
















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TÊN ĐỀ TÀI: NẠN ĐÓI 1945 Giảng viên
: ThS.Trần Ngọc Hằng Nhóm thực hiện : Nhóm 4 Nhóm tín chỉ :
Hà Nội, tháng 9 năm 2024 Thành viên nhóm ST Họ tên MSV Chức vụ Nhiệm vụ Mức độ T đóng góp 1 Lê Thị Phương 26A401141 Nhóm trưởng 4 2 Bùi Thị Ngọc 26A402222 Thành viên Ánh 5 3 Lê Thị Thu 26A402311 Thành viên Hương 4 4 Hồ Thị Quỳnh 26A401009 Thành viên Hương 1 5 Lê Nguyễn 26A402000 Thành viên Phương Linh 4 6 Vũ Đức Mạnh 26A401053 Thành viên 8 7 Nguyễn Thị Nhàn 26A402043 Thành viên 7 8 Nguyễn Trang 26A401293 Thành viên Quyên 0 9 Mai Thị Quỳnh 26A402084 Thành viên 5 10 Nguyễn Sỹ Tuấn 26A402134 Thành viên 4 11 Nguyễn Huyền 26A406257 Thành viên Trang 1 12 Đoàn Thị Cẩm 26A401228 Thành viên Vân 7 Mục lục
A. Lời mở đầu.................................................................................................................4
B. Nội dung....................................................................................................................5 I.
Bối cảnh và nguyên nhân gây ra nạn đói 1945....................................................5
1. Bối cảnh..............................................................................................................5
2. Nguyên nhân......................................................................................................5
II. Diễn biến nạn đói...................................................................................................6
III. Tác động của nạn đói............................................................................................8
1. Tác động tới kinh tế - chính trị.........................................................................8
2. Tác động tới văn hoá – xã hội.........................................................................11
IV. Chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước...............................................12
V. Bài học kinh nghiệm............................................................................................14
1. Đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước ngày nay....................................14
2. Liên hệ với giới trẻ, sinh viên hiện nay..........................................................15
C. Lời kết luận..............................................................................................................17 A. Lời mở đầu
Hơn 70 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức của người dân Việt Nam, nạn
đói năm 1945 vẫn là một cơn ác mộng, một nỗi đau khó quên. Nạn đói năm Ất
Dậu (1945) đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người Việt. Những hình ảnh
như: trẻ em bú mẹ đã qua đời, những ngôi mộ tập thể, bóng dáng người đói
lang thang trên khắp các con phố, mùi hôi thối nồng nặc, cảnh cướp giật thức
ăn... đều trở thành nỗi ám ảnh không dứt, biểu trưng cho sự đau đớn tột cùng mà chiến tranh gây ra.
So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến
tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nạn đói nguy hiểm hơn nạn
chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người,
nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người”
Đây không chỉ là sự kiện tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại,
một vết sẹo sâu trong ký ức dân tộc, mà còn là một trong những nạn đói khủng
khiếp nhất từng xảy ra trong lịch sử nhân loại. B. Nội dung
I. Bối cảnh và nguyên nhân gây ra nạn đói 1945 1. Bối cảnh
Năm 1945, khi chiến tranh thế giới thứ 2 dần bước vào giai đoạn kết thúc,
ở Việt Nam phát xít Nhật muốn tìm cách hất cẳng thực dân Pháp bằng các yêu
sách thái quá, tàn bạo. Điều đó đã gây ra ảnh hưởng vô cùng lớn đến nguồn
cung lương thực của người dân. Những chính sách khủng khiếp đó của Nhật
và Pháp đã dẫn đến nạn đói trầm trọng, đầy đau thương mất mát cho hơn 2
triệu đồng bào dân tộc ta.
Nạn đói năm 1945 đã từng được ví là “sự hủy diệt khủng khiếp” trong lịch
sử vốn đã quá nhiều đau thương, mất mát của dân tộc Việt Nam. Nạn đói năm
1945 diễn ra từ cuối năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 với “địa bàn” chính từ
tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc Bộ với “đỉnh điểm” là tỉnh Thái Bình, ở đâu người
ta cũng nhìn thấy xác người chết đói, hình ảnh người nằm chết la liệt ở khắp
các con đường, hình ảnh những người kiệt sức, còng queo xếp hàng dài nối nhau đi xin ăn…
Trong tác phẩm “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã miêu tả rằng: “Cái đói đã
tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái
Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng
ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi
sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm
còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây
của xác người…”. Từ đó cho thấy, nạn đói đã tàn phá nặng nề đến người dân
Việt Nam vô cùng lớn, họ đã khổ lại càng thêm khổ. 2. Nguyên nhân 2.1.
Nguyên nhân trực tiếp
Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại chính sách bảo
hộ mậu dịch và độc quyền khai thác Đông Dương. Vì mục đích chiến tranh,
Pháp lạm dụng nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam, thu gom thóc gạo và tập
trung vào các kho riêng, lấy cớ tiếp tế cho quân Nhật. Họ ép dân bán lúa gạo
với giá rẻ và đôi khi mua lại với giá cao, thậm chí đốt lúa thừa để làm nhiên
liệu. Trước Thế chiến II, Việt Nam vẫn lạc hậu và đói nghèo so với các quốc
gia châu Á khác. Hệ thống thuế nặng nề khiến nông dân phải bán phần lớn
lương thực để nộp thuế, không còn dự trữ.
Năm 1940, Pháp bị Đức chiếm, Nhật Bản loại bỏ Pháp và áp dụng biện
pháp khai thác khốc liệt hơn, buộc dân nhổ lúa trồng đay, thu hẹp diện tích
canh tác và ép bán gạo với giá rẻ. Trong Thế chiến II, Việt Nam bị quân Nhật
chiếm đóng, Đồng Minh thường xuyên oanh tạc, làm hệ thống giao thông hư
hỏng. Nhật cấm vận chuyển lúa từ Nam ra Bắc và không mở kho gạo cứu đói,
khiến sản lượng lương thực giảm mạnh.
Chính phủ Trần Trọng Kim ban hành Đạo dụ ngày 13/6/1945, quy định tử
hình đối với những ai phá hoại kho lương thực hoặc cơ sở hạ tầng. Điều này
ngăn cản người dân tụ tập phá kho thóc cứu đói, dẫn đến cái chết của hàng
trăm ngàn người ngay bên ngoài các kho thóc đầy ắp.
2.2.Nguyên nhân gián tiếp
Thời tiết tự nhiên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực ở
miền Bắc. Hạn hán và côn trùng phá hoại khiến sản lượng vụ đông – xuân
năm 1944 giảm khoảng 20% so với năm trước. Đến tháng 8, một trận lũ khủng
khiếp gây vỡ đê tại 79 điểm, ngập 11 tỉnh với diện tích 312.000 ha, ảnh hưởng
đến cuộc sống của 4 triệu người. Sau lũ, dịch tả lan rộng, cùng với việc thiếu
thuốc men và lương thực, khiến nạn đói càng trầm trọng hơn. Do địa chủ
chiếm phần lớn ruộng đất, nhiều người dân không có hoặc chỉ có ít đất canh
tác, không đủ khả năng sản xuất lương thực. Khi mất mùa, nếu không vay
mượn được, nông dân nghèo sẽ rơi vào cảnh chết đói
II. Diễn biến nạn đói
Việt Nam vẫn chỉ là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều quốc gia
châu Á khác. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến khiến cho các hộ
nông dân phải bản hết lương thực có được để nộp thuế khiến đa số nông dân
không còn lương thực dự trữ. Việt Minh tịch thu toàn bộ tiền bạc của giới
thân Pháp, Nhật trên toàn quốc, để cứu trợ cho người đói. Nhật cũng thi hành
chính sách "Nhổ lúa trồng đay", do cây đay là nguyên liệu quan trọng cho sản
xuất quân trang, quân phục. Cuối năm 1944, quân số của Nhật đóng ở vùng
Bắc Kỳ đã lên tới gần 100.000 người. Bắc Kỳ lúc đó đã thiếu gạo vì vụ mùa bị
thất thu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, rồi lại
phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật.
Tình hình càng khó khăn thêm khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945
khiến bộ máy chính quyền của Pháp ở Đông Dương nhanh chóng tan rã. Việc
tiếp vận và phân phối sau đó lại bị tê liệt. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói nay
càng thêm trầm trọng. Đế quốc Việt Nam do Trần Trọng Kim làm thủ tướng ra
chấp chính từ tháng 4/1945 đã cố gắng huy động việc cứu đói cho dân ngoài
Bắc nhưng những yếu tố chính trị, phương tiện và nhân sự phần nhiều vẫn
nằm trong tay người Nhật nên Đế quốc Việt Nam không làm thuyên giảm
được hậu quả ghê gớm của nạn đói.
Mùa màng miền Bắc bị hạn hán và côn trùng phá hoại khiến sản lượng vụ
Đông Xuân từ năm 1944 giảm sụt khoảng 20% so với thu hoạch năm trước.
Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) cùng tình
trạng mất mùa ở tỉnh Bắc Bộ cuối năm 1944 làm cho nạn đói diễn ra trầm
trọng hơn.. Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và triều đình nhà
Nguyễn vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để đáp ứng cho nhu
cầu chiến tranh, làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, dùng đốt lò thay
cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp.
Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ
chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi
không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở
bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh
thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn
không được thì cướp giật, thậm chí ăn cả xác người mới chết. Ở các vùng quê,
hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.
Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi
chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Người
dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo.Nạn
đói lên tới đỉnh điểm vào đầu mùa hè năm 1945, người chết la liệt không phân
biệt được nam nữ, già trẻ được nhặt đến một chỗ để chờ xe mang đi chôn. Ở
khắp các tỉnh, suốt mấy dãy phố từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh, hàng mấy trăm ăn
mày thất tha thất thểu lũ lượt kéo nhau ăn xin. Trên bờ hè, trên đám cỏ đâu đâu
chúng ta cũng thấy những bó chiếu, bó lá ở trong văng vẳng ra những tiếng rên kêu đói não nùng.
Thái Bình là nơi nạn đói diễn ra nghiêm trọng nhất lên đến 28 vạn người
chết: Trong cuốn sách ‘’Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích
lịch sử” GS Văn Tạo có viết khảo sát một xã điểm Tây Lương có con số chết
đói tới 66,66% dân số, tức chết 3968 trong tổng 6000 dân. Có thể nói không
gia đình nào thoát khỏi nạn đói một cách trọn vẹn, gia đình may mắn nhất là
chỉ chết đói một nửa số người trong gia đình
III. Tác động của nạn đói
1. Tác động tới kinh tế - chính trị 1.1 Về kinh tế
Suy giảm sản xuất:
Nạn đói đã làm suy yếu sức lao động của người dân, khiến sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp giảm sút nghiêm trọng. Khiến cho thiếu hụt trầm trọng
về lương thực và hàng hóa. Điều này kéo theo sự suy giảm thu nhập của người
dân và ngân sách nhà nước.
Thay đổi cơ cấu kinh tế:
Nạn đói đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nền kinh tế
nông nghiệp tự cung tự cấp sang một nền kinh tế phụ thuộc vào viện trợ.
Phát triển các hình thức kinh tế phi chính thức:
Để sinh tồn, người dân buộc phải tìm kiếm các hình thức kinh tế phi chính
thức như buôn bán nhỏ lẻ, làm thuê, gây ra tình trạng mất trật tự xã hội.
Ngân hàng Nhà nước gặp phải nhiều khó khăn :
Lạm phát phi mã, nguồn thu ngân sách sụt giảm nghiêm trọng, và sự bất ổn
của thị trường đã hạn chế đáng kể khả năng điều tiết của Ngân hàng. Cơ quan
này còn thiếu kinh nghiệm, nguồn lực và cơ sở vật chất để ứng phó hiệu quả
với tình hình. Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn, Ngân hàng Nhà nước đã nỗ
lực hết sức để ổn định tình hình tài chính, hỗ trợ cho nền kinh tế phục hồi. Tuy
nhiên, trong bối cảnh đó, vai trò của ngân hàng còn khá hạn chế.
Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng Đông Dương đã thực hiện những chính sách:
Chính sách thu mua lúa gạo bất công:
Ngân hàng Đông Dương đã thực hiện chính sách thu mua lúa gạo với giá cực
thấp, thậm chí là ép buộc nông dân phải bán thóc với giá rẻ mạt. Trong khi đó,
ngân hàng lại tích trữ lượng lớn lương thực và bán ra thị trường với giá cao
ngất ngưởng, gây ra tình trạng khan hiếm nhân tạo. Cho vay nặng lãi:
Ngân hàng Đông Dương cho nông dân vay với lãi suất cắt cổ, khiến nhiều
người lâm vào cảnh nợ nần chồng chất
Tạo ra đồng tiền mất giá:
Ngân hàng Đông Dương đã phát hành quá nhiều tiền giấy, dẫn đến tình trạng lạm phát phi mã..
Hỗ trợ tài chính cho chiến tranh:
Ngân hàng Đông Dương đã cung cấp vốn cho chính quyền thực dân để tiến
hành các cuộc chiến tranh xâm lược và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
Những chính sách của Ngân hàng Đông Dương đã góp phần tạo nên nạn
đói thảm khốc năm 1945, làm suy yếu nền kinh tế Việt Nam, đẩy đất nước vào tình trạng khủng hoảng. 1.2 Về chính trị .
Thay đổi bản đồ chính trị:
Nạn đói đã làm suy yếu vị thế của các thế lực chính trị cũ và tạo điều kiện cho
sự trỗi dậy của các lực lượng cách mạng.
Thay đổi quan niệm về nhà nước:
Nạn đói đã khiến người dân mất niềm tin vào vai trò của nhà nước trong việc
bảo vệ cuộc sống của họ, tạo ra nhu cầu cấp thiết về một chính quyền mới,
một chế độ xã hội mới.
Trong hoàn cảnh ấy, nhân dân ta để thể hiện tinh thần dân tộc mãnh
liệt và điều đó đã tác động vào các phong trào đấu tranh và sự thành công của CMT8
Tạo cơ sở vững chắc cho sự thành công của cách mạng:
Nạn đói đã làm cho sự bất mãn của nhân dân lên đến đỉnh điểm, tạo ra một
bầu không khí cách mạng sôi sục. Điều này đã tạo cơ sở vững chắc cho sự
bùng nổ của cuộc Cách mạng tháng Tám.
Tăng cường tinh thần đấu tranh của nhân dân:
Nạn đói đã đẩy người dân vào cảnh khốn cùng, làm gia tăng mâu thuẫn xã hội
và phơi bày sự bất công của chế độ thực dân, phát xít. Điều này đã khiến
người dân càng thêm căm phẫn, quyết tâm lật đổ chế độ thống trị để tìm kiếm
cuộc sống tốt đẹp hơn.
Làm suy yếu bộ máy cai trị của thực dân, phát xít:
Nạn đói đã làm suy yếu uy tín của chính quyền thực dân, phát xít, khiến chúng
mất đi sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Điều này đã tạo điều kiện thuận
lợi cho các lực lượng cách mạng phát triển và giành thắng lợi.
Thúc đẩy sự đoàn kết của các lực lượng cách mạng:
Trước tình cảnh khốn cùng của nhân dân, các lực lượng cách mạng đã tăng
cường đoàn kết, chung sức chung lòng để cứu trợ nạn nhân và tổ chức đấu tranh chống lại kẻ thù.
Nạn đói năm 1945 là một thảm họa lớn, nhưng đồng thời cũng là một nhân
tố quan trọng thúc đẩy cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Nạn đói đã
làm gia tăng tinh thần đấu tranh của nhân dân, làm suy yếu bộ máy cai trị của
thực dân, phát xít, và tạo cơ sở vững chắc cho sự thành công của cách mạng.
2. Tác động tới văn hoá – xã hội
2.1.Tàn phá cấu trúc xã hội:
Nạn đói năm 1945 không chỉ gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế và
chính trị, mà còn để lại những ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đối với văn hóa
và xã hội Việt Nam. Dưới đây là một số hậu quả chính mà nạn đói đã để lại
trên khía cạnh văn hóa và xã hội: Gia đình tan vỡ:
Hàng triệu gia đình bị ly tán do cái chết của người thân, nhiều gia đình lâm
vào cảnh túng quẫn, phải bán con, bán ruộng đất, hoặc phải di tản đi các vùng khác để tìm thức ăn.
Phá vỡ cộng đồng làng xã:
Làng xã là trung tâm của đời sống văn hóa và xã hội Việt Nam, nhưng nạn đói
khiến cộng đồng này bị tan rã. Nhiều người từ bỏ quê hương để tìm cách sinh
tồn ở các vùng khác, làm mất đi sự gắn kết cộng đồng và tinh thần tương trợ vốn có.
Gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội:
Khi người dân rơi vào tình trạng cùng quẫn, nhiều tệ nạn xã hội như trộm cắp,
cướp bóc và ăn xin lan rộng. Điều này làm suy yếu các giá trị đạo đức và văn
hóa truyền thống của xã hội, vốn coi trọng sự giúp đỡ lẫn nhau và lòng nhân ái.
2.2. Tác động tâm lý và ám ảnh lâu dài:
Ký ức bi thương và tâm lý sợ đói:
Nạn đói đã trở thành một vết thương tâm lý sâu sắc trong ký ức của nhiều thế
hệ người Việt Nam. Sự ám ảnh về cái đói và cảnh tượng người chết đói khắp
nơi, với hình ảnh đau lòng về những gia đình mất người thân, người dân vật
lộn để sinh tồn, đã để lại những di sản khó phai trong lòng người dân.
Sợ hãi và đề cao tích trữ lương thực:
Sau nạn đói, nhiều người dân Việt Nam phát triển tâm lý sợ thiếu đói, dẫn đến
việc tích trữ lương thực trở thành một thói quen phổ biến. Điều này ảnh hưởng
đến cách ứng xử của nhiều người trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện qua lối
sống tiết kiệm, cẩn trọng trong tiêu dùng và đặc biệt là ưu tiên lương thực
trong đời sống hàng ngày.
IV. Chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện bi thảm, xảy ra trong bối
cảnh chiến tranh thế giới thứ hai và sự chiếm đóng của Nhật Bản. Chính sách
và chủ trương của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ tập trung vào việc cứu đói và
tổ chức kháng chiến. Một số điểm chính như sau:
Thi hành những biện pháp hành động chính nhắm cứu đói nhân dân.
Mở đầu chiến dịch cứu đói, Đảng và nhà nước cho phép vận hành thóc gạo,
cấm nghiêm trọng những hành vi đầu cơ, tích trữ thóc bình, cấm dùng bình
vào những công việc không cần thiết như nấu rượu, làm bánh; ép xuất khẩu
gạo, ngô, đậu;thành lập một tổ chức chuyên lo công việc chuyển tải từ miền Nam ra miền Bắc.
Ngày 2-11-1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y
tế, Cứu tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói
Khơi dậy truyền thống yêu nước, thương nòi, tập kết, tương thân,
tương ái,”nhường cơm sẻ áo” của toàn thể dân tộc.
Ngày 28/9/1945,chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài kêu gọi “sẻ cơm nhường
áo”đăng trên toàn quốc gia. Ngày 11-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp
bát gạo đầu tiên rồi dự lễ xuất phát của “Đoàn quân tiễu trừ giặc đói” tại Nhà
hát lớn Hà Nội. Phong trào trên đã được đông đảo quần chúng nhân dân ủng
hộ và tham gia tích cực với nhiều hình thức phong phú. ở Hà Nội, Nam Định và các địa phương khác
Phát động phong trào tăng gia sản xuất ( biện pháp lâu dài và là biện pháp quan trọng nhất)
Ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phát động một phong trào
tăng gia sản xuất trong cả nước “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay!
Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực
của chúng ta để giữ vững tự do, độc lập”.Câu khẩu hiệu của chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khơi dậy,làm khát khao lao động của người dân được đẩy lên cao trào.
Việt Minh cùng với nhân dân chống đối việc trưng mua lúa gạo,cùng
dân đánh phá các kho lúa của Nhật.
Trong nguy cơ đói cận kề cái chết, người dân không còn e sợ sự đàn áp của
chính quyền nên hưởng ứng rất đông đảo. Khẩu hiệu “Phá kho thóc,giải quyết
nạn đói” của Việt Minh được thực hiện ở khắp các tỉnh thành trên cả nước.
Chính tinh thần yêu nước chống thực dân đế quốc (chủ yếu) và hoạt động cứu
đói của Việt Minh đã chiếm được cảm tình của một bộ phận nhân dân vùng
Việt Minh (thứ yếu), đã dẫn đến sự kiện Cách mạng tháng Tám diễn ra thuận lợi.
Ngày 15/4/1945, Hội nghị Xứ ủy Nam kỳ đã ra lời hiệu triệu, trong đó có một
số nội dung liên quan đến việc cứu đói:“Cấp tốc chẩn bần cho dân có cơm ăn
áo mặc, thuốc uống, lập kho thóc khắp các nơi để ngừa thiên tai thủy biến”,
“Canh tân nông nghiệp, bày nhiều lối trồng tỉa mới, mở rộng sự chăn nuôi cho
dân sự đủ ăn, mặc ấm”
Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra ngày 14-15/8/1945 đã ban hành nghị
quyết định có những nội dung liên quan đến hoạt động cứu đói: “Chia lại
ruộng công, làm cho dân nghèo có ruộng cày cấy; giảm địa tô, giảm lợi tức,
hoãn nợ”, “Thi hành luật ngày làm tám giờ; đặt luật xã hội bảo hiểm; cứu tế nạn dân”.
Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên
của Chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách cần phải làm ngay.Trong đó nhiệm
vụ đầu tiên là cứu đói.
V. Bài học kinh nghiệm
1. Đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước ngày nay
Tăng cường đoàn kết và huy động sức mạnh toàn dân, dựa vào dân để xây
dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Một trong những bài học quan trọng
sau nạn đói là việc huy động sức mạnh của toàn dân để đối phó với khó khăn.
Đảng và Nhà nước cần thúc đẩy tinh thần đoàn kết dân tộc, khuyến khích sự
tham gia của toàn dân trong việc giải quyết các vấn đề chung, từ sản xuất
lương thực đến phòng chống thiên tai.
Quan tâm đến sự sống còn của người dân: Trong nạn đói năm 1945, Bác
Hồ và Đảng đã đặt ưu tiên hàng đầu là cứu người dân khỏi đói và chết đói.
Việc cung cấp thực phẩm, xây dựng các nông trường và thực hiện chính sách
phân phối công bằng đã cứu sống hàng triệu người. Bài học kinh nghiệm là
phải luôn đảm bảo đời sống và sức khỏe của người dân thông qua phát triển
kinh tế, cải thiện điều kiện sống và đảm bảo an sinh xã hội.
Khả năng đổi mới và sáng tạo: Trong bối cảnh nạn đói, Bác Hồ và Đảng
đã áp dụng các phương pháp sáng tạo để tìm nguồn lực mới và giải quyết vấn
đề. Việc khai thác các nguồn tài nguyên tiềm năng, khuyến khích sản xuất
nông nghiệp và chế độ tự cung tự cấp đã giúp đảm bảo nguồn lương thực cho
dân. Bài học kinh nghiệm là khuyến khích đổi mới và tìm giải pháp sáng tạo
để đối phó với thách thức hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và phát triển bền vững.
Quản lý tài nguyên: Trong thời kỳ khó khăn, việc quản lý tài nguyên trở
nên vô cùng quan trọng. Đảng và nhà nước đã hướng dẫn người dân tận dụng
tối đa các tài nguyên khan hiếm, tránh lãng phí. Điều này bao gồm kiểm soát
nguồn lương thực, quản lý nước, điện, sử dụng bền vững tài nguyên tự nhiên
và phân phối công bằng các nguồn tài nguyên.
Tăng cường quản lý tài chính: Bài học kinh nghiệm nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc quản lý tài chính cẩn thận. Đảng và nhà nước đã xây dựng
chính sách tài chính cân đối, đảm bảo tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực
tài chính. Việc kiểm soát ngân sách, giảm lãng phí, và đảm bảo minh bạch
trong sử dụng tài chính có ý nghĩa quan trọng, giúp tối ưu hóa nguồn lực và
đảm bảo sự bền vững của nền kinh tế.
2. Liên hệ với giới trẻ, sinh viên hiện nay
Từ nạn đói 1945 cho thấy giới trẻ ngày nay cần trân quý, biết ơn về sự độc
lập, tự do, sự xóa đói, giảm nghèo mà những anh hùng đã hy sinh thân mình
để nuôi dưỡng tương lai.
Biết quý trọng đồ ăn, thức uống, hãy xây dựng cho bản thân cách chi tiêu
hợp lý để tránh việc lãng phí thức ăn và những việc vô bổ.
Giới trẻ hiện nay hay tương lai hãy nhớ về trận đói năm ấy để biết ơn, trân
trọng vì mình đã được sinh ra trong thời bình. Vì vậy, chúng ta phải phấn đấu
học tập, làm việc tốt hơn, phát triển đất nước ngày càng vững mạnh để nước ta
không chỉ là một nước chuyên xuất khẩu về nông sản mà còn phát triển là
nước xuất khẩu về những thiết bị công nghệ hiện đại... sánh vai với các cường quốc năm châu.
Giới trẻ cần có tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết, giúp đỡ những
người có hoàn cảnh khó khăn, và đặc biệt phải có tình yêu nước mãnh liệt,
trung thành với Tổ quốc, mang trong mình niềm tự hào là con dân đất Việt.
Chúng ta cùng chung tay góp sức để giúp đất nước không bao giờ phải lặp
lại thảm cảnh về nạn đói, chiến tranh và dịch bệnh. C. Lời kết luận
Nạn đói năm 1945 là một trong những thảm kịch đau thương nhất trong
lịch sử Việt Nam, để lại những hậu quả nghiêm trọng trên nhiều phương diện,
từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội. Thảm họa này không chỉ cướp đi
sinh mạng của hàng triệu người dân vô tội, mà còn khắc sâu những vết thương
trong ký ức của dân tộc, trở thành lời nhắc nhở đau đớn về hậu quả tàn khốc
của chiến tranh và chính sách cai trị tàn nhẫn.
Việc nhìn lại nạn đói năm 1945 không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
quá khứ, mà còn là bài học quý giá về sự đoàn kết, nhân ái và quyết tâm vượt
qua khó khăn trong xây dựng và bảo vệ đất nước.