



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954 NHÓM 4
Hà Nội – 9/2025
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hạnh
Danh sách thành viên Nhữ Thị Lâm Anh 27A402338 K27KTB Nhóm trưởng 1 Lê Phương Anh 27A402337 K27KTB Thành viên 8 Lương Thị Mai Lan 27A402342 K27KTB Thành viên 0 Bùi Thị Yến Nhi 27A402345 K27KTB Thành viên 5 Trần Thị Yến Nhi 27A402345 K27KTB Thành viên 6 Đặng Huyền Trang 27A402348 K27KTB Thành viên 3
Hà Nội – 9/2025 LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung trong dự án này được thực hiện dựa
trên sự tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp thông tin từ các nguồn đáng tin cậy của cá
nhân/tập thể. Các số liệu và nội dung trong tài liệu hoàn toàn trung thực, không sao chép
dưới bất kỳ hình thức nào vi phạm bản quyền. Mọi trích dẫn từ nguồn tài liệu khác đã
được ghi rõ nhằm đảm bảo tính minh bạch và chính xác. Chúng em xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm trước pháp luật và nhà trường về tính trung thực và chính xác của dự án này.
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản anh hùng ca bất tận về tinh thần yêu nước, ý chí
quật cường và khát vọng độc lập, tự do. Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, dân
tộc ta đã nhiều lần đứng lên chống lại các thế lực xâm lược hùng mạnh, và mỗi chiến
thắng đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc cũng như trong tâm thức nhân loại.
Trong số đó, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 không chỉ là một mốc son chói lọi
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn là biểu tượng tiêu biểu cho trí tuệ,
bản lĩnh và sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé dám đứng lên thách thức các cường quốc lớn.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là cuộc đối đầu lịch sử giữa một bên là quân đội viễn
chinh Pháp được trang bị hiện đại, có sự hậu thuẫn của Mỹ, và một bên là Quân đội Nhân
dân Việt Nam còn non trẻ về trang bị nhưng giàu lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu đến
cùng vì độc lập dân tộc. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là với tài thao lược quân sự kiệt xuất của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp – người được mệnh danh là “vị tướng huyền thoại của thế kỷ XX” – chiến
dịch đã đi đến thắng lợi hoàn toàn sau 56 ngày đêm chiến đấu ác liệt. Sự sụp đổ của tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không chỉ chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ của thực dân
Pháp trên đất nước ta, mà còn góp phần quan trọng vào sự ra đời của Hiệp định Genève,
mở ra con đường giải phóng hoàn toàn dân tộc.
Chiến thắng ấy không chỉ làm rạng danh dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, mà
còn trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới. MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................... 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH................................................................................................4
CHƯƠNG I: ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI....
CHƯƠNG II: LÝ DO NAVARRE CHỌN ĐIỆN BIÊN PHỦ LÀM CỨ ĐIỂM. TƯ
DUY CỦA NAVARRE VÀ CÁCH TÍNH TOÁN CỦA NGƯỜI PHÁP........................9 I.
Lý do Navarre chọn Điện Biên Phủ làm cứ điểm.................................................9
II. Tư duy của Navarre và cách tính toán của người Pháp....................................11
1. Kế hoạch Navarre. Tư duy và cách tính toán..................................................11
2. Tư duy chiến lược của Navarre........................................................................12
3. Tính toán của Navarre.....................................................................................14
CHƯƠNG III: KẾ HOẠCH ĐÁP TRẢ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP...1 I.
Tương quan lực lượng........................................................................................16
II. Màn đấu trí căng não và cách Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh trả Kế hoạch
Navarre........................................................................................................................ 19
1. Bối cảnh lịch sử................................................................................................19
2. Những chuẩn bị của Việt Nam.........................................................................21
3. Diễn biến chiến dịch.........................................................................................24 a.
Đợt 1..........................................................................................................25 b.
Đợt 2..........................................................................................................26 c.
Kết thúc chiến dịch....................................................................................30
CHƯƠNG IV: NHỮNG KỲ TÍCH LÀM NÊN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
LỊCH SỬ VÀ TỔNG KẾT CHIẾN DỊCH...................................................................37 I.
Những kỳ tích làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử..............................37
II. Ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ...................................................................37 III.
Tổng kết chiến dịch..........................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................42
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. Chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp................................................................6
Hình 2. Võ Nguyên Giáp (trái ngoài cùng) tại lễ xuất phát của Việt Nam Giải phóng quân
về đánh Thái Nguyên ngày 16/8/1945................................................................................7
Hình 3. Chân dung tướng Henri Navarre...........................................................................9
Hình 4. Khu di tích chiến dịch Điện Biên Phủ.................................................................10
Hình 5. Thung lũng Mường Thanh, Điện Biên Phủ trước khi Pháp đổ bộ.......................10
Hình 6. Cục diện chiến trường Bắc Bộ đến đầu năm 1953 (vùng đỏ là vùng kiểm soát của
ta, vùng xanh là vùng chiếm đóng của Pháp)...................................................................11
Hình 7. Máy bay không quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ...............................13
Hình 8. Quân Pháp nỗ lực xây dựng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ...........................13
Hình 9. Lính nhảy dù của Pháp nhảy thả dù xuống Điện Biên Phủ..................................14
Hình 10. Khẩu sơn pháo 75mm của Đại đội 755 tham gia chiến đấu từ ngày 24/3 –
7/5/1954, phá hủy 5 pháo 105mm, 1 kho đạn của quân Pháp...........................................16
Hình 11. Pháo M101 105mm được Trung đoàn 45 sử dụng trong chiến đấu chiến dịch
Điện Biên Phủ..................................................................................................................17
Hình 12. Hình ảnh mô phỏng bộ đội ta kéo pháo cao xạ 37mm vào mặt trận Điện Biên
Phủ tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ...................................................................17
Hình 13. Xe tăng M24 Chaffee của Pháp.........................................................................18
Hình 14. So sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ 19
Hình 15. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy họp bàn kế
hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ 1954..............................................................20
Hình 16. Không quản ngày đêm, dân công chuyền tải lương thực bằng đôi chân ra mặt
trận................................................................................................................................... 22
Hình 17. Bộ đội ta kéo pháo chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ..............................23
Hình 18. Bộ đội công binh mở đường, xây dựng nghi binh, trận địa giả lừa địch............24
Hình 19. Vị trí cứ điểm Him Lam....................................................................................25
Hình 20. Những đường hào trên cứ điểm Him Lam.........................................................25
Hình 21. Đồi A1 nhìn từ trên cao.....................................................................................27
Hình 22. Di tích lịch sử đồi C1........................................................................................27
Hình 23. Khẩu ĐKZ của anh hùng Trần Đình Hùng........................................................29
Hình 24. Quân Pháp bị vây hãm trong chiến hào.............................................................30
Hình 25. Tổng hợp hình ảnh các bộ đội Việt Minh trong đợt tiến công thứ 3 của chiến
dịch Điện Biên Phủ..........................................................................................................31
Hình 26. Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ.................................................................................32
Hình 27. Sông Nậm Rốm nhìn từ trên cao.......................................................................33
Hình 28. Chiếc xe tăng của quân Pháp bị ta bắn cháy trên đồi A1...................................34
Hình 29. Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi , toàn bộ tập đoàn
cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị quân ta tiêu diệt, lá cờ “Quyết chiến, Quyết
thắng” tung bay trên nóc hầm tướng De Castries.............................................................35
Hình 30. Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ cho các cán bộ
chiến sĩ lập thành tích xuất sắc trong Chiến dịch.............................................................36
Hình 31. Xe rước ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến vào lễ đài trong Lễ kỷ niệm
70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.................................................................................40
Hình 32. Mở đầu diễn binh, diễu hành Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ là
các đội trực thăng vũ trang thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân đội
Nhân dân Việt Nam mang theo cờ Đảng, cờ Tổ quốc, tượng trưng cho lứ tưởng, niềm tin,
bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ..................41
Hình 33. Khối cựu chiến binh Việt Nam..........................................................................41
CHƯƠNG I: ĐẠI TƯỚNG VÕ
NGUYÊN GIÁP – VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI
Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 – 4/10/2013), tên
khai sinh là Võ Giáp, còn được gọi là tướng
Giáp hoặc anh Văn, là một nhà lãnh đạo quân
sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là Đại tướng
đầu tiên, Tổng Tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân
dân Việt Nam, một trong những thành viên sáng lập
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chính
phủ Việt Nam đánh giá là “người học trò xuất sắc và
gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong Chiến
tranh Đông Dương (1946–1954), Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) và Chiến tranh biên
giới Việt – Trung (1979). Xuất thân là một giáo viên dạy lịch sử, ông đã trở thành người
viết nên lịch sử vẻ vang đầy kiêu hãnh của nước nhà, ông được đánh giá là một trong
những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Hình 1. Chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập
đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người,
được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng
máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 25 tháng
12 năm 1944, ông đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai
đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, ông trở thành uỷ viên Ban chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương,
tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.
Hình 2. Võ Nguyên Giáp (trái ngoài cùng) tại lễ xuất phát của Việt Nam Giải
phóng quân về đánh Thái Nguyên ngày 16/8/1945
Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các
cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng vào
ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở
thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi. Sau này, trả lời
phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: “Đánh thắng đại
tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong
trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng”. Cùng đợt phong hàm có Nguyễn
Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng
Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử
Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 7-1948, Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam. Tháng
8 năm 1948, ông là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.
Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban
Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.
Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan
trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu
như: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang
giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương
pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh
mạng bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân.
Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao
cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã
dặn dò: “Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua
là hết vốn”. Ông lên kế hoạch và chỉ huy 5 trong 6 sư đoàn bộ binh chủ lực khi đó của
Quân đội nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn
công Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm, đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại
của Liên hiệp Pháp bị đánh bại. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của
người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm, và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế
giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một người hùng của các nước Thế giới thứ
ba đang bị thực dân châu Âu đô hộ.
Sau chiến thắng này, những người dân bị nô dịch đã xem Hồ Chí Minh và Võ
Nguyên Giáp là thần tượng để hạ quyết tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập
của riêng mình. Năm 1962, trong lời đề tựa cuốn “Đêm thực dân” (La Nuit Coloniale),
nhà lãnh đạo giải phóng dân tộc Ferhat Abbas, sau này trở thành tổng thống đầu tiên của
Algerie, đã viết: “Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng quân sự. Đó là khẳng
định của người dân châu Á và châu Phi trước người châu Âu. Đó là xác nhận về nhân
quyền quy mô toàn cầu. Tại Điện Biên Phủ, nước Pháp đã đánh mất sự hiện diện hợp lý
duy nhất, đó là lý lẽ của kẻ mạnh”. Năm 2013, Tổng thống Algérie - Abdelaziz
Bouteflika - đã gọi Võ Nguyên Giáp là người anh hùng quân đội của nền độc lập Việt
Nam, là nhà chiến lược vĩ đại đã khiến cho thực dân Pháp phải kinh hoàng ở Điện Biên
Phủ, và tên tuổi ông “sẽ vẫn mãi khắc sâu trong ký ức của nhân dân Algeria”.
Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn
trong và ngoài nước, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng
và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
CHƯƠNG II: LÝ DO NAVARRE CHỌN ĐIỆN BIÊN PHỦ LÀM
CỨ ĐIỂM. TƯ DUY CỦA NAVARRE VÀ CÁCH TÍNH TOÁN
CỦA NGƯỜI PHÁP I.
Lý do Navarre chọn Điện Biên Phủ làm cứ điểm
Sau một loạt thất bại quân sự của Pháp, Chính phủ Pháp đã 7 lần thay tổng chỉ huy
quân đội ở Đông Dương mà tình hình vẫn không được cải thiện. Quân Pháp ở trên chiến
trường đang ngày càng rơi vào thế phòng ngự bị động, chính vì thế 7/5/1953 với sự thỏa
thuận của Mỹ, Pháp đã cử tướng Henri Navarre sang Đông Dương để làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp.
Henri Navarre là Đại tướng 5
sao, lúc đó đang phụ trách nhiệm vụ
tham mưu trưởng ở cơ quan phòng
thủ OTAN (cơ quan thuộc NATO).
Navarre chưa hề bước chân tới Đông
Dương nên ban đầu Navarre đã từ
chối. Ngày 21/5/1953, Henri Navarre
đã đến Việt Nam để khảo sát tình
hình về Đông Dương đồng thời lên
kế hoạch cho cuộc chiến ở đây, và kế
hoạch ban đầu của Navarre không hề
có một chữ nào liên quan đến Điện Biên Phủ.
Hình 3. Chân dung tướng Henri Navarre
Nhìn nhận được vấn đề, Hồ Chí Minh đưa ra chiến lược để phân rã, xẻ lẻ Pháp ra.
Quân Pháp thường tập trung đông đúc và đóng quân ở vùng đồng bằng nên cứ chỗ nào
lực lượng mỏng, yếu, thưa thớt thì quân ta tập trung đánh chỗ đó, và đặc biệt ta phải cố
gắng thủ được vùng Tây Bắc giáp Trung Quốc. Việc cố thủ và giữ được vùng Tây Bắc sẽ
dễ dàng giúp ta nhận được viện trợ từ Trung Quốc hơn. Đó cũng chính là lý do mà đầu
tháng 11 tình báo của Pháp đã phát hiện ra Đại đoàn 316 của ta bắt đầu hành quân lên
Tây Bắc, Pháp đã ngay lập tức cho quân lên Lai Châu và Điện Biên để ngăn đợt tấn công
của quân ta. Đến thời điểm này thì cái tên Điện Biên Phủ mới được trở thành điểm nóng
trong chiến lược của Navarre. Pháp nhanh chóng cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ
để bảo vệ vùng Thượng Lào. Còn Điện Biên Phủ là còn Luong Prabang và đó cũng chính
là lý do mà Pháp dồn rất nhiều nguồn lực vào để xây dựng lòng chảo Điện Biên Phủ.
Hình 4. Khu di tích chiến dịch Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo nằm ở vùng Tây Bắc cách thủ đô Hà
Nội khoảng 500 km, đây được coi là chìa khóa để bảo vệ Thượng Lạo, là một bàn xoay
có thể xoay đi 4 phía: Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Myanmar. Điện Biên là một nơi vô
cùng thích hợp để trở thành một căn cứ không quân lục quân. Từ Điện Biên Phủ quân
Pháp có thể bảo vệ được Lào rồi từ đó đánh chiếm các vùng đã mất ở Tây Bắc tạo điều
kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của quân ta. Địa hình của Điện Biên Phủ là
một loại địa hình đặc biệt: bốn bề là núi, ở giữa có một dải đất bằng phẳng giống như một
thung lũng lọt thỏm giữa núi non trùng điệp. Qua đó, tướng Navarre nhận ra được rất
nhiều ưu điểm của vùng đất này: một vùng đất xung quanh là núi cao như những bức
tường thành để ngăn không cho đối phương đặt pháo vươn tầm tới lòng chảo, ngoài ra
Điện Biên còn có vùng đất rộng thích hợp cho các loại máy bay của Pháp hạ cánh. Một
địa bàn lý tưởng để xây dựng căn cứ không quân lục quân hiện đại bậc nhất Đông Dương thời bấy giờ.
Hình 5. Thung lũng Mường Thanh, Điện
Biên Phủ trước khi Pháp đổ bộ II.
Tư duy của Navarre và cách tính toán của người Pháp
1. Kế hoạch Navarre. Tư duy và cách tính toán
Navarre thấy rằng quân đội Pháp đang bị dàn trải quá mỏng và trở thành miếng mồi
ngon cho những đơn vị du kích và cơ động của Việt Minh. Vì vậy ông ta đề xuất lực
lượng thành những nắm đấm chủ lực mạnh mẽ, giải quyết từng khu vực một của Việt
Minh. Kế hoạch Navarre được chia làm hai bước:
Bước thứ nhất: Thu Đông 1953 và Xuân 1954. Giữ thế phòng ngự ở miền Bắc Việt
Nam, tập trung một lực lượng cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến
công của Việt Minh, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng 3 tỉnh
ở đồng bằng Liên khu 5, đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng Quân đội Quốc gia Việt Nam
và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của Việt Minh.
Bước thứ hai: từ Thu Đông 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu trên, sẽ dồn
toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường chính, giành thắng
lợi lớn về quân sự, buộc Việt Minh phải chấp nhận điều đình theo những điều kiện
của Pháp. Nếu khước từ, quân cơ động chiến lược của Pháp sẽ tập trung mọi nỗ lực loại
trừ chủ lực Quân đội Nhân dân Việt Nam. Để
Hình 6. Cục diện chiến trường Bắc Bộ đến đầu năm 1953 (vùng đỏ là vùng kiểm soát của ta, vùng
xanh là vùng chiếm đóng của Pháp)
thực hiện được chiến dịch này, Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ
động lớn, mở rộng quân đội bản địa (quân đội quốc gia Việt Nam của vua Bảo Đại) càn
quét bình định vùng kiểm soát. Nước Pháp khi đó cũng dốc túi, đáp ứng yêu cầu mà
Navarre đưa ra. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng đang can thiệp sâu hơn vào Đông Dương, họ
chấp nhận lo khoản chi phí cho kế hoạch này lên tới 400.000.000 USD bao gồm vũ khí, xăng dầu,...
Đứng trước dòng chảy quân số, vũ khí gần như vô tận của Pháp và Mỹ, Việt Minh
đã phải chịu một sự ép cực kì khủng khiếp. Dù chưa đánh trận nào, những tướng Giáp
nhận định Pháp chắc chắn sẽ bại, ông không sợ vì ông biết cách đánh, biết cách đặt ra
những bài toán hóc búa mà người Pháp không thể giải nổi. Tướng Võ Nguyên Giáp nói:
“Kế hoạch Navarre ra đời trong hoàn cảnh bị động, trong thế thua nên nó chứa đựng
những mâu thuẫn nảy sinh mầm mống thất bại ngay từ đầu. Nắm được sự mâu thuẫn này
thì quân Pháp thất bại là không thể tránh khói”. Kế hoạch Navarre thoạt nghe thì có thể
mới lạ, nhưng thực chất lại là “bình cũ rượu mới”. Navarre vẫn đang mắc kẹt không lối
thoát trong bài toán lực lượng và bày binh bố trận của tướng Giáp. Thực chất Navarre vẫn
đang áp dụng tư duy của một cuộc chiến tranh quy ước và một cuộc chiến tranh nhân dân.
Rõ ràng, kế hoạch quân sự Navarre có quy mô và cường độ lớn hơn bất kỳ một kế
hoạch quân sự nào trước đó của người Pháp ở Đông Dương. Nó cho thấy sự quyết tâm
cao độ, sự cấu kết chặt chẽ nhằm giành “thắng lợi trong danh dự” ở Đông Dương của
Pháp và tham vọng ngăn chặn “làn sóng đỏ” của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. Thực tế đó
cùng yêu cầu về bước đột phá trên chiến trường đã báo hiệu chiến trường Đông Dương
trong đông – xuân 1953 – 1954 sẽ là nơi diễn ra những chuyển biến có tính chất quyết
định đối với cục diện cuộc chiến.
2. Tư duy chiến lược của Navarre
Navarre cho rằng muốn kết thúc chiến tranh ở Đông Dương thì cần phải ép Việt
Minh ra mặt trận lớn. Khi đó, Pháp sẽ dùng lực lượng không quân áp đảo, khống chế bầu
trời, pháo binh dồn dập, xe cơ giới cơ động nhanh để “nghiền nát” lực lượng chủ lực của
đối phương trong một lần duy nhất. Navarre tin vào ưu thế “hỏa lực mạnh, không quân,
pháo binh, xe cơ giới” của quân đội mình. Ông kỳ vọng vào một trận quyết chiến có thể
“ghiền nát” chủ lực đối phương nếu Việt Minh bị buộc phải tấn công, làm cho Việt Minh
rơi vào cãi bẫy khổng lồ do người Pháp giăng ra.
Navarre coi Điện Biên Phủ là một cái bẫy quân sự kiên cố vững chắc, một “pháo
đài” bất khả xâm phạm giữa lòng thung lũng. Lợi dụng sức mạnh không quân áp đảo để
làm chủ bầu trời, ném bom, tiếp tế, thả dù. Sử dụng hệ thống cứ điểm kiên cố, lô cốt bê
tông, hàng rào thép gai, bãi mìn để ngăn chặn mọi đợt tấn công. Ông kỳ vọng rằng Việt
Minh không thể mang pháo hạng nặng đến, và sẽ bị tiêu diệt nếu dám tấn công.
Trong chiến tranh thuộc địa kiểu cũ, Pháp thường đàn áp lan rộng, kiểm soát từng
vùng bằng hệ thống đồn bốt, “bình định” nông thôn. Navarre thì chọn cách tập trung lực
lượng vào một số điểm chiến lược, xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh, rồi dùng đó
làm nam châm hút chủ lực Việt Minh. Điện Biên Phủ trở thành trung tâm của chiến lược
phòng thủ chủ động với dự tính “trấn giữ Tây Bắc, bảo vệ Lào, rút lực lượng khỏi đồng bằng Bắc Bộ”.
Hình 7. Máy bay không quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Hình 8. Quân Pháp nỗ lực xây dựng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Navarre hy vọng giành chiến thắng trong 18 tháng (1953–1955), trước khi tình hình
Đông Dương trở thành gánh nặng quá lớn với nước Pháp. Trọng tâm là một “trận quyết
chiến chiến lược” – nơi Pháp có thể huy động ưu thế hỏa lực, làm đòn bẩy cho ngoại
giao. Navarre hiểu rằng Mỹ đang ngày càng quan tâm đến Đông Dương, lo ngại “hiệu
ứng Domino” ở Đông Nam Á. Nếu để chiến tranh kéo dài, Mỹ có thể can thiệp sâu hơn,
khiến Pháp mất quyền chủ động và thậm chí mất vai trò lãnh đạo. Vì thế, ông muốn kết
thúc chiến tranh trước khi Mỹ trực tiếp nhúng tay, bảo toàn ảnh hưởng của Pháp ở Đông
Dương. Ông cũng muốn một thắng lợi quân sự quyết định để buộc Việt Minh phải ngồi
vào bàn đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp tại Hội nghị Genève.
3. Tính toán của Navarre
Một là, về địa hình chiến lược. “Pháo đài” Điện Biên Phủ trở thành “pháo đài bất
khả xâm phạm, là niềm tự hào của Navarre trong kế hoạch hoàn hảo không kẽ hở của mình.
Hai là, tương quan lực lượng. Pháp dựa vào ưu thế tuyệt đối về pháo binh và máy
bay, chủ quan tin rằng Việt Minh không thể nào chịu được sức công phá khổng lồ của
pháo và bom hiện đại. Navarre dự kiến rằng với hỏa lực của mình, trận đánh sẽ ngắn, vô
cùng thảm khốc và ác liệt, đối phương sẽ bị tan vỡ nếu Pháp tấn công mặt đối mặt.
Ba là, Pháp tin tưởng tuyệt đối vào tiếp tế đường hàng không thông qua hệ thống sân bay và lính thả dù.
Hình 9. Lính nhảy dù của Pháp nhảy thả dù xuống Điện Biên Phủ
Có thể thấy, Navarre đặt trọn niềm tin vào một “kế hoạch hoàn hảo” khi lựa chọn
Điện Biên Phủ làm trung tâm cho chiến lược quân sự mới. Với ông, nơi đây là một “pháo
đài bất khả xâm phạm”, hội tụ đầy đủ điều kiện để trở thành cái bẫy quân sự khổng lồ,
nơi sẽ thu hút và tiêu diệt chủ lực Việt Minh. Navarre tin rằng địa hình lòng chảo khép
kín, cùng hệ thống công sự kiên cố, sẽ giúp quân Pháp trụ vững trước mọi cuộc tấn công.
Ông càng tin tưởng hơn khi dựa vào ưu thế tuyệt đối về hỏa lực – pháo binh, không quân,
cùng xe cơ giới – mà quân đội viễn chinh Pháp nắm trong tay. Trong tính toán của
Navarre, chỉ cần Việt Minh liều lĩnh xuất hiện trước trận địa thì sẽ lập tức bị “nghiền nát” bởi mưa bom, bão đạn.
Ngoài ra, Navarre còn tin chắc vào hệ thống tiếp tế bằng đường không. Ông cho
rằng những chuyến thả dù và các sân bay trong thung lũng sẽ bảo đảm hậu cần vững
chắc, khiến Điện Biên Phủ không bao giờ bị cô lập. Từ đó, Pháp nuôi hy vọng rằng nơi
đây sẽ trở thành chiếc “nam châm” hút chủ lực Việt Minh, tạo ra một trận quyết chiến
chiến lược để nhanh chóng kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng. Một thắng lợi rực rỡ
ở Điện Biên Phủ không chỉ giúp Pháp duy trì quyền chủ động trên bàn đàm phán Genève,
mà còn là con bài để ngăn chặn sự can dự ngày càng sâu của Mỹ vào Đông Dương, qua
đó bảo toàn vị thế lãnh đạo của Pháp trong khối thuộc địa.
CHƯƠNG III: KẾ HOẠCH ĐÁP TRẢ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP I.
Tương quan lực lượng
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tương quan lực lượng giữa quân Pháp
và quân đội Việt Nam có sự khác biệt rất rõ ràng, phản ánh sự đối đầu không chỉ về số
lượng mà còn về chất lượng, tổ chức và cách thức huy động sức mạnh chiến tranh.
Trước hết, về quân số, quân đội viễn chinh Pháp bố trí tại tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ khoảng 16.200 binh lính. Đây là lực lượng tinh nhuệ, được trang bị vũ khí hiện
đại và tổ chức thành các cụm cứ điểm kiên cố. Tuy nhiên, phía Việt Nam đã huy động
một lực lượng áp đảo với khoảng 55.000 chiến sĩ, tức gấp hơn ba lần quân Pháp. Lợi thế
về quân số đã giúp ta triển khai chiến thuật vây lấn, bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, làm
cho quân Pháp bị giam chân trong lòng chảo hẹp mà không có khả năng mở rộng tấn
công hay phá vỡ vòng vây.
Về hỏa lực, sự chênh lệch càng thể hiện rõ hơn. Quân Pháp chỉ có trong tay 20 khẩu
súng cối 120mm, trong khi phía Việt Nam có lực lượng súng cối đa dạng và phong phú
hơn rất nhiều: một tiểu đoàn ĐKZ 75mm, nhiều súng cối 82mm và bốn đại đội súng cối
120mm. Điều này cho phép quân ta bố trí hỏa lực bao quát và linh hoạt trên nhiều hướng,
hỗ trợ hiệu quả cho bộ binh trong các đợt tấn công vào cứ điểm địch.
Hình 10. Khẩu sơn pháo 75mm của Đại đội 755 tham gia chiến đấu từ ngày 24/3 –
7/5/1954, phá hủy 5 pháo 105mm, 1 kho đạn của quân Pháp
Nếu xét riêng về pháo binh – lực lượng quyết định thế trận tại Điện Biên Phủ – thì
ưu thế thuộc về Việt Nam. Quân Pháp được trang bị 28 khẩu pháo 105mm và 4 khẩu
pháo 155mm, những loại pháo có sức công phá lớn và tầm bắn xa. Tuy nhiên, Việt Nam
đã đưa vào chiến dịch một lực lượng pháo binh hùng hậu chưa từng có: 24 khẩu sơn pháo
75mm, 24 lựu pháo 105mm, 12 khẩu pháo hỏa tiễn H6 và đặc biệt là 76 khẩu pháo cao xạ
37mm. Trong đó, sự xuất hiện của pháo cao xạ 37mm có ý nghĩa quyết định, bởi nó đã
khống chế hoàn toàn bầu trời Điện Biên Phủ, bắn rơi hàng trăm máy bay, cắt đứt tuyến
tiếp tế đường không vốn là huyết mạch sống còn của tập đoàn cứ điểm. Chính nhờ pháo
cao xạ, quân ta đã cô lập được quân Pháp trong lòng chảo, biến ưu thế về không quân và
tiếp tế bằng đường hàng không của địch thành con số không. Đây là một trong những
nhân tố quan trọng nhất làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Hình 11. Pháo M101 105mm được Trung đoàn 45 sử dụng trong chiến đấu chiến dịch Điện Biên Phủ
Hình 12. Hình ảnh mô phỏng bộ đội ta kéo pháo cao xạ 37mm vào mặt trận
Điện Biên Phủ tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ
Xét về phương tiện cơ giới, Pháp vẫn có ưu thế nhất định. Tại Điện Biên Phủ, họ bố
trí 10 xe tăng M24 Chaffee cùng 14 máy bay các loại. Những phương tiện này mang lại
cho quân Pháp ưu thế về kỹ thuật, hỏa lực tập trung trong các trận đánh cục bộ và khả
năng cơ động chiến trường trong phạm vi hẹp. Trong khi đó, Việt Nam hoàn toàn không
có xe tăng và không quân, điều này cho thấy ta phải đối mặt với thách thức lớn khi tấn
công vào tập đoàn cứ điểm được bảo vệ bằng vũ khí hiện đại. Tuy nhiên, nhược điểm này
đã được khắc phục bằng cách tận dụng địa hình rừng núi, đào công sự, làm đường kéo
pháo, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các binh chủng, nhờ đó hóa giải được phần lớn
sức mạnh cơ giới của Pháp.
Hình 13. Xe tăng M24 Chaffee của Pháp
Một yếu tố quan trọng khác là phương tiện vận tải và khả năng hậu cần. Quân Pháp
chỉ có 200 xe vận tải, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tiếp tế từ không quân. Ngược lại, Việt
Nam huy động tới 715 xe vận tải cùng hàng chục vạn dân công hỏa tuyến, thồ hàng bằng
xe đạp, ngựa, và gùi thồ. Nhờ đó, quân ta không chỉ chủ động bảo đảm lương thực, vũ
khí, đạn dược cho chiến dịch dài ngày mà còn có thể đưa pháo hạng nặng vượt qua núi
rừng hiểm trở, đặt vào những trận địa bất ngờ, khống chế toàn bộ thung lũng Điện Biên.
Đây là một minh chứng điển hình cho sức mạnh của hậu cần nhân dân – yếu tố mà Pháp
hoàn toàn không ngờ tới.
Tổng quan lại, Pháp tuy có ưu thế về vũ khí hiện đại, xe tăng, máy bay và một số
loại pháo cỡ lớn, nhưng lực lượng Việt Nam lại áp đảo về quân số, có khả năng huy động
hậu cần mạnh mẽ, đồng thời vượt trội về pháo binh, đặc biệt là pháo cao xạ. Chính sự kết
hợp giữa ưu thế lực lượng, khả năng tổ chức và sáng tạo trong chiến đấu đã giúp quân đội