



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ----- ----- BÀI TẬP LỚN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài: X
ây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1946
Giảng viên : TS.Trần Thị Mai
Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Lớp tín chỉ : PLT10A31 Hà Nội, 10/2024 MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ....................................................................................3
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................... .6
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................................7
DANH MỤC HÌNH ẢNH..................................................................................................8
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................9
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................9
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................................9
3. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................................9
4. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................10
5. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................10
6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................10
7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài........................................................................10
NỘI DUNG..................................................................................................................... .11
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
1945......................................................................................................................... .....11
1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2...........................................11
1.2 Tình hình Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám năm 1945.................................11
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN
CÁCH MẠNG (1945-1946).........................................................................................14
2.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng........14
(1945-1946)...............................................................................................................14
2.2. Đảng tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ,đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.............................................................17
2.3. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm rút ra..................................................21
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN...........................................................................24
3.1. Thực trạng vấn đề chính trị-xã hội hiện nay của nước ta....................................24
3.2 Bài học rút ra.......................................................................................................29
3.3. Trách nhiệm của mỗi cá nhân.............................................................................29
KẾT LUẬN..................................................................................................................... .32
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................33 LỜI CAM ĐOAN
Nhóm 1 xin cam đoan đây là bài phân tích với đề tà i “Xây dựng và bảo vệ chính
quyền cách mạng 1945-1946 ” này hoàn toàn là do nhóm chúng em nghiên cứu. Mọi
phân tích không sao chép bất kỳ nguồn nào. Ngoài ra, trong bài có sử dụng một số nguồn
tài liệu tham khảo đã được trích dẫn nguồn và c hú thích rõ ràng. Em xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm về sự cam đoan này . DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1:Khẩu hiệu cứu đói đư ợc đề cao trong cách mạng tháng tám năm 1945....... ... .. . 12
Hình 2.1:Lễ phát động Ngày cứu đói t ại Nhà hát lớn Hà Nội.... ........ .... .. ... .. .. ... .. .. .. ... .. .. . 13
Hình 2.2:Lớp bình dân học vụ xóa nạn mù chữ t ại Phú Yên sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1 945.......................................................................................................................... 14
Hình 2.3:Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội . .. . .. . . .. 15
HÌnh 2.4: Quốc hội đầu tiên của nướ c Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau cuộc tuyển
cử đầu tiên trong cả nước ngày 6-1-1946...... ........ ......... ........ ......... ........ ....... .. ... .. .. .. ... .. .. 15
Hình 2.5: Nhân dân Nam bộ nổi dậy kháng chiến chống Pháp..... ........ .. .. ... .. .. ... .. .. .. ... .. .. 16
Hình 2.6: Nóp và chông – những vũ khí đánh giặ c của nhân dân miền Nam trong nhữ ng
ngày đầu kháng chiến vào tháng 9/1945 ...... ........ ......... ........ ........ .... ... .. .. .. ... .. .. ... .. .. .. ... .. . 17
Hình 2.6: Phát lệnh toàn quốc kháng c hiến ở Hà Nội, tháng 12-1946...... ........ ......... .. .. .. . 21
Hình 3.1: Bí xanh được mua t ại vườn nhà dân để chuyển đến các lực lượng diễu binh,
diễu h ành. ................................................................................................................ ... ... ... 22
Hình 3.2: Mạnh thường quân cứu giúp dân l àng bị lụt... ......... ........ ........ ......... ..... .. .. ... .. .. 22
Hình 3.3: Mọi người quyên góp ủng hộ đồng bào miền tr ung..... ......... ........ ........ ......... ... 22
Hình 3.4: Trào lưu vẽ lá cờ đỏ sa o vàng trên nóc nhà...... ........ ......... ........ ... .. .. ... .. .. .. ... .. .. 23
Hình 3.6: Thí sinh đường lên đỉnh Olypia với tư tưởng lệch lạc..... ........ ....... .. ... .. .. ... .. .. .. 24
Hình 3.7: Chủ tịch nước Tô Lâmphát bi ểu tại Đại học Columbia ở thành phố New York25 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn 1945-1946 đánh dấu bước ngoặt quan trọng của dân tộc Việt Nam. Sau
thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với
hàng loạt thách thức cả trong lẫn ngoài nước. Nội bộ đất nước đang trải qua khủng hoảng
nghiêm trọng: nạn đói, nạn thất nghiệp và hệ thống kinh tế - xã hội kiệt quệ sau thời kỳ thuộc
địa và phong kiến. Bên ngoài, các thế lực đế quốc, đặc biệt là Pháp, đang tìm cách tái chiếm
Việt Nam, trong khi quân đội nước ngoài như Anh và Tưởng Giới Thạch cũng đang có mặt
trên lãnh thổ. Trong bối cảnh phức tạp này, việc xây dựng và bảo vệ chính quyền không chỉ
là việc đối phó với tình thế, mà còn là sự khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc, tạo
nền móng vững chắc cho sự phát triển về sau.
Nghiên cứu quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền giai đoạn này giúp làm rõ cách
mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân vượt qua những
thách thức, củng cố nền độc lập và giữ vững chính quyền cách mạng. Những chính sách như
tập trung xóa nạn đói, cải cách kinh tế, xây dựng quân đội và ngoại giao với các nước lớn đã
giúp chính quyền vượt qua giai đoạn hiểm nghèo. Đề tài này không chỉ giúp chúng ta hiểu
sâu hơn về bản chất của một chính quyền cách mạng trong giai đoạn lịch sử quan trọng, mà
còn mang lại những bài học quý giá về việc duy trì sự ổn định chính trị, bảo vệ chủ quyền
quốc gia và phát triển đất nước. Trong bối cảnh hiện tại, khi Việt Nam tiếp tục đối mặt với
những thách thức từ hội nhập quốc tế và biến động khu vực, việc rút ra bài học từ quá khứ
càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Với những vấn đề trình bày trên nhóm chúng em đã chọn đề tài “Đảng lãnh đạo công
cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng những năm 19451946” để làm
bài tập lớn cho học phần Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và chỉ ra được tầm quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách lãnh
đạo nhân dân giành độc lập. Từ việc phân tích quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền, rút
ra những bài học lịch sử quan trọng để vận dụng vào việc nghiên cứu các giai đoạn khác
trong lịch sử Việt Nam cũng như việc quản lý nhà nước hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định những yếu tố trong và ngoài nước đã ảnh hưởng đến sự ra đời của chính
quyền cách mạng sau Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng như các thách thức mà chính quyền
non trẻ phải đối mặt.
Nghiên cứu Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền cách
mạng những năm 1945-1946. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 1.1.1 Thuận lợi
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những thay đổi lớn
có lợi cho cách mạng Việt Nam, Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội; nhiều nước
ở Đông Trung Âu, được sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô đã lựa chọn con đường phát triển
theo chủ nghĩa xã hội; phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi
và khu vực Mỹ Latinh dâng cao. 1.1.2. Khó khăn
Với âm mưu chia lại thuộc địa thế giới, phe chủ nghĩa đế quốc ra sức tấn công, đàn áp
phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Do lợi ích cục bộ của mình,
các nước lớn không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế
quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài; cách mạng ba nước Đông Dương
nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử
thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng.
1.2 Tình hình Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 1.2.1. Thuận lợi
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam có một số thuận lợi quan trọng như
là Việt Nam trở thành quốc gia độc lập tự do, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ bị áp bức
trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới. Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền lãnh
đạo cách mạng trong cả nước; Đặc biệt, về việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng
với bộ máy thống nhất từ cấp trung ương đến cơ sở, sản xuất phục vụ lợi ích của tổ quốc nhân
dân. Thêm nữa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của nền độc lập tự do là trung
tâm của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Quân đội quốc gia và lực lượng công an; hệ
thống pháp luật của chính quyền cách mạng được khẩn trương xây dựng và phát huy vai trò
đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới. 1.2.2. Khó khăn
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hệ thống chính quyền cách mạng mới được
thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt, hậu quả của chế độ cũ để lại hết
sức nặng nề. Có thể thấy, Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn, thách thức lớn như là:
Về quân sự, thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc này là âm mưu, hành động
quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp. Ngày 2/9/1945 quân Pháp đã
trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng ngày độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ tháng 9/1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, hai vạn quân đội Anh - Ấn đổ
bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam Việt Nam.
Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trợ, sử dụng quân đội Nhật giúp sức quân pháp ngang nhiên
nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn và rạng sáng 23/9/1945 mở đầu cuộc chiến
tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Ở Bắc vĩ tuyến 16, từ cuối tháng 8/1945, hơn 20 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch kéo
vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội đồng minh vào giải
giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt quốc, Việt cách. Trong khi đó, trên đất
nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật chưa được giải giáp.
Về kinh tế, kinh tế kiệt quệ sau thời kỳ dài bị thực dân Pháp và phát xít Nhật thống trị,
nền kinh tế bị tàn phá nặng nề. Nạn đói năm 1945 khiến hơn 2 triệu người chết, sản xuất đình
trệ, tài chính khan hiếm.
Về nông nghiệp, năng suất lúa đạt rất thấp, chỉ 12 tạ/ha, nông dân chiếm 95% dân số
nhưng chỉ được sử dụng khoảng 40% diện tích ruộng đất. Đến cuối năm 1945, lũ lụt lớn xảy
ra tại miền Bắc đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làm vỡ đê ở 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Thêm
vào đó, hạn hán kéo dài khiến 50% diện tích ruộng đất không thể canh tác. Nông dân thiếu
công cụ sản xuất hiện đại và không đủ phương tiện cải thiện năng suất và sản lượng.
Về công nghiệp, cả nước chỉ có chưa đến 200 nhà máy, phần lớn là nhỏ lẻ và cũ kỹ,
đang trong tình trạng đình đốn. Phần lớn công nghiệp vẫn do thực dân Pháp kiểm soát dẫn
đến hàng hóa khan hiếm, không đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân.
Về tài chính, nền tảng tài chính yếu kém, phải gánh một khoản nợ lớn từ thời Pháp
thuộc và chi phí cho chiến tranh. Việc in tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu gây ra tình trạng
lạm phát, làm giảm giá trị của tiền và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó,
hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính chưa phát triển.
Về văn hoá, giáo dục và chính trị, chính quyền cách mạng còn non trẻ, thiếu kinh
nghiệm quản lý đất nước trong bối cảnh phức tạp và đầy thách thức. Văn hóa bị ảnh hưởng
bởi chính sách ngu dân của thực dân Pháp, tỷ lệ người dân thất học, mù chữ rất cao(khoảng
95%) gây cản trở cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Như vậy, sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó
khăn đứng trên thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và
bọn thù trong, giặc ngoài. Những thách thức này đòi hỏi chính quyền cách mạng và nhân
dân Việt Nam phải nỗ lực vượt qua để bảo vệ nền độc lập và xây dựng đất nước trong tình
thế hết sức khó khăn và phức tạp
Hình 1.1:Khẩu hiệu cứu đói được đề cao trong cách mạng tháng tám năm 1945
( Nguồn: SOHA - trang thông tin điện tử tổn g hợp)
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH
QUYỀN CÁCH MẠNG (1945-1946)
2.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng (1945-1946)
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ lớn trước mắt, là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25/11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị kháng chiến kiến quốc,
nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền.
Nội dung chỉ thị như sau: phân tích rõ sâu sắc sự biến đổi của tình hình thế giới và
trong nước, nhất tình hình Nam Bộ và xác định rõ: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân
Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Mục tiêu của chỉ thị này vẫn là “dân tộc giải phóng” và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên
hết, Tổ quốc trên hết”
Về nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm
lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”
Về biện pháp thực hiện, cần nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành
lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng
chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài, kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị.
Về ngoại giao: phải kiên trì nguyên tắc “thêm bạn bớt thù”, đối với Tàu Tưởng nêu
chủ trương “Hoa-Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.
Về tuyên truyền: hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược
“đặc biệt chống mọi mưu mô phá hoại chia rẽ của bọn Trốtxkit, Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng”.
Có thể thấy, những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong
bản Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc đã đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt
Nam lúc bấy giờ, có tác dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp ở Nam Bộ, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy
khó khăn, phức tạp này.
Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn, quan trọng và cấp thiết lúc bấy
giờ. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân
tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động như: tăng gia sản xuất, lập hũ gạo tiết kiệm,
tổ chức Tuần lễ vàng, gây quỹ độc lập,... Chính phủ bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý
của chế độ cũ, thực hiện chính sách giảm tô 25%. Ngay năm đầu, sản xuất nông nghiệp có
bước khởi sắc rõ rệt, việc sửa chữa đê điều được khuyến khích, tổ chức khuyến nông, tịch
thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đất hoang hóa chia cho nông dân nghèo. Sản xuất lương
thực tăng lên rõ rệt, cả về diện tích và sản lượng. Nhà máy, công xưởng, hầm mỏ được khuyến
khích đầu tư khôi phục trở lại. Ngân khố quốc gia được xây dựng trở lại, phát hành đồng giấy
bạc Việt Nam. Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy
HÌnh 2.4: Quốc hội đầu tiên của nước Việt N am dân chủ cộng hòa ra đời sau cuộc tuyển
cử đầu tiên trong cả nước ngà y 6-1-1946.
2.2. Đảng tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ,đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
Đêm ngày 22 rạng ngày 23/9/1945, quân đội Pháp đã nổ súng gây hấn đánh chiếm
Sài Gòn- Chợ Lớn ( Nam Bộ). Cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Nam Bộ bắt đầu.
Hội nghị liên tịch sáng ngày 23 / 9/1945 giữa Xứ ủy, UBND, Ủy ban kháng chiến
và đại diện Tổng bộ Việt Minh đã đề ra chủ trương hiệu triệu quân, quân Nam Bộ đứng lên kháng chiến.
Hình 2.6: Nóp và chông – những vũ khí đánh giặc của nhân dân miền Nam trong những
ngày đầu kháng chiến vào tháng 9/1945.
Ở khu vực miền Trung, đã mở đầu cho cuộc chiến đấu oanh liệt, dũng cảm, kiên cường
của quân và dân mặt trận Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong những ngày đầu kháng
chiến….. Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của quân Tưởng và
tay sai, Đảng, Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu
thuẫn kẻ thù, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc” với quân Tưởng, tránh các hoạt động
khiêu khích, xung đột vũ trang.
11/11/1945, Đảng rút vào hoạt động bí mật bằng việc ra “Thông cáo Đảng Cộng sản
Đông Dương tự ý giải tán” chỉ để lại một bộ phận công khai dưới danh nghĩa “Hội nghiên
cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương”, Chính phủ Việt Nam đồng ý việc đảm bảo cung cấp
lương thực, thực phẩm cần thiết cho 20 vạn quân đội Tưởng khi ở Việt Nam và nhân nhượng
cho quân Tưởng được sử dụng đồng tiền Quan kim, Quốc tế song hành cùng đồng bạc Đông
Dương. Sau khi bầu cử thành công, Hồ Chí Minh chấp nhận mở rộng thành phần đại biểu
Quốc hội, đồng ý bổ sung thêm 70 ghế Quốc hội không qua bầu cử cho một số đảng viên của Việt Cách, Việt Quốc.
Đầu năm 1946, phe đế quốc đã dàn xếp, thỏa thuận để Chính phủ Pháp và chính phủ
Trung Hoa dân quốc ký kết bản Hiệp ước Trùng Khánh (Hiệp ước Hoa - Pháp, ngày
28/2/1946), trong đó có nội dung thỏa thuận để Pháp đưa quân đội ra Bắc vĩ tuyến 16 làm
nhiệm vụ giải pháp quân đội Nhật thay thế 20 vạn quân Tưởng rút về nước, hạn cuối cùng là
ngày 30-3-1946. Và đổi lại Pháp sẽ nhượng lại cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng ở Trung
Quốc và Việt Nam. Đây thực chất là bản hiệp ước bản rẻ lợi ích dân tộc, chà đạp lên nền độc
lập của Việt Nam, hợp pháp hóa hành động xâm lược của thực dân Pháp ra miền Bắc. Chính
phủ và nhân dân Việt Nam đứng trước một tình thế vô cùng nguy hiểm, phải cùng lúc đối
mặt trực tiếp với hai kẻ thù xâm lược to lớn là Pháp và Tưởng, trong khi thực lực cách mạng vẫn còn non yếu.
Trước sự thay đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình, Thường vụ Trung ương Đảng,
Hồ Chí Minh đã nhận định, đánh giá âm mưu, ý đồ chính trị của Pháp và Tưởng và đã ra bản
Chỉ thị Tình hình và chủ trương ngày 3-3-1946: hòa hoãn với Pháp có thể phá tan âm mưu
của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản phản động, bảo toàn toàn lực lượng cũng như giành được
thời gian để chuẩn bị cuộc chiến đấu mới, tiến đến giành độc lập hoàn toàn. “Vấn đề lúc này,
không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình biết người, nhận một cách
khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng”.
“Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút
công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến
việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết
chiến của dân tộc ta”
Ngày 5 tháng 3 năm 1946, ta nhất trí tiến hành chủ trương hòa để tiến.
Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng Hòa ký với đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội là Jean Sainteny bản Hiệp định sơ bộ.
Hiệp định nêu rõ: Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính
phủ, có nghị viện, tài chính và quân đội riêng nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối
Liên hiệp Pháp; Pháp cũng là quốc gia đầu tiên công nhận nền độc lập của Việt Nam. về phía
Việt Nam đồng ý để 15.000 quân đội Pháp ra miền Bắc thay thế 20 vạn quân đội Tưởng rút
về nước và sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm (mỗi năm rút ⅕). Tuy nhiên, hiệp định Sơ bộ chỉ
là thỏa thuận tạm thời, hai bên sẽ tiếp tục tiến hành đàm phán chính thức để giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp….
Ngày 9-3-1946, Thường vụ Trung ương Đảng đã ra ngay bản Chỉ thị Hòa để tiến phân
tích, đánh giá chủ trương hòa hoãn và khả năng phát triển của tình hình. Chỉ thị nêu rõ: Cần
phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không ngừng một phút công việc sửa
soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp
làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta, nhất là đối với đồng bào Nam Bộ và các chiến
sĩ ngoài mặt trận; cần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, đặc biệt chú ý đào tạo cán bộ chính
trị và quân sự, gây dựng cơ sở đảng, củng cố phong trào quần chúng….
Để giữ vững nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Chính phủ tiếp tục
cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì, kiên quyết, đầy khó khăn, phức tạp trong suốt 1946 ở cả
mặt trận trong nước và nước ngoài. Từ ngày 19/4 đến ngày 10/5/1946, đại diện Chính phủ
Việt Nam và Pháp gặp nhau tại Hội nghị trù bị ở Đà Lạt. Dẫu cho Pháp vẫn ngoan cố giữ lập
trường muốn tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, lập lại chế độ Toàn quyền Đông Dương; Chính
phủ ta vẫn kiên định tới cùng; rời khỏi Đà Lạt, ta đã tổ chức một phái đoàn Quốc hội mới
sang thăm hữu nghị Quốc hội Pháp từ cuối tháng 4 đến tháng 5.
Ngày 31/5/1946, “theo mệnh lệnh của Chính phủ và ý chí của quốc dân”, Chủ tịch Hồ
Chí Minh với tư cách là nguyên thủ quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH)
lên đường thăm Cộng hòa Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm của Người
là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của Chính phủ Việt Nam trong những
năm 1945-1946 để cứu vãn nền hòa bình trong khi thực dân Pháp đang quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa.