HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: Vai trò của kinh tế tư nhân thời kì đổi mới
GVHD: Trần Thị Mai
Nhóm: 7
Sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Thị Hải Yến 25A4011014 6. Lê Thị Hồng Nhung 25A4022186
2. Nguyễn Anh Thơ 25A4010700 7. Nguyễn Thị Hương 25A4021083
3. Nguyễn Thanh Trúc 25A4010995 8. Hoàng Thanh Mai 25A4031244
4. Nguyễn Quang Minh 25A4010089 9. Trần Thị Huyền Trang 25A4051663
5. Phan Thanh Bình 25A4011325 10. Phạm Thị Thu 25A4020208
Mã LHP: 23PLT10A19
Hà Nội, ngày 01/11/2023
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG.................................................................................................................................... 3
1. Tìm hiểu chung về kinh tế tư nhân...............................................................................................3
2. Thực tiễn nền kinh tế tư nhân Việt Nam thời kì đổi mới............................................................4
2.1 Nhận thức của Đảng và Nhà nước........................................................................................... 4
2.2 Sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam...............................................................................5
3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kì đổi mới.......................................................................6
3.1 Lĩnh vực kinh tế.............................................................................................................................6
3.2 Lĩnh vực xã hội.............................................................................................................................. 7
4. Liên hệ thực tiễn............................................................................................................................ 8
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................................................11
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với mọi quốc gia, khu vực kinh tế nhân vai trò hết sức quan trọng trong
phát triển kinh tế đất nước. Đối với nước ta, mặc quá trình phát triển trải qua nhiều
thăng trầm song bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế tư nhân khăng định là một bộ phận cấu
thành, có vị trí quá trình lâu dài của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong xu
thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới đãđang đặt
ra những hội cũng như những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.Việt Nam đã
đang những bước tiến vững chắc trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập cùng thế giới bằng việc phát huy nội lực đồng thời tranh
thủ các nguồn lực bên ngoài thông qua việc phát huy sức mạnh của các thành phần kinh
tế.Trong đó phải kể đến sự đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế nhân trong
việc phát triển nền kinh tế. Hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương khóa IX khẳng
định: kinh tế nhân một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc
dân.Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều
thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa”. Vậy trong việc phát triển kinh tế Việt Nam
thành phần kinh tếnhân đã có vai trò như thế nào? Hay tại sao Việt Nam lại phải phát
triển kinh tế tư nhân trong khi chúng ta muốn hướng tới một xã hội XHCN nơi sở hữu tư
liệu sản xuất là của tập thể. Việc xác định đúng vai trò của kinh tế tư nhân và con đường
đúng đắn cho sự phát triển của thành phần kinh tế này là việc làm cấp thiết hiện nay, bởi
hiện nay toàn cầu hóa một xu thế phát triển tất yếu trong tiến trình phát triển của
nhân loại, chúng ta không muốn bị cuốn vào vòng xoáy đó một cách thụ động thì chúng
ta phải biết phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế
tư nhân - mắt xích quan trọng trong việc nối kết nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền
kinh tế thị trường thế giới.
3
PHẦN NỘI DUNG
1. Tìm hiểu chung về kinh tế tư nhân
- Khái niệm kinh tế tư nhân:
Kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển khá lâu trong lịch sử, nhưng đến
nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau về kinh tế tư nhân. Dựa trên căn cứ khoa
học, lý luận và thực tiễn, có thể hiểu kinh tế tư nhân ở một số góc độ sau:
Xét góc độ kinh tế học, kinh tế nhân bộ phận kinh tế trong hệ thống cấu
kinh tế của một quốc gia được hình thành phát triển dựa trên sở hữu của nhân về
TLSX cũng như lợi ích cá nhân.
Xét ở góc độ môn học Kinh tế chính trị, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế trong hệ
thống cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội, dựa
trên các chế độ sở hữu nhân về tư liệu sản xuất, kinh tế nhân bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
- Phân loại:
Kinh tế cả thể tiểu chủ: dựa trên hình thức hữu nhỏ về TLSX lao động của
bản thân người lao động. Kinh tế cá thể tiểu chủ có vị trí rất quan trọng trong nhiều
ngành nghề điều kiện phát huy nhanh hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao
động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản
xuất, kinh doanh của kinh tế cả thể, tiểu chủ được Nhà nước khuyến khích phát
triển.
Kinh tế tư bản tư nhân: dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX.
Kinh tế tư bản tư nhân có vai trò đáng kể trong việc phát triển kinh tế thị trưởng,
giải quyết việc làm cho người lao động, có những đóng góp không nhỏ vào tăng
trưởng nền kinh tế cả nước.
Dù hoạt động dưới bất kì mô hình nào thì KTTN cũng quy về hình thức hộ kinh
doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân. Điểm chung của mọi loại hình
kinh doanh này phần lớn đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
VD: các hộ gia đình, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần, ….
2. Thực tiễn nền kinh tế tư nhân Việt Nam thời kì đổi mới
2.1 Nhận thức của Đảng và Nhà nước
Trong thực tế xây dựng đất nước, trước năm 1986, do điều kiện lịch sử, KTTN
không có một quá trình phát triển xuyên suốt và gần như không được thừa nhận về sự tồn
tại của mình. Dẫu vậy, quá trình hoạt động của kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ trong suốt thời
bao cấp vẫn là một minh chứng cho “ năng lực nội sinh” bền bỉ của KTTN.
4
Thực hiện đường lối đổi mới, kể từ sau năm 1986, thành phần KTTN đã được công
khai thừa nhận. Đây là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự đổi mới trong tư duy kinh
tế của Đảng. Cụ thể là:
- Nghị quyết Hội nghị lần 6 của BCH Trung ương VI (1989) lần đầu đưa ra khái niệm
KTTN khẳng định Trong điều kiện của nước ta, các hình thức KTTN vẫn cần thiết
lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên CNXH”.
=> Nền tảng tạo sở pháp đầu tiên cho việc hình thành phát triển các doanh
nghiệp tư nhân. Minh chứng vào năm 1999, khi Luật Doanh nghiệp được ban hành đã
dẫn đến sự phát triển bùng nổ các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam.
- Hội nghị trung ương 5 khóa IX (3/2002): KTTN một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển KTTN vấn đề chiến lược lâu dài trong việc
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN.
=> Như vậy, thể thấy sự tồn tại phát triển thành phần KTTN nước ta như
quan điểm của Đảng nhận định một lẽ tất yếu trong thời quá độ lên CNXH. Bởi lẽ
trong thời quá độ lên CNXH, nước ta còn nhiều tàn của một nước thuộc địa nửa
phong kiến, hậu chiến tranh kéo dài với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu; vậy
trên thực tế sẽsự chênh lệch rất lớn giữa các vùng, các ngành, trong nội bộ từng vùng
về tính chất cũng như trình độ của LLSX. Đồng thời, thành phần kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể chưa đủ khả năng mạnh mẽ trong việc đáp ứng được nhu cầu của toàn hội.
thành phần KTTN lại làm được điều này khi giải quyết được vấn đề việc làm tạo ra
nguồn thu nhập cho người lao động, khai thác được tiềm năng về sức người sức của để
xây dựng và phát triển đất nước.
2.2 Sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam
- Tiềm năng phát triển kinh tế nhân tại Việt Nam rất lớn, được khai thác một cách
tích cực. Điều này được phản ánh thông qua những con số cụ thể sau đây. Ta có thể thấy
số lượng doanh nghiệp nhân đăng thành lập từ năm 2011 đến 2017 tăng lên 1 cách
chóng mặt. Bằng chứng ràng nhất sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng doanh
nghiệp Công nghiệp tư nhân, đạt hơn 110.000 doanh nghiệp (thống kê năm 2016).
5
- Đặc biệt hơn, thương hiệu của các doanh nghiệp nhân không chỉ dừng lại trong
nước mà còn lan rộng ra nước ngoài với những tên tuổi nổi tiếng như: VinGroup, VNM,
FPT, DOJI, Hòa Phát, Masan, Sungroup, Thaco, …. Độ phủ sóng của kinh tế nhân
nhiều lĩnh vực càng cho thấy sự phát triển đa dạng của mình.
-Nhìn vào đó ta cũng thấy được nước ta xuất hiện đội ngũ doanh nhân tài năng, tiêu biểu
như: Doanh nhân Phạm Nhật Vượng-tỷ phú giàu nhất Việt Nam hiện nay, …..
- Tuy vậy, n cạnh những mặt tích cực thì vẫn tồn tại những mặt khó khăn. Sự chênh
lệch giữa số lượng DNTN đăngkinh doanh so với số lượng DNTN thực sự hoạt động
đã phản ảnh phần nào môi trường kinh doanh đã chứa đựng nhiều thách thức.
3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kì đổi mới
3.1 Lĩnh vực kinh tế
Trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của quốc
gia, kinh tế tư nhân luôn tồn tại. Sự khác biệt chỉ là vị trí, vai trò của khu vực tư nhân
trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, vào những năm đầu của quá trình đổi mới, sự yếu kém
của khu vực tư nhân được coi là điểm nghẽn lớn của nền kinh tế trong quá trình phát
triển.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng
6-2017), đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong
6
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền
vững với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong
tổng sản phẩm nội địa (GDP).
Trải qua hơn 30 năm hồi phục nền kinh tế, bao gồm cả kinh tế tư nhân, cho tới ngày
nay thì kinh tế tư nhân được coi là một phần không thể thiếu, thậm chí cần phải thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa, trong cơ cấu nền kinh tế. Bởi kinh tế tư nhân đã đem lại cho Việt Nam
nhiều thành tựu đáng kể.
3.1.1 Đóng góp vào GDP
Phải khẳng định rằng kinh tế nhân hiện đang đóng góp rất tích cực vào tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) với những con số vô cùng ấn tượng. Đóng góp của khu vực kinh tế
nhân vào cấu GDP những năm qua luôn mức trên 43% GDP, cao gấp khoảng 2
lần khu vực kinh tế nhà nước và cao gấp nhiều lần khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo diễn đàn KTTN lần thứ 2 (02/04/2023) tại Nội, Việt Nam hiện nay
khoảng hơn 786 nghìn doanh nghiệp nhân, chiếm 98% trong tổng số hơn 800 nghìn
doanh nghiệp; đóng góp trung bình 46,4% GDP mỗi năm trong giai đoạn 2016-2021,
riêng năm 2021 đóng góp 18,5% tổng thu ngân sách. Trong bảng xếp hạng Top 500
doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Vietnam Report công bố tháng
3/2023 thì doanh nghiệp tư nhân chiếm đại đa số, tới 82,4 %. Điều đáng chú ý là trong 3
năm trở lại đây, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân trong nhóm này khá ổn định (năm 2021: 82,8
%, năm 2022: 84%).
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vai trò của
kinh tế tư nhân trong chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Nhờ vậy, kinh tế
tư nhân không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng
trưởng kinh tế nhanh. Đặc biệt là sau Đại hội X (năm 2006), khi kinh tế tư nhân được xác
định chính thức là thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, không hạn chế về
quy mô. Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 40 – 43%
GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các
nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân, bảo đảm an sinh xã hội.
3.1.2 Mang lại hiệu quả về đầu tư tài chính
Trong giai đoạn 2010 - 2021, tỷ trọng đầu của khu vực nhân đã tăng từ 44,6%
năm 2010 lên mức 59,5% năm 2021(12). Nhờ đó, tuy đầucông được điều chỉnh giảm,
nhưng tổng đầu kết cấu hạ tầng vẫn tăng. Đặc biệt, trong giai đoạn 2010 - 2022, một
loạt công trình hạ tầng lớn do khu vực kinh tế nhân đảm nhận, đã được khởi công,
hoàn thành và đưa vào vận hành.
7
Trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả với những dự án lớn
đang bị thua lỗ thì vị trí, vai trò của kinh tế nhân ngày càng được đánh giá tích cực
hơn. Đầu tài chính của nhiều doanh nghiệp nhà nước đạt hiệu quả thấp. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh kém, gây ra những hậu quả kinh tế lớn. Một số doanh nghiệp nhà nước
chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động
lực phát triển đối với nền kinh tế.
Vấn đề hiệu quả đầu tư tài chính của kinh tế tư nhân là sự thất bại hoặc kém hiệu quả
của khu vực kinh tế nhà nước. nhiều dự án chậm tiến độ dẫn đến bội vốn cao, điển
hình như dự án đường sắt trên cao Cát LinhĐông chậm tiến độ nhiều năm dẫn đến
bội vốn lên tới 10 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, đối với các dự án của khu vực kinh tế
nhân như đường trên cao đường Trường Chinh dự án của khu vực nhân, Tập đoàn
VinGroup đã hoàn thành với tiến độ rất nhanh và được đánh giá hiệu quả hơn với kinh tế
nhà nước.
Năm 2019, hiệu quả sử dụng vốn đầu của khu vực kinh tế tư nhân cao hơn 1,2 lần
so với mức bình quân của nền kinh tế hơn 1,9 lần so với khu vực nhà nước. Vai trò
của kinh tế nhân càng trở nên quan trọng hơn khi khoa học công nghệ đã
đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đóng góp của khu vực kinh tế nhân trong
cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43%GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP).
3.2 Lĩnh vực xã hội
Kinh tế nhân đóng góp quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới trao
quyền cho phụ nữ thông qua tạo cơ hội việc làm nguồn thu nhập cho lao động nữ. Số
lao động nữ làm việc trong doanh nghiệp tư nhân chiếm gần 50% số lao động nữ làm việc
trong các loại hình doanh nghiệp. Không chỉ tạo việc làm, thu nhập, nhiều doanh nghiệp
do phụ nữ làm chủ đã vươn tầm khu vực quốc tế với hàng chục lượt nữ doanh nhân
Việt Nam lọt vào danh sách “TOP 50 doanh nhân quyền lực châu Á”, “Nữ doanh nhân
ASEAN tiêu biểu”, “Giải thưởng Nữ doanh nhân quyền lực”, “50 nhà lãnh đạo doanh
nghiệp xuất sắc đang thay đổi ngành công nghiệp và khu vực”, v.v.
Kinh tế nhân cũng đóng góp lớn vào các hoạt động an sinh hội, góp phần mở
rộng phạm vi bao phủ của an sinh xã hội, đặc biệt mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm
hội; đóng góp vào các hoạt động hội, cộng đồng, môi trường thể hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp, v.v.
Khu vực nhân mới nổi năng động của Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng
chống chịu trong đại dịch COVID-19, giúp Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia
đạt được tăng trưởng dương trong năm 2020,” Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết. Kinh tế nhân đang dẫn dắt và đóng vai trò
8
chủ chốt trong các hoạt động ủng hộ Chính phủ và các địa phương chống dịch. Sau gần 2
năm dịch bệnh tấn công nước ta( kể từ năm 2019), Sân bay Vân Đồn của Sun Group đã
đón hơn 200 chuyến bay giải cứu, đưa hơn 40.000 người Việt hồi hương chuyên gia
nước ngoài đến Việt Nam làm việc. Khối doanh nghiệp nhân ủng hộ nhiều nhất
Vingroup với 2.287 tỉ đồng, tiếp đó Vạn Thịnh Phát (2000 tỷ đồng) thứ 3 Sun
Group (510 tỷ đồng). Số liệu được tính đến ngày 24/6/2021. Còn thực tế, tính đến
12/7/2021, con số đóng góp cho phòng chống dịch Covid-19 của Sun Group đã lên tới
621 tỷ đồng. Theo công bố của Bộ Tài chính năm 2021, nguồn tiền để dành mua vắc-xin
đã khoảng 22.000 tỷ đồng. Hơn 8.000 tỷ đồng trong số đó do người dân, doanh
nghiệp đóng góp nhiều nhất vẫn khối doanh nghiệp nhân với những cái tên như
Sun Group, Vingroup, Vạn Thịnh Phát… Những con số đó đủ để minh chứng cho vai trò
“xung kích” của những doanh nghiệp “sếu đầu đàn”, trong cả sự phát triển cũng như hành
trình vượt khó của đất nước ở giai đoạn dịch bệnh.
4. Liên hệ thực tiễn
Dù kinh tế tư nhân đang dần trở thành một thành phần không thể thiếu trong nền kinh
tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, nhưng trên thực tế hiện nay, khu vực này vẫn
còn nhiều khó khăn về cơ chế, chính sách cũng như năng lực nội tại của chính các doanh
nghiệp. Để kinh tế nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đúng đắn lành mạnh hơn,
đóng góp lớn hơn cho sự phát triển kinh tế -hội, thực sự trở thành một động lực quan
trọng của nền kinh tế, cần triển khai thực hiện tốt những giải pháp sau:
Một là, thay đổi nhận thức về kinh tế tư nhân.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua, có thể khẳng định, “kinh
tế nhân một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ
nghĩa”, do đó cần nâng cao nhận thức, hiểu đúng chủ trương khuyến khích phát triển kinh
tế nhân của Đảng vấn đề chiến lược, nhất quán, lâu dài trong phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự vận dụng đúng đắn quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta.
Đồng thời, cần thống nhất nhận thức rằng, sự ghi nhận khẳng định đóng góp của
kinh tế nhân quan trọng thế nào đối với phát triển kinh tế, hội nước ta hiện
nay, không phải là căn cứ để “lấy kinh tế tư nhân làm trung tâm”, hay khẳng định kinh tế
nhân“đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tế đất nước”. Từ đó, khắc phục cả sự nghi kỵ
lẫn ảo tưởng vào sự phát triển của kinh tế tư nhân. Nêu cao tinh thần cảnh giác đấu tranh
trước âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân để cổ
xuý cho nhân hóa nền kinh tế nước ta, hòng làm chệch hướng XHCN trong sự phát
triển của đất nước.
9
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế
nhân.
Nhà nước cần đảm bảo ổn định kinh tế mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá
trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới hình tăng trưởng. Tiếp tục hoàn thiện
chế, chính sách thu hút đầu nhân vào hoạt động kinh tế nhân theo chế thị
trường. Không biến các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành chính sách bao
cấp, phục vụ "lợi ích nhóm" dưới mọi hình thức.
Nhà nước cần tập trung cải cách thể chế kinh tế một cách đồng bộ, gồm: các thể chế
kinh tế tương thích và tuân thủ các cam kết hội nhập quốc tế (điều chỉnh, hoàn thiện pháp
luật kinh tế phù hợp với các cam kết hội nhập); các thể chế phòng vệ nhằm bảo vệ lợi ích
chính đáng, giảm thiểu các tác động không thuận lợi khi thực hiện các cam kết hội nhập
(chống độc quyền, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, tiêu chuẩn công nghệ - môi trường, đối
tượng dễ tổn thương…); các thể chế hỗ trợ để tranh thủ cơ hội, lợi ích của hội nhập quốc
tế (khuyến khích cạnh tranh, sáng tạo, đổi mới công nghệ…).
Xây dựng chế như chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách về mặt bằng sản xuất,
chính sách thuế, chính sách đào tạo, tiền lương, thu nhập bảo hiểm hội... , chính
sách định hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế tư nhân, mà trọng tâm là Luật Quốc
phòng, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Pháp luật dân quân tự vệ… để tạo hành lang
pháp lý ổn định cho các chủ thể sản xuất kinh doanh hoạt động. Trong đó, phải có những
chế tài quy định nghĩa vụ quyền lợi của các chủ doanh nghiệp nhân đối với sự
nghiệp củng cố quốc phòng; tăng cường việc giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp trốn
tránh nghĩa vụ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Không chỉ vậy, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
trong những ngành, lĩnh vực pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế - hội quốc gia. Đẩy mạnh hội hóa, tạo điều kiện cho kinh tế nhân tham
gia cung cấp dịch vụ công, tham gia vào quá trình hôŠi nhâ Šp kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế
nhân tiếp Šn, khai thác các Ši trong hội nhâ Šp quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy
mạnh đầu tư và thương mại quốc tế. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao
năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Ba là, hỗ trợ kinh tế nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế nhân đầu vào các hoạt động nghiên cứu phát
triển. Chuyển giao công nghệ tiên tiến. Bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí
tuệ. Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo ứng dụng công nghệ. Áp dụng chính
10
sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên
cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát
triển nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đặc biệt đào tạo nghề,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng chất lượng
nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh
nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị
trường. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng chuyên sâu và phát triển đội ngũ
doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý hiện đại, đạo đức kinh doanh và
tinh thần trách nhiệm cao.
Bốn là, nâng cao hiệu quả quản nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức
chính trị xã hội.
Cần nâng cao năng lực xây dựng tổ chức thực hiện hiệu quả pháp luật, chính
sách, tạo môi trường đầu kinh doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế nhân phát triển
lành mạnh, đúng định hướng.
Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách phù hợp cho kinh tế tư nhân phát triển toàn
diện, góp phần quan trọng chấn hưng đất nước. Song, trong thực tế, vẫn còn nhiều vướng
mắc, phiền về thủ tục hành chính, như cách tính thuế, xác định khung giá đất đầu tư,
hàng hóa thông quan xuất, nhập khẩu, đấu thầu xây dựng, hợp đồng, thẩm định, nghiệm
thu các hạng mục công trình. Nhiều doanh nghiệp than phiền về thủ tục phí bôi trơn
(tham nhũng vặt). Do đó, cần đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử các thủ tục hành
chính thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, giải quyết tranh chấp,
Ngoài ra, trong sản xuất, kinh doanh, đa số doanh nghiệp nhân đều chạy theo lợi
nhuận tối đa, do đó, người đứng đầu dễ vi phạm về vệ sinh an toàn lao động, vệ sinh thực
phẩm, phòng, chống cháy nổ, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, xả thải gây ô
nhiễm môi trường; hối lộ để được cán bộquan nhà nước bảo kê, trốn thuế, trốn đóng
bảo hiểm cho người lao động… vậy, Nhà nước phải tăng cường hiệu quả công tác
giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương các cấp đối với
việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế
nhân, chế tài quy định riêng cho kinh tế nhân, người đứng đầu phải chịu trách
nhiệm cho các hoạt động của doanh nghiệp trước pháp luật.
Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - hội trong phát triển kinh tế
tư nhân. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tích cực phối
hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh
doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho doanh nghiệp tư nhân.
11
PHẦN KẾT LUẬN
Sự phát triển của kinh tế nhân thời gian qua đã khởi dậy một bộ phận tiềm năng
của đất nước cho phát triển kinh tế- hội. Nguồn tiềm năng này bao gồm trí tuệ, kinh
nghiệm năng lực quản lý, khả năng kinh doanh, quan hệ xã hội, tiền vốn, sức lao động, tài
nguyên.... Phát triển kinh tế nhân đã góp phần xây dựng sở vật chất kỹ thuật, góp
phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Kinh tế nhân đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP huy động nguồn vốn
trong xã hội đầuvào sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm góp phần cải thiện
đời sống nhân dân, tăng thu nhập ngân sách cho nhà nước. Tham gia sản xuất nhiều hàng
xuất khẩu có tác động tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế kinh
tế-xã hội. Tuy nhiên kinh tế tư nhân còn ở trình độ thấp của sự phát triển, chủ yếu là loại
hình kinh tế thể, loại hình kinh tế doanh nghiệp nhân gần đây tuy phát triển nhưng
chủ yếu vẫn ba quy nhỏ. Do vậy, Đảng nhà nước cần sự quan tâm, nhiều
chính sách đối với loại hình kinh tế này. Bởi kinh tế tư nhân đòn bẩy tăng trưởng kinh
tế.
một nhà kinh tế tương lai chúng ta phải nhìn nhận một cách đúng đắn về vấn đề
này, nắm được các chủ chương chính sách của Đảng nhà nước để sauy thể vận
dụng vào thực tế hoạt động. như vậy thì khu vực kinh tế nhân sẽ phát triển không
ngừng trong tương lai Việt Nam sẽ nhanh chóng trở thành đất nước nền kinh tế
phát triển mạnh.
12

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: Vai trò của kinh tế tư nhân thời kì đổi mới GVHD: Trần Thị Mai Nhóm: 7
Sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Thị Hải Yến 25A4011014 6. Lê Thị Hồng Nhung 25A4022186
2. Nguyễn Anh Thơ 25A4010700 7. Nguyễn Thị Hương 25A4021083
3. Nguyễn Thanh Trúc 25A4010995 8. Hoàng Thanh Mai 25A4031244
4. Nguyễn Quang Minh 25A4010089 9. Trần Thị Huyền Trang 25A4051663
5. Phan Thanh Bình 25A4011325 10. Phạm Thị Thu 25A4020208 Mã LHP: 23PLT10A19
Hà Nội, ngày 01/11/2023 1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG....................................................................................................................................3 1.
Tìm hiểu chung về kinh tế tư nhân...............................................................................................3 2.
Thực tiễn nền kinh tế tư nhân Việt Nam thời kì đổi mới............................................................4 2.1
Nhận thức của Đảng và Nhà nước...........................................................................................4 2.2
Sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam...............................................................................5 3.
Vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kì đổi mới.......................................................................6
3.1 Lĩnh vực kinh tế.............................................................................................................................6
3.2 Lĩnh vực xã hội..............................................................................................................................7 4.
Liên hệ thực tiễn............................................................................................................................8
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................................................11 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với mọi quốc gia, khu vực kinh tế tư nhân có vai trò hết sức quan trọng trong
phát triển kinh tế đất nước. Đối với nước ta, mặc dù quá trình phát triển trải qua nhiều
thăng trầm song bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế tư nhân khăng định là một bộ phận cấu
thành, có vị trí quá trình lâu dài của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong xu
thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới đã và đang đặt
ra những cơ hội cũng như những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.Việt Nam đã
và đang có những bước tiến vững chắc trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập cùng thế giới bằng việc phát huy nội lực đồng thời tranh
thủ các nguồn lực bên ngoài thông qua việc phát huy sức mạnh của các thành phần kinh
tế.Trong đó phải kể đến sự đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân trong
việc phát triển nền kinh tế. Hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương khóa IX khẳng
định: “kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc
dân.Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều
thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa
”. Vậy trong việc phát triển kinh tế Việt Nam
thành phần kinh tế tư nhân đã có vai trò như thế nào? Hay tại sao Việt Nam lại phải phát
triển kinh tế tư nhân trong khi chúng ta muốn hướng tới một xã hội XHCN nơi sở hữu tư
liệu sản xuất là của tập thể. Việc xác định đúng vai trò của kinh tế tư nhân và con đường
đúng đắn cho sự phát triển của thành phần kinh tế này là việc làm cấp thiết hiện nay, bởi
vì hiện nay toàn cầu hóa là một xu thế phát triển tất yếu trong tiến trình phát triển của
nhân loại, chúng ta không muốn bị cuốn vào vòng xoáy đó một cách thụ động thì chúng
ta phải biết phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế
tư nhân - mắt xích quan trọng trong việc nối kết nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền
kinh tế thị trường thế giới. 3 PHẦN NỘI DUNG
1. Tìm hiểu chung về kinh tế tư nhân
- Khái niệm kinh tế tư nhân:
Kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển khá lâu trong lịch sử, nhưng đến
nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau về kinh tế tư nhân. Dựa trên căn cứ khoa
học, lý luận và thực tiễn, có thể hiểu kinh tế tư nhân ở một số góc độ sau:
Xét ở góc độ kinh tế học, kinh tế tư nhân là bộ phận kinh tế trong hệ thống cơ cấu
kinh tế của một quốc gia được hình thành và phát triển dựa trên sở hữu của tư nhân về
TLSX cũng như lợi ích cá nhân.
Xét ở góc độ môn học Kinh tế chính trị, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế trong hệ
thống cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội, dựa
trên các chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân. - Phân loại:
Kinh tế cả thể tiểu chủ: dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về TLSX và lao động của
bản thân người lao động. Kinh tế cá thể tiểu chủ có vị trí rất quan trọng trong nhiều
ngành nghề có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao
động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản
xuất, kinh doanh của kinh tế cả thể, tiểu chủ được Nhà nước khuyến khích phát triển.
Kinh tế tư bản tư nhân: dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX.
Kinh tế tư bản tư nhân có vai trò đáng kể trong việc phát triển kinh tế thị trưởng,
giải quyết việc làm cho người lao động, có những đóng góp không nhỏ vào tăng
trưởng nền kinh tế cả nước.
Dù hoạt động dưới bất kì mô hình nào thì KTTN cũng quy về hình thức hộ kinh
doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân. Điểm chung của mọi loại hình
kinh doanh này phần lớn đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
VD: các hộ gia đình, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần, ….
2. Thực tiễn nền kinh tế tư nhân Việt Nam thời kì đổi mới
2.1 Nhận thức của Đảng và Nhà nước
Trong thực tế xây dựng đất nước, trước năm 1986, do điều kiện lịch sử, KTTN
không có một quá trình phát triển xuyên suốt và gần như không được thừa nhận về sự tồn
tại của mình. Dẫu vậy, quá trình hoạt động của kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ trong suốt thời
bao cấp vẫn là một minh chứng cho “ năng lực nội sinh” bền bỉ của KTTN. 4
Thực hiện đường lối đổi mới, kể từ sau năm 1986, thành phần KTTN đã được công
khai thừa nhận. Đây là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự đổi mới trong tư duy kinh
tế của Đảng. Cụ thể là:
- Nghị quyết Hội nghị lần 6 của BCH Trung ương VI (1989) lần đầu đưa ra khái niệm
KTTN và khẳng định “ Trong điều kiện của nước ta, các hình thức KTTN vẫn cần thiết
lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên CNXH”.
=> Nền tảng tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh
nghiệp tư nhân. Minh chứng là vào năm 1999, khi Luật Doanh nghiệp được ban hành đã
dẫn đến sự phát triển bùng nổ các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam.
- Hội nghị trung ương 5 khóa IX (3/2002): KTTN là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong việc
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN.
=> Như vậy, có thể thấy sự tồn tại và phát triển thành phần KTTN ở nước ta như
quan điểm của Đảng nhận định là một lẽ tất yếu trong thời kì quá độ lên CNXH. Bởi lẽ
trong thời kì quá độ lên CNXH, nước ta còn nhiều tàn dư của một nước thuộc địa nửa
phong kiến, hậu chiến tranh kéo dài với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu; vì vậy
trên thực tế sẽ có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng, các ngành, trong nội bộ từng vùng
về tính chất cũng như trình độ của LLSX. Đồng thời, thành phần kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể chưa đủ khả năng mạnh mẽ trong việc đáp ứng được nhu cầu của toàn xã hội.
Mà thành phần KTTN lại làm được điều này khi giải quyết được vấn đề việc làm tạo ra
nguồn thu nhập cho người lao động, khai thác được tiềm năng về sức người sức của để
xây dựng và phát triển đất nước.
2.2 Sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam
- Tiềm năng phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam là rất lớn, được khai thác một cách
tích cực. Điều này được phản ánh thông qua những con số cụ thể sau đây. Ta có thể thấy
số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng kí thành lập từ năm 2011 đến 2017 tăng lên 1 cách
chóng mặt. Bằng chứng rõ ràng nhất là sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng doanh
nghiệp Công nghiệp tư nhân, đạt hơn 110.000 doanh nghiệp (thống kê năm 2016). 5
- Đặc biệt hơn, thương hiệu của các doanh nghiệp tư nhân không chỉ dừng lại ở trong
nước mà còn lan rộng ra nước ngoài với những tên tuổi nổi tiếng như: VinGroup, VNM,
FPT, DOJI, Hòa Phát, Masan, Sungroup, Thaco, …. Độ phủ sóng của kinh tế tư nhân ở
nhiều lĩnh vực càng cho thấy sự phát triển đa dạng của mình.
-Nhìn vào đó ta cũng thấy được nước ta xuất hiện đội ngũ doanh nhân tài năng, tiêu biểu
như: Doanh nhân Phạm Nhật Vượng-tỷ phú giàu nhất Việt Nam hiện nay, …..
- Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn tồn tại những mặt khó khăn. Sự chênh
lệch giữa số lượng DNTN đăng ký kinh doanh so với số lượng DNTN thực sự hoạt động
đã phản ảnh phần nào môi trường kinh doanh đã chứa đựng nhiều thách thức.
3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kì đổi mới
3.1 Lĩnh vực kinh tế
Trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của quốc
gia, kinh tế tư nhân luôn tồn tại. Sự khác biệt chỉ là vị trí, vai trò của khu vực tư nhân
trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, vào những năm đầu của quá trình đổi mới, sự yếu kém
của khu vực tư nhân được coi là điểm nghẽn lớn của nền kinh tế trong quá trình phát triển.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng
6-2017), đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong 6
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền
vững với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong
tổng sản phẩm nội địa (GDP).
Trải qua hơn 30 năm hồi phục nền kinh tế, bao gồm cả kinh tế tư nhân, cho tới ngày
nay thì kinh tế tư nhân được coi là một phần không thể thiếu, thậm chí cần phải thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa, trong cơ cấu nền kinh tế. Bởi kinh tế tư nhân đã đem lại cho Việt Nam
nhiều thành tựu đáng kể.
3.1.1 Đóng góp vào GDP
Phải khẳng định rằng kinh tế tư nhân hiện đang đóng góp rất tích cực vào tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) với những con số vô cùng ấn tượng. Đóng góp của khu vực kinh tế
tư nhân vào cơ cấu GDP những năm qua luôn ở mức trên 43% GDP, cao gấp khoảng 2
lần khu vực kinh tế nhà nước và cao gấp nhiều lần khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo diễn đàn KTTN lần thứ 2 (02/04/2023) tại Hà Nội, Việt Nam hiện nay có
khoảng hơn 786 nghìn doanh nghiệp tư nhân, chiếm 98% trong tổng số hơn 800 nghìn
doanh nghiệp; đóng góp trung bình 46,4% GDP mỗi năm trong giai đoạn 2016-2021,
riêng năm 2021 đóng góp 18,5% tổng thu ngân sách. Trong bảng xếp hạng Top 500
doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Vietnam Report công bố tháng
3/2023 thì doanh nghiệp tư nhân chiếm đại đa số, tới 82,4 %. Điều đáng chú ý là trong 3
năm trở lại đây, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân trong nhóm này khá ổn định (năm 2021: 82,8 %, năm 2022: 84%).
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vai trò của
kinh tế tư nhân trong chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Nhờ vậy, kinh tế
tư nhân không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng
trưởng kinh tế nhanh. Đặc biệt là sau Đại hội X (năm 2006), khi kinh tế tư nhân được xác
định chính thức là thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, không hạn chế về
quy mô. Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 40 – 43%
GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các
nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân, bảo đảm an sinh xã hội.
3.1.2 Mang lại hiệu quả về đầu tư tài chính
Trong giai đoạn 2010 - 2021, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân đã tăng từ 44,6%
năm 2010 lên mức 59,5% năm 2021(12). Nhờ đó, tuy đầu tư công được điều chỉnh giảm,
nhưng tổng đầu tư kết cấu hạ tầng vẫn tăng. Đặc biệt, trong giai đoạn 2010 - 2022, một
loạt công trình hạ tầng lớn do khu vực kinh tế tư nhân đảm nhận, đã được khởi công,
hoàn thành và đưa vào vận hành. 7
Trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả với những dự án lớn
đang bị thua lỗ thì vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được đánh giá tích cực
hơn. Đầu tư tài chính của nhiều doanh nghiệp nhà nước đạt hiệu quả thấp. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh kém, gây ra những hậu quả kinh tế lớn. Một số doanh nghiệp nhà nước
chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động
lực phát triển đối với nền kinh tế.
Vấn đề hiệu quả đầu tư tài chính của kinh tế tư nhân là sự thất bại hoặc kém hiệu quả
của khu vực kinh tế nhà nước. Có nhiều dự án chậm tiến độ dẫn đến bội vốn cao, điển
hình như dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông chậm tiến độ nhiều năm dẫn đến
bội vốn lên tới 10 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, đối với các dự án của khu vực kinh tế tư
nhân như đường trên cao đường Trường Chinh – dự án của khu vực tư nhân, Tập đoàn
VinGroup đã hoàn thành với tiến độ rất nhanh và được đánh giá hiệu quả hơn với kinh tế nhà nước.
Năm 2019, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân cao hơn 1,2 lần
so với mức bình quân của nền kinh tế và hơn 1,9 lần so với khu vực nhà nước. Vai trò
của kinh tế tư nhân càng trở nên quan trọng hơn khi mà khoa học và công nghệ đã và
đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong
cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43%GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP).
3.2 Lĩnh vực xã hội
Kinh tế tư nhân đóng góp quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới và trao
quyền cho phụ nữ thông qua tạo cơ hội việc làm và nguồn thu nhập cho lao động nữ. Số
lao động nữ làm việc trong doanh nghiệp tư nhân chiếm gần 50% số lao động nữ làm việc
trong các loại hình doanh nghiệp. Không chỉ tạo việc làm, thu nhập, nhiều doanh nghiệp
do phụ nữ làm chủ đã vươn tầm khu vực và quốc tế với hàng chục lượt nữ doanh nhân
Việt Nam lọt vào danh sách “TOP 50 doanh nhân quyền lực châu Á”, “Nữ doanh nhân
ASEAN tiêu biểu”, “Giải thưởng Nữ doanh nhân quyền lực”, “50 nhà lãnh đạo doanh
nghiệp xuất sắc đang thay đổi ngành công nghiệp và khu vực”, v.v.
Kinh tế tư nhân cũng đóng góp lớn vào các hoạt động an sinh xã hội, góp phần mở
rộng phạm vi bao phủ của an sinh xã hội, đặc biệt mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội; đóng góp vào các hoạt động xã hội, cộng đồng, môi trường thể hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp, v.v.
Khu vực tư nhân mới nổi và năng động của Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng
chống chịu trong đại dịch COVID-19, giúp Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia
đạt được tăng trưởng dương trong năm 2020,” bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết. Kinh tế tư nhân đang dẫn dắt và đóng vai trò 8
chủ chốt trong các hoạt động ủng hộ Chính phủ và các địa phương chống dịch. Sau gần 2
năm dịch bệnh tấn công nước ta( kể từ năm 2019), Sân bay Vân Đồn của Sun Group đã
đón hơn 200 chuyến bay giải cứu, đưa hơn 40.000 người Việt hồi hương và chuyên gia
nước ngoài đến Việt Nam làm việc. Khối doanh nghiệp tư nhân ủng hộ nhiều nhất là
Vingroup với 2.287 tỉ đồng, tiếp đó là Vạn Thịnh Phát (2000 tỷ đồng) và thứ 3 là Sun
Group (510 tỷ đồng). Số liệu được tính đến ngày 24/6/2021. Còn thực tế, tính đến
12/7/2021, con số đóng góp cho phòng chống dịch Covid-19 của Sun Group đã lên tới
621 tỷ đồng. Theo công bố của Bộ Tài chính năm 2021, nguồn tiền để dành mua vắc-xin
đã có khoảng 22.000 tỷ đồng. Hơn 8.000 tỷ đồng trong số đó là do người dân, doanh
nghiệp đóng góp và nhiều nhất vẫn là khối doanh nghiệp tư nhân với những cái tên như
Sun Group, Vingroup, Vạn Thịnh Phát… Những con số đó đủ để minh chứng cho vai trò
“xung kích” của những doanh nghiệp “sếu đầu đàn”, trong cả sự phát triển cũng như hành
trình vượt khó của đất nước ở giai đoạn dịch bệnh.
4. Liên hệ thực tiễn
Dù kinh tế tư nhân đang dần trở thành một thành phần không thể thiếu trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng trên thực tế hiện nay, khu vực này vẫn
còn nhiều khó khăn về cơ chế, chính sách cũng như năng lực nội tại của chính các doanh
nghiệp. Để kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đúng đắn và lành mạnh hơn,
đóng góp lớn hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thực sự trở thành một động lực quan
trọng của nền kinh tế, cần triển khai thực hiện tốt những giải pháp sau:
Một là, thay đổi nhận thức về kinh tế tư nhân.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua, có thể khẳng định, “kinh
tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”, do đó cần nâng cao nhận thức, hiểu đúng chủ trương khuyến khích phát triển kinh
tế tư nhân của Đảng là vấn đề chiến lược, nhất quán, lâu dài trong phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự vận dụng đúng đắn quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta.
Đồng thời, cần thống nhất nhận thức rằng, sự ghi nhận và khẳng định đóng góp của
kinh tế tư nhân dù quan trọng thế nào đối với phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta hiện
nay, không phải là căn cứ để “lấy kinh tế tư nhân làm trung tâm”, hay khẳng định kinh tế
tư nhân“đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tế đất nước”. Từ đó, khắc phục cả sự nghi kỵ
lẫn ảo tưởng vào sự phát triển của kinh tế tư nhân. Nêu cao tinh thần cảnh giác đấu tranh
trước âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân để cổ
xuý cho tư nhân hóa nền kinh tế nước ta, hòng làm chệch hướng XHCN trong sự phát triển của đất nước. 9
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân.
Nhà nước cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá
trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tiếp tục hoàn thiện cơ
chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hoạt động kinh tế tư nhân theo cơ chế thị
trường. Không biến các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành chính sách bao
cấp, phục vụ "lợi ích nhóm" dưới mọi hình thức.
Nhà nước cần tập trung cải cách thể chế kinh tế một cách đồng bộ, gồm: các thể chế
kinh tế tương thích và tuân thủ các cam kết hội nhập quốc tế (điều chỉnh, hoàn thiện pháp
luật kinh tế phù hợp với các cam kết hội nhập); các thể chế phòng vệ nhằm bảo vệ lợi ích
chính đáng, giảm thiểu các tác động không thuận lợi khi thực hiện các cam kết hội nhập
(chống độc quyền, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, tiêu chuẩn công nghệ - môi trường, đối
tượng dễ tổn thương…); các thể chế hỗ trợ để tranh thủ cơ hội, lợi ích của hội nhập quốc
tế (khuyến khích cạnh tranh, sáng tạo, đổi mới công nghệ…).
Xây dựng cơ chế như chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách về mặt bằng sản xuất,
chính sách thuế, chính sách đào tạo, tiền lương, thu nhập và bảo hiểm xã hội... , chính
sách định hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế tư nhân, mà trọng tâm là Luật Quốc
phòng, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Pháp luật dân quân tự vệ… để tạo hành lang
pháp lý ổn định cho các chủ thể sản xuất kinh doanh hoạt động. Trong đó, phải có những
chế tài quy định rõ nghĩa vụ và quyền lợi của các chủ doanh nghiệp tư nhân đối với sự
nghiệp củng cố quốc phòng; tăng cường việc giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp trốn
tránh nghĩa vụ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Không chỉ vậy, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham
gia cung cấp dịch vụ công, tham gia vào quá trình hô Ši nhâ Šp kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế
tư nhân tiếp câ Šn, khai thác các cơ hô Ši trong hội nhâ Šp quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy
mạnh đầu tư và thương mại quốc tế. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao
năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Ba là, hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát
triển. Chuyển giao công nghệ tiên tiến. Bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí
tuệ. Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Áp dụng chính 10
sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên
cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát
triển nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng
nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh
nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị
trường. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng chuyên sâu và phát triển đội ngũ
doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý hiện đại, đạo đức kinh doanh và
tinh thần trách nhiệm cao.
Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức
chính trị xã hội.
Cần nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật, chính
sách, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế tư nhân phát triển
lành mạnh, đúng định hướng.
Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách phù hợp cho kinh tế tư nhân phát triển toàn
diện, góp phần quan trọng chấn hưng đất nước. Song, trong thực tế, vẫn còn nhiều vướng
mắc, phiền hà về thủ tục hành chính, như cách tính thuế, xác định khung giá đất đầu tư,
hàng hóa thông quan xuất, nhập khẩu, đấu thầu xây dựng, hợp đồng, thẩm định, nghiệm
thu các hạng mục công trình. Nhiều doanh nghiệp than phiền về thủ tục và phí bôi trơn
(tham nhũng vặt). Do đó, cần đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành
chính thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, giải quyết tranh chấp, …
Ngoài ra, trong sản xuất, kinh doanh, đa số doanh nghiệp tư nhân đều chạy theo lợi
nhuận tối đa, do đó, người đứng đầu dễ vi phạm về vệ sinh an toàn lao động, vệ sinh thực
phẩm, phòng, chống cháy nổ, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, xả thải gây ô
nhiễm môi trường; hối lộ để được cán bộ cơ quan nhà nước bảo kê, trốn thuế, trốn đóng
bảo hiểm cho người lao động… Vì vậy, Nhà nước phải tăng cường hiệu quả công tác
giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương các cấp đối với
việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư
nhân, có chế tài quy định riêng cho kinh tế tư nhân, người đứng đầu phải chịu trách
nhiệm cho các hoạt động của doanh nghiệp trước pháp luật.
Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển kinh tế
tư nhân. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tích cực phối
hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh
doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho doanh nghiệp tư nhân. 11 PHẦN KẾT LUẬN
Sự phát triển của kinh tế tư nhân thời gian qua đã khởi dậy một bộ phận tiềm năng
của đất nước cho phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn tiềm năng này bao gồm trí tuệ, kinh
nghiệm năng lực quản lý, khả năng kinh doanh, quan hệ xã hội, tiền vốn, sức lao động, tài
nguyên.... Phát triển kinh tế tư nhân đã góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, góp
phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP huy động nguồn vốn
trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm góp phần cải thiện
đời sống nhân dân, tăng thu nhập ngân sách cho nhà nước. Tham gia sản xuất nhiều hàng
xuất khẩu có tác động tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế kinh
tế-xã hội. Tuy nhiên kinh tế tư nhân còn ở trình độ thấp của sự phát triển, chủ yếu là loại
hình kinh tế cá thể, loại hình kinh tế doanh nghiệp tư nhân gần đây tuy phát triển nhưng
chủ yếu vẫn ba quy mô nhỏ. Do vậy, Đảng và nhà nước cần có sự quan tâm, có nhiều
chính sách đối với loại hình kinh tế này. Bởi kinh tế tư nhân là đòn bẩy tăng trưởng kinh tế.
Là một nhà kinh tế tương lai chúng ta phải nhìn nhận một cách đúng đắn về vấn đề
này, nắm được các chủ chương chính sách của Đảng và nhà nước để sau này có thể vận
dụng vào thực tế hoạt động. Có như vậy thì khu vực kinh tế tư nhân sẽ phát triển không
ngừng trong tương lai và Việt Nam sẽ nhanh chóng trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển mạnh. 12