HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
CHỦ ĐỀ: Làm rõ những thành tựu của công cuộc đổi
mới đất nước. Để đưa đất nước hội nhập quốc tế sinh
viên cần chuẩn bị những hành trang gì.
Người thực hiện: Nguyễn Phương Uyên (CA10-172)
Lớp: Cityu 10E
Học kì: II – Năm học: 2023 – 2024
Hà Nội, 03/06/2024
BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
CHỦ ĐỀ: Làm rõ những thành tựu của công cuộc đổi mới
đất nước. Để đưa đất nước hội nhập quốc tế sinh viên cần
chuẩn bị những hành trang gì.
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Thị Hồng Th
Người thực hiện: Nguyễn Phương Uyên (CA10-172)
Lớp: Cityu 10E
Học kì: II – Năm học: 2023 – 2024
Hà Nội, 03/06/2024
NỘI DUNG
MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...........................................................................3
I.Thành tựu......................................................................................................3
1.1. Đất nước đã ra khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia có
thu nhập trung bình. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả.........................................................................3
1.2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có
bước phát triển...........................................................................................................5
1.3. Phát triển văn hóa, hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. “Phát
triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội”.................................................................................6
1.4. Chính trị - hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững ng
cường; Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành
tựu nổi bật..................................................................................................................7
1.5. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh. Đại hội
XIII khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín như ngày nay”......................................................................................................9
II. Những hành trang sinh viên cần chuẩn bị để đưa đất nước hội nhập quốc
tế............................................................................................................11
2.1. Chăm chỉ, sáng tạo, có mục đích và động cơ học tập đúng đắn........................11
2.2. Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh..........11
2.3. Nâng cao nhận thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...................................................11
2.4. Nắm vững kiến thức chuyên môn......................................................................12
2.5. Rèn luyện ngoại ngữ, tin học.............................................................................12
KẾT LUẬN....................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................14
4
5
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Thành tựu
I.1. Đất nước đã ra khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia thu
nhập trung bình. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả.
Thành tựu nổi bật trước hết là về phát triển kinh tế. Năm 1986, khi bắt đầu đổi
mới, Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng
là then chốt. Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế, từ đó đổi mới cơ
chế, chính sách về kinh tế để chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
hành chính, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân
phối. Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại
nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng
mạnh mẽ lực lượng sản xuất.. Nhờ vậy, kinh tế giảm bớt khó khăn, từng bước
phát triển. Năm 1996, chấm dứt khủng hoảng kinh tế - xã hội. Năm 2008, ra khỏi
tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
mang lại hiệu quả. Đại hội XIII nêu rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân
đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức
khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được
cải thiện
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri
thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại,
có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,
coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền
tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày
càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và
xây dựng nông thôn mới . Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc
đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát
triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng nền kinh tế độ
lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy
đủ hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp
với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các
6
yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn với thị
trường khu vực và thế giới. Nhiều rào cản tham gia thị trường được dỡ bỏ; môi
trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt, khởi nghiệp sáng tạo và phát
triển doanh nghiệp khá sôi động. Doanh nghiệp nhà nước từng bước được sắp
xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn; kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một
động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế tập thể từng bước đổi mới gắn với
cơ chế thị trường; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế nước ta”
Nhờ có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và giải pháp phù hợp, trong gần 30
năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế gây ấn
tượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều.
Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội;
sau 25 năm đổi mới (năm 2010) đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém
phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình. Trong giai đoạn 2001-
2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26
lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người
năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 ước tính khoảng 1900 USD/ người. Trong 5
năm 2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái
kinh tế toàn cầu nên nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP
bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8%.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45
tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ
USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ
USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực
nông nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp
chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%.
Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua
đào tạo ngày càng tăng lên (năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện.
Trong nhiệm kỳ khóa XII, những năm 2016 - 2019, phát triển kinh tế có những
thuận lợi. “Mặc dù năm cuối nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão lũ
nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung đã tác động nặng nề tới mọi
mặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai
đoạn 2016 - 2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn
đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh
tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD
và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được
cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng
6%/năm giai đoạn 2016 - 2020”.
7
I.2. Giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ tiếp tục được đổi mới bước
phát triển.
Một thành tựu rất quan trọng của công cuộc đổi mới là “Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển”. Chiến lược
phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được đề ra từ năm 1996
nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chiến lược đó không ngừng được bổ sung và phát triển, thúc đẩy phát triển kinh
tế tri thức, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp
cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, trong quá trình hội nhập quốc tế
Đảng ta đã quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi
phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo thực hiện đồng bộ các
giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học và
ngành học. Mở rộng giáo dục mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu
học và trung học cơ sở. Phát triể mạnh dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp, nâng
cao chất lượng giáo dục đại học.
Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển
khai, bước đầu có hiệu quả. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được
mở rộng về quy mô”. Chú trọng đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục
phổ thông, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập. Quản lý, quản trị đại học
có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên. Giáo dục
nghề nghiệp có nhiều chuyển biến. Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý. Chi đầu tư cho giáo dục và xã hội hóa giáo dục được tăng
cường. Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo
được thể chế hóa và đạt kết quả bước đầu. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo
được mở rộng. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng
“Khoa học và công nghệ từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển
kinh tế - xã hội. Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được tăng cường”.
Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực hơn
trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử
dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn
xã hội. Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích
cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách, bảo vệ, phát triển
nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, rộng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc.
Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát
triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả,
8
sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng
hợp (TFT) vào tăng trưởng. Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: Nâng cao
năng lực khoa học và công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu
ứng dụng. Trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ từng
bước phát triển kinh tế tri thức theo một số lộ trình hợp lý.
I.3. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. “Phát triển
toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội”
Đảng ta đã đề ra chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách
và từng bước phát triển. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa
với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển,
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới,
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn
hóa, con người Việt Nam.
Quá trình đổi mới đã từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả
chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển thị trường lao động,
hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, tiệm cận các tiêu
chuẩn quốc tế. Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao phúc lợi xã hội
cho người dân thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công, tiếp
tục cải thiện chính sách tiền lương, mở rộng bảo hiểm xã hội, tỷ lệ bảo hiểm y tế
đạt trên 90%. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều còn dưới 3%, hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
của Liên hợp quốc.
Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã rất quan tâm thực hiện các chính sác xã
hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế
độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường.
Chính sách xã hội bảo đảm và không ngững nâng cao đời sống vật chất của mọi
thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng
cao thể chất. Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ
thất nghiệp. Xây dựng và triển khai Luật Việc làm; nghiên cứu xây dựng chương
trình việc làm công.
Trong công cuộc đổi mới, chính sách nhất quán cuả Đảng và Nhà nước là giảm
nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, chính đáng; chú
trọng các chính sách giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo
là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước gỉam bình quân 1,5-2%/
9
năm. Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 60% trước đổi mới xuống còn
9,5%, năm 2013 còn 7,5%, phấn đấu đến năm 2015 còn dưới 5%. Thành tựu về
giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được
hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân
tăng nhanh. Hệ thống dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao chất lượng. Chính
sách ưu đãi người có công với cách mạng được đặc biệt quan tâm, đảm bảo mức
sống người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa
bàn cư trú. Đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày
càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và
tham gia các loại hình bảo hiểm; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội; bảo đảm
cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, nhất là cho người nghèo,
người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số.
I.4. Chính trị - hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường;
Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu
nổi bật.
Một thành tựu đặc biệt quan trọng mà Đại hội cũng chỉ ra, đó là: “Chính trị - xã
hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối
ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật”. Giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực
lượng vũ trang
Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh triển
nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng
lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Kiên
quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân
dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Kết hợp
có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. “Đã ban hành và triển khai
đồng bộ các chiến lược quan trọng, như: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược
quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược
bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng,
v.v.”
10
“Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo
khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác”. Chủ động tham gia xây
dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn
cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các
đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác khác
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế và
đổi mới hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng
cố vững mạnh. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã
hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Tôn trọng, bảo đảm quyền con
người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013, gắn quyền công
dân với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện,
hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ, các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp”. “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”. C
trọng xây dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng, về đạo đức, về tổ chức và cán bộ.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn
diện, đồng bộ, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến
đấu của Đảng.
Nhờ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế bằng những chính sách phù hợp nên
Việt Nam dã phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu
về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của
nhân loại… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước.
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương,
chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan
hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu
hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và
đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác
quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm
quản lý tiên tiến. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 nước
(trong đó xác lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước), quan hệ thương mại
với 230 nước và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại song phương,
gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Hội nhập quốc tế của Việt Nam
ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt nam ngày càng được nâng
lên.
11
I.5. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh. Đại hội XIII
khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín như ngày nay”.
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế và
đổi mới hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng
cố vững mạnh. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã
hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Tôn trọng, bảo đảm quyền con
người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013, gắn quyền công
dân với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện,
hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ, các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp”. “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”. C
trọng xây dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng, về đạo đức, về tổ chức và cán bộ.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn
diện, đồng bộ, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến
đấu của Đảng.
Có được những thành tựu to lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học - công
nghệ, văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là kết quả của
quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, qua nhiều
nhiệm kỳ đại hội; là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả của Trung ương
Đảng, sự quản lý, điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự
tham gia tích cực của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội; sự phối hợp đồng
bộ của cả hệ thống chính trị.
12
Cần nhấn mạnh, việc xử lý các mối quan hệ lớn bảo đảm cho đổi mới phát triển
mang lại nhiều thành tựu to lớn. Các quan hệ lớn mà Đại hội XIII chỉ ra, đó là:
“Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;
giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa;
giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân
dân làm chủ; và đặc biệt, mối quan hệ mới được bổ sung lần này là mối quan hệ
giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.
Những mối quan hệ lớn phản ánh những quy luật mang tính biện chứng, những
vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng.
Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành
Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và
pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao
vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến
hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư
pháp và chính quyền địa phương các cấp.
Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là
bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp
đổi mới. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp
luật được pháp luật bảo đảm.
“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như
ngày nay”. Đó là sự khái quát cao những thành tựu của đất nước qua 35 năm đổi
mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
II. Những hành trang sinh viên cần chuẩn bị để đưa đất nước hội nhập quốc tế
2.1. Chăm chỉ, sáng tạo, có mục đích và động cơ học tập đúng đắn
Hiểu rõ được việc học tập để mai sau xây dựng đất nước, hiểu được học tập tốt là
yêu nước. Tuổi trẻ Việt Nam nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng đóng vai
trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy
đủ kiến thức, kỹ năng để thích ứng với những bước phát triển mới trong khoa học
13
và công nghệ. Chính vì vậy, thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước
phải không ngừng học tập, sáng tạo, tiếp thu các công nghệ mới để trang bị một
nền tảng tốt, giàu kiến thức, vững kỹ năng để tiếp nối các thế hệ cha anh trong
quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển
kinh tế tri thức.
2.2. Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh
Biết tránh xa các tệ nạn xã hội; biết đấu tranh chống các biểu hiện của lối sống lai
căng, thực dụng, xa rời các giá trị văn hoá - đạo đức truyền thống của dân tộc.
Đây sẽ là một động lực quan trọng để phát huy giá trị truyền thống của dân tộc,
phát huy giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam
nói riêng để đóng góp vào sự phồn thịnh của đất nước.
Trong quá trình hội nhập sinh viên phải chủ động lựa chọn, tiếp thu và phát huy
những mặt tích cực, nhận biết và ngăn chặn, đẩy lùi những mặt tiêu cực của nền
văn hóa bên ngoài. Các yếu tố tích cực từ bên ngoài chỉ phát huy hiệu quả khi
chủ thể văn hóa- trong đó có thanh niên có ý thức chọn lọc, tiếp thu và phát huy
nó. Những giá trị, nét đẹp của văn hóa dân tôc được lưu truyền, được thế giới ’
biết đến khi thanh niên tự giác tìm hiểu, học tâp và giới thiê’ u với bạn bè quốc
tế.
2.3. Nâng cao nhận thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Hiện nay, các thiết bị công nghệ hiện đại và hệ thống mạng xã hội đang ngày
càng phát triển đã tạo ra nhiều ảnh hưởng lớn đến sinh viên, bao gồm cả những
ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, một trong số đó là khiến giới trẻ nói chung, trong
đó có sinh viên sống tách biệt với xã hội, hình thành lối sống vô tâm, vô cảm, thờ
ơ chính trị. Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ chủ yếu đọc báo qua những bài được chia
trẻ trên mạng xã hội chưa được kiểm chứng cụ thể, thay vì chủ động tiếp cận tới
các nguồn tin chính thức, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch truyền bá những
thông tin xuyên tạc Đảng và Nhà nước mà nếu không có những nhận thức chính
trị đầy đủ, người đọc sẽ hình thành suy nghĩ sai lệch, gây ra những hệ lụy khôn
lường cho tình hình an ninh xã hội. Sinh viên Việt Nam phải có nhiệm vụ tự
mình nâng cao nhận thức trị, học và làm theo Bác, hỗ trợ Đảng và Nhà nước
trong việc loại bỏ các thông tin xuyên tạc, tiêu cực khỏi các nền tảng mạng xã
hội, tuyên truyền đến người thân, bạn bè có cách tiếp nhận thông tin đúng đắn,
chính xác
2.4. Nắm vững kiến thức chuyên môn
14
Mỗi thanh niên trong giai đoạn hiện nay phải có chuyên môn sâu về một lĩnh vực
cụ thể, tuỳ vào năng lực của từng người. Khả năng đó có cơ sở từ một trí tuệ và
trình độ học vấn, tay nghề cao. Đây là yếu tố để thanh niên thực hiện được lý
tưởng nghề nghiệp của mình. Đối với thanh niên là học sinh - sinh viên, trí thức,
đó là những người học tập giỏi, có nhiều sáng kiến, phát minh khoa học, có
những công trình nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tiễn. Có môt
chuyên môn nhất định, mô’ t tay nghề vững vàng được coi là điều kiện cơ ’
bản để thanh niên có thể tự tin trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của hội
nhập kinh tế thế giới với tính kỷ luật và cường độ lao động cao.
2.5. Rèn luyện ngoại ngữ, tin học
Đây lại là hai nhân tố có vai trò rất lớn trong việc quyết định hội nhập vào sân
chơi chung trong bối cảnh “thế giới phẳng” ngày nay. Hiện nay, tiếng Anh là
ngôn ngữ phổ thông nhất trên thế giới và nó cũng là ngoại ngữ phổ biến ở Việt
Nam. Phần lớn các công ty khi tuyển dụng đều yêu cầu trình độ Anh ngữ từ phía
ứng viên. Chính vì vậy, thông thạo tiếng Anh sẽ là một lợi thế rất lớn cho việc xin
việc làm cũng như nắm bắt được nhiều cơ hội khởi nghiệp từ sự hội nhập toàn
cầu. Mỗi thanh niên hãy dành một thời gian nhất định trong ngày cho việc rèn
luyện ngoại ngữ. Các bạn trẻ có thể học ngoại ngữ bằng nhiều cách, như: qua
băng nghe, phim ảnh, sách tham khảo… Vì vậy, hãy tạo cho mình sự hứng thú,
niềm yêu thích và tinh thần sảng khoái khi học ngoại ngữ. Không chỉ để xin việc,
thanh niên cũng nên ý thức được rằng việc sử dụng máy tính và internet thành
thạo sẽ là một công cụ hữu hiệu phục vụ không chỉ cho công việc mà cho cả cuộc
sống hàng ngày.
Một khi đã nắm vững 2 công cụ này, cộng với năng lực chuyên môn, thanh niên
có thể hội nhập một cách dễ dàng vào thế giới rộng lớn, có thể nắm bắt được
nhiều cơ hội hơn bởi nguồn thông tin đồ sộ trên internet là không của riêng ai,
nhưng chỉ những người thông thạo ngoại ngữ và tin học mới có thể khai thác triệt
để chúng.
KẾT LUẬN
Các thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để đất ớc tiếp tục đổi mới, phát triển trong
những năm tới; đồng thời khẳng định con đường đi n CNXH phù hợp với thực tiễn
của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Cội nguồn của các thành tựu đó là do Ðảng
ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích, nguyện vọng của nhân dân,
được nhân dân tích cực ủng hộ, thực hiện, được bạn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Ðảng đã nhận thức, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác
-
-nin,
tưởng
Hồ
Chí
M
inh,
kế
thừa,
phát
huy
truyền
thống
dân
tộc,
tiếp
thu
tinh
hoa
văn
hóa
nhân
loại,
vận
dụng
kinh
nghiệm
quốc
tế
phù
hợp
với
Việt
Nam,
từ
đó giữ bả
n lĩnh
chính trị,
kiên định
tưởng, mục tiê
u độc
lập dân
tộc và
CNXH, đồng
thời
nhạy
bén,
sáng
tạo,
kịp
thời
đưa
ra
các
chủ
trương,
quyết
s
ách
phù
hợp
từng
giai
đoạn cách mạng, phù hợp tình hình thế giới và trong nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bộ
Giá
o
dục
Đào
tạo,
Giáo
trình
Lịch
sử
Đảng
(
Dành
cho
bậc
đại
học
hệ
không chuyên lý luận chính trị,)
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021.
2.
Khoa
luậ
n
chính
trị,
Học
viện
Ngân
hàng,
Bài
tập
thực
hành
môn
Lịch
sử
Đảng
, 2023.
3.
Hồ Chí Minh,
, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011.
Toàn tập
16

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
CHỦ ĐỀ: Làm rõ những thành tựu của công cuộc đổi
mới đất nước. Để đưa đất nước hội nhập quốc tế sinh
viên cần chuẩn bị những hành trang gì.
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Thị Hồng Thuý
Người thực hiện: Nguyễn Phương Uyên (CA10-172)
Lớp: Cityu 10E
Học kì: II – Năm học: 2023 – 2024 Hà Nội, 03/06/2024 BÀI TẬP LỚN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
CHỦ ĐỀ: Làm rõ những thành tựu của công cuộc đổi mới
đất nước. Để đưa đất nước hội nhập quốc tế sinh viên cần
chuẩn bị những hành trang gì.
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Thị Hồng Thuý
Người thực hiện: Nguyễn Phương Uyên (CA10-172) Lớp: Cityu 10E
Học kì: II – Năm học: 2023 – 2024 Hà Nội, 03/06/2024 NỘI DUNG
MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...........................................................................3
I.Thành tựu......................................................................................................3 1.1.
Đất nước đã ra khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia có
thu nhập trung bình. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả.........................................................................3 1.2.
Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có
bước phát triển...........................................................................................................5 1.3.
Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. “Phát
triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội”.................................................................................6 1.4.
Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng
cường; Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành
tựu nổi bật..................................................................................................................7 1.5.
Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh. Đại hội
XIII khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín như ngày nay”......................................................................................................9
II. Những hành trang sinh viên cần chuẩn bị để đưa đất nước hội nhập quốc
tế............................................................................................................11
2.1. Chăm chỉ, sáng tạo, có mục đích và động cơ học tập đúng đắn........................11
2.2. Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh..........11
2.3. Nâng cao nhận thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...................................................11
2.4. Nắm vững kiến thức chuyên môn......................................................................12
2.5. Rèn luyện ngoại ngữ, tin học.............................................................................12
KẾT LUẬN....................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................14 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Thành tựu
I.1. Đất nước đã ra khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia có thu
nhập trung bình. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả.
Thành tựu nổi bật trước hết là về phát triển kinh tế. Năm 1986, khi bắt đầu đổi
mới, Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng
là then chốt. Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế, từ đó đổi mới cơ
chế, chính sách về kinh tế để chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
hành chính, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân
phối. Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại
nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng
mạnh mẽ lực lượng sản xuất.. Nhờ vậy, kinh tế giảm bớt khó khăn, từng bước
phát triển. Năm 1996, chấm dứt khủng hoảng kinh tế - xã hội. Năm 2008, ra khỏi
tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
mang lại hiệu quả. Đại hội XIII nêu rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân
đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức
khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri
thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại,
có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,
coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền
tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày
càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và
xây dựng nông thôn mới . Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc
đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát
triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng nền kinh tế độ
lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy
đủ hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp
với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các 5
yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn với thị
trường khu vực và thế giới. Nhiều rào cản tham gia thị trường được dỡ bỏ; môi
trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt, khởi nghiệp sáng tạo và phát
triển doanh nghiệp khá sôi động. Doanh nghiệp nhà nước từng bước được sắp
xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn; kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một
động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế tập thể từng bước đổi mới gắn với
cơ chế thị trường; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế nước ta”
Nhờ có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và giải pháp phù hợp, trong gần 30
năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế gây ấn
tượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều.
Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội;
sau 25 năm đổi mới (năm 2010) đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém
phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình. Trong giai đoạn 2001-
2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26
lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người
năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 ước tính khoảng 1900 USD/ người. Trong 5
năm 2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái
kinh tế toàn cầu nên nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP
bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8%.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45
tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ
USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ
USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực
nông nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp
chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%.
Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua
đào tạo ngày càng tăng lên (năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Trong nhiệm kỳ khóa XII, những năm 2016 - 2019, phát triển kinh tế có những
thuận lợi. “Mặc dù năm cuối nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão lũ
nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung đã tác động nặng nề tới mọi
mặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai
đoạn 2016 - 2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn
đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh
tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD
và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được
cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng
6%/năm giai đoạn 2016 - 2020”. 6
I.2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển.
Một thành tựu rất quan trọng của công cuộc đổi mới là “Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển”. Chiến lược
phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được đề ra từ năm 1996
nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chiến lược đó không ngừng được bổ sung và phát triển, thúc đẩy phát triển kinh
tế tri thức, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp
cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, trong quá trình hội nhập quốc tế
Đảng ta đã quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi
phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo thực hiện đồng bộ các
giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học và
ngành học. Mở rộng giáo dục mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu
học và trung học cơ sở. Phát triể mạnh dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp, nâng
cao chất lượng giáo dục đại học.
Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển
khai, bước đầu có hiệu quả. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được
mở rộng về quy mô”. Chú trọng đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục
phổ thông, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập. Quản lý, quản trị đại học
có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên. Giáo dục
nghề nghiệp có nhiều chuyển biến. Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý. Chi đầu tư cho giáo dục và xã hội hóa giáo dục được tăng
cường. Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo
được thể chế hóa và đạt kết quả bước đầu. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo
được mở rộng. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng
“Khoa học và công nghệ từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển
kinh tế - xã hội. Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được tăng cường”.
Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực hơn
trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử
dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn
xã hội. Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích
cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách, bảo vệ, phát triển
nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, rộng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc.
Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát
triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, 7
sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng
hợp (TFT) vào tăng trưởng. Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: Nâng cao
năng lực khoa học và công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu
ứng dụng. Trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ từng
bước phát triển kinh tế tri thức theo một số lộ trình hợp lý.
I.3. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. “Phát triển
toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội”
Đảng ta đã đề ra chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách
và từng bước phát triển. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa
với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển,
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới,
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn
hóa, con người Việt Nam.
Quá trình đổi mới đã từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả
chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển thị trường lao động,
hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, tiệm cận các tiêu
chuẩn quốc tế. Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao phúc lợi xã hội
cho người dân thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công, tiếp
tục cải thiện chính sách tiền lương, mở rộng bảo hiểm xã hội, tỷ lệ bảo hiểm y tế
đạt trên 90%. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều còn dưới 3%, hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã rất quan tâm thực hiện các chính sác xã
hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế
độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường.
Chính sách xã hội bảo đảm và không ngững nâng cao đời sống vật chất của mọi
thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng
cao thể chất. Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ
thất nghiệp. Xây dựng và triển khai Luật Việc làm; nghiên cứu xây dựng chương trình việc làm công.
Trong công cuộc đổi mới, chính sách nhất quán cuả Đảng và Nhà nước là giảm
nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, chính đáng; chú
trọng các chính sách giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo
là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước gỉam bình quân 1,5-2%/ 8
năm. Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 60% trước đổi mới xuống còn
9,5%, năm 2013 còn 7,5%, phấn đấu đến năm 2015 còn dưới 5%. Thành tựu về
giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được
hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân
tăng nhanh. Hệ thống dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao chất lượng. Chính
sách ưu đãi người có công với cách mạng được đặc biệt quan tâm, đảm bảo mức
sống người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa
bàn cư trú. Đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày
càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và
tham gia các loại hình bảo hiểm; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội; bảo đảm
cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, nhất là cho người nghèo,
người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số.
I.4. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường;
Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật.
Một thành tựu đặc biệt quan trọng mà Đại hội cũng chỉ ra, đó là: “Chính trị - xã
hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối
ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật”. Giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang
Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh triển
nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng
lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Kiên
quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân
dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Kết hợp
có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. “Đã ban hành và triển khai
đồng bộ các chiến lược quan trọng, như: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược
quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược
bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v.” 9
“Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo
khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác”. Chủ động tham gia xây
dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn
cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các
đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác khác
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế và
đổi mới hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng
cố vững mạnh. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã
hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Tôn trọng, bảo đảm quyền con
người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013, gắn quyền công
dân với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện,
hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ, các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp”. “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”. Chú
trọng xây dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng, về đạo đức, về tổ chức và cán bộ.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn
diện, đồng bộ, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.
Nhờ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế bằng những chính sách phù hợp nên
Việt Nam dã phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu
về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của
nhân loại… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước.
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương,
chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan
hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu
hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và
đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác
quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm
quản lý tiên tiến. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 nước
(trong đó xác lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước), quan hệ thương mại
với 230 nước và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại song phương,
gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Hội nhập quốc tế của Việt Nam
ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt nam ngày càng được nâng lên. 10
I.5. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh. Đại hội XIII
khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín như ngày nay”.
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế và
đổi mới hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng
cố vững mạnh. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã
hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Tôn trọng, bảo đảm quyền con
người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013, gắn quyền công
dân với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện,
hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ, các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp”. “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”. Chú
trọng xây dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng, về đạo đức, về tổ chức và cán bộ.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn
diện, đồng bộ, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.
Có được những thành tựu to lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học - công
nghệ, văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là kết quả của
quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, qua nhiều
nhiệm kỳ đại hội; là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả của Trung ương
Đảng, sự quản lý, điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự
tham gia tích cực của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội; sự phối hợp đồng
bộ của cả hệ thống chính trị. 11
Cần nhấn mạnh, việc xử lý các mối quan hệ lớn bảo đảm cho đổi mới phát triển
mang lại nhiều thành tựu to lớn. Các quan hệ lớn mà Đại hội XIII chỉ ra, đó là:
“Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;
giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa;
giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân
dân làm chủ; và đặc biệt, mối quan hệ mới được bổ sung lần này là mối quan hệ
giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.
Những mối quan hệ lớn phản ánh những quy luật mang tính biện chứng, những
vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng.
Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành
Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và
pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao
vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến
hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư
pháp và chính quyền địa phương các cấp.
Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là
bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp
đổi mới. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp
luật được pháp luật bảo đảm.
“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như
ngày nay”. Đó là sự khái quát cao những thành tựu của đất nước qua 35 năm đổi
mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
II. Những hành trang sinh viên cần chuẩn bị để đưa đất nước hội nhập quốc tế
2.1. Chăm chỉ, sáng tạo, có mục đích và động cơ học tập đúng đắn
Hiểu rõ được việc học tập để mai sau xây dựng đất nước, hiểu được học tập tốt là
yêu nước. Tuổi trẻ Việt Nam nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng đóng vai
trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy
đủ kiến thức, kỹ năng để thích ứng với những bước phát triển mới trong khoa học 12
và công nghệ. Chính vì vậy, thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước
phải không ngừng học tập, sáng tạo, tiếp thu các công nghệ mới để trang bị một
nền tảng tốt, giàu kiến thức, vững kỹ năng để tiếp nối các thế hệ cha anh trong
quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức.
2.2. Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh
Biết tránh xa các tệ nạn xã hội; biết đấu tranh chống các biểu hiện của lối sống lai
căng, thực dụng, xa rời các giá trị văn hoá - đạo đức truyền thống của dân tộc.
Đây sẽ là một động lực quan trọng để phát huy giá trị truyền thống của dân tộc,
phát huy giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Việt Nam
nói riêng để đóng góp vào sự phồn thịnh của đất nước.
Trong quá trình hội nhập sinh viên phải chủ động lựa chọn, tiếp thu và phát huy
những mặt tích cực, nhận biết và ngăn chặn, đẩy lùi những mặt tiêu cực của nền
văn hóa bên ngoài. Các yếu tố tích cực từ bên ngoài chỉ phát huy hiệu quả khi
chủ thể văn hóa- trong đó có thanh niên có ý thức chọn lọc, tiếp thu và phát huy
nó. Những giá trị, nét đẹp của văn hóa dân tôc được lưu truyền, được thế giới ’
biết đến khi thanh niên tự giác tìm hiểu, học tâp và giới thiê’ u với bạn bè quốc ’ tế.
2.3. Nâng cao nhận thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Hiện nay, các thiết bị công nghệ hiện đại và hệ thống mạng xã hội đang ngày
càng phát triển đã tạo ra nhiều ảnh hưởng lớn đến sinh viên, bao gồm cả những
ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, một trong số đó là khiến giới trẻ nói chung, trong
đó có sinh viên sống tách biệt với xã hội, hình thành lối sống vô tâm, vô cảm, thờ
ơ chính trị. Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ chủ yếu đọc báo qua những bài được chia
trẻ trên mạng xã hội chưa được kiểm chứng cụ thể, thay vì chủ động tiếp cận tới
các nguồn tin chính thức, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch truyền bá những
thông tin xuyên tạc Đảng và Nhà nước mà nếu không có những nhận thức chính
trị đầy đủ, người đọc sẽ hình thành suy nghĩ sai lệch, gây ra những hệ lụy khôn
lường cho tình hình an ninh xã hội. Sinh viên Việt Nam phải có nhiệm vụ tự
mình nâng cao nhận thức trị, học và làm theo Bác, hỗ trợ Đảng và Nhà nước
trong việc loại bỏ các thông tin xuyên tạc, tiêu cực khỏi các nền tảng mạng xã
hội, tuyên truyền đến người thân, bạn bè có cách tiếp nhận thông tin đúng đắn, chính xác
2.4. Nắm vững kiến thức chuyên môn 13
Mỗi thanh niên trong giai đoạn hiện nay phải có chuyên môn sâu về một lĩnh vực
cụ thể, tuỳ vào năng lực của từng người. Khả năng đó có cơ sở từ một trí tuệ và
trình độ học vấn, tay nghề cao. Đây là yếu tố để thanh niên thực hiện được lý
tưởng nghề nghiệp của mình. Đối với thanh niên là học sinh - sinh viên, trí thức,
đó là những người học tập giỏi, có nhiều sáng kiến, phát minh khoa học, có
những công trình nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tiễn. Có môt
chuyên môn nhất định, mô’
t tay nghề vững vàng được coi là điều kiện cơ ’
bản để thanh niên có thể tự tin trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của hội
nhập kinh tế thế giới với tính kỷ luật và cường độ lao động cao.
2.5. Rèn luyện ngoại ngữ, tin học
Đây lại là hai nhân tố có vai trò rất lớn trong việc quyết định hội nhập vào sân
chơi chung trong bối cảnh “thế giới phẳng” ngày nay. Hiện nay, tiếng Anh là
ngôn ngữ phổ thông nhất trên thế giới và nó cũng là ngoại ngữ phổ biến ở Việt
Nam. Phần lớn các công ty khi tuyển dụng đều yêu cầu trình độ Anh ngữ từ phía
ứng viên. Chính vì vậy, thông thạo tiếng Anh sẽ là một lợi thế rất lớn cho việc xin
việc làm cũng như nắm bắt được nhiều cơ hội khởi nghiệp từ sự hội nhập toàn
cầu. Mỗi thanh niên hãy dành một thời gian nhất định trong ngày cho việc rèn
luyện ngoại ngữ. Các bạn trẻ có thể học ngoại ngữ bằng nhiều cách, như: qua
băng nghe, phim ảnh, sách tham khảo… Vì vậy, hãy tạo cho mình sự hứng thú,
niềm yêu thích và tinh thần sảng khoái khi học ngoại ngữ. Không chỉ để xin việc,
thanh niên cũng nên ý thức được rằng việc sử dụng máy tính và internet thành
thạo sẽ là một công cụ hữu hiệu phục vụ không chỉ cho công việc mà cho cả cuộc sống hàng ngày.
Một khi đã nắm vững 2 công cụ này, cộng với năng lực chuyên môn, thanh niên
có thể hội nhập một cách dễ dàng vào thế giới rộng lớn, có thể nắm bắt được
nhiều cơ hội hơn bởi nguồn thông tin đồ sộ trên internet là không của riêng ai,
nhưng chỉ những người thông thạo ngoại ngữ và tin học mới có thể khai thác triệt để chúng. KẾT LUẬN
Các thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để đất nước tiếp tục đổi mới, phát triển trong
những năm tới; đồng thời khẳng định con đường đi lên CNXH là phù hợp với thực tiễn
của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Cội nguồn của các thành tựu đó là do Ðảng
ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích, nguyện vọng của nhân dân,
được nhân dân tích cực ủng hộ, thực hiện, được bạn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Ðảng đã nhận thức, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa 14
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí M inh, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam, từ
đó giữ bả n lĩnh chính trị, kiên định lý tưởng, mục tiê u độc lập dân tộc và CNXH, đồng
thời nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra các chủ trương, quyết s ách phù hợp từng giai
đoạn cách mạng, phù hợp tình hình thế giới và trong nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giá o dục và Đào tạo, Giáo trình Lịch sử Đảng ( Dành cho bậc đại học hệ
không chuyên lý luận chính trị,) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021.
2. Khoa Lý luậ n chính trị, Học viện Ngân hàng, Bài tập thực hành môn Lịch sử Đảng , 2023.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập , Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011. 16