5)
- Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Thành phố Hà Nội hiện nay, ước tính có khoảng 80- 85.000 phụ nữ từ các vùng nông
thôn ra làm nghề giúp việc gia đình. Từ đó, gia đình dần mất đi vai trò của đơn vị sản xuất
và vai trò là đơn vị tiêu dùng ngày càng thể hiện rõ ràng hơn (Theo “Chức năng gia đình lOMoAR cPSD| 58511332
và sự biến đổi từ tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng”, số 7- 2018). Một nghiên cứu của
nhóm tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết, Hà Việt Hùng và Phan Thuận (2016) cho thấy, trong
quá trình hiện đại hóa, các chức năng gia đình đang thay đổi khá mạnh mẽ, trong đó sự
biến đổi chức năng kinh tế của gia đình đã dẫn tới sự thay đổi các chức năng khác của gia đình.6
Xét một cách khái quát, cho đến nay kinh tế gia đình đã có hai bước chuyển mang
tính bước ngoặt: Thứ nhất, từ kinh tế tự cấp tự túc thành kinh tế hàng hóa, tức là từ một
đơn vị kinh tế khép kín sản xuất để đáp ứng nhu cầu của gia đình thành đơn vị mà sản
xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của người khác hay của xã hội. Thứ hai, từ đơn vị kinh
tế mà đặc trưng là sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc gia thành tổ
chức kinh tế của nền kinh tế thị trường hiện đại đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu.
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa và nguồn thu nhập bằng tiền của gia đình tăng lên
làm cho gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội. Các gia đình Việt
Nam đang tiến tới “tiêu dùng sản phẩm do người khác làm ra”, tức là sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.
- Chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục xã hội
thì ngày nay, giáo dục xã hội bao trùm lên giáo dục gia đình và đưa ra những mục tiêu,
những yêu cầu của giáo dục xã hội cho giáo dục gia đình. Điểm tương đồng giữa giáo dục
gia đình truyền thống và giáo dục của xã hội mới là tiếp tục nhấn mạnh sự hy sinh của cá nhân cho cộng đồng.
Giáo dục gia đình hiện nay phát triển theo xu hướng sự đầu tư tài chính của gia đình
cho giáo dục con cái tăng lên. Nội dung giáo dục gia đình hiện nay không chỉ nặng về
giáo dục đạo đức, ứng xử trong gia đình, dòng họ, làng xã, mà hướng đến giáo dục kiến
thức khoa học hiện đại, trang bị công cụ để con cái hòa nhập với thế giới.