Tên: Phùng Tiểu Vy – STT: 59 MSSV: 31211020185 Bài 1:
Rủi to: sản phẩm thay thế có giá rẻ hơn => đe dọa doanh số về mặt hàng này của đơn vị.
Thực hiện giảm thiểu rủi ro (giảm giá sản phẩm, tăng cường quản bá rộng hơn) hoặc chia sẻ rủi
ro (mau bảo hiểm cho sản phẩm hoặc mời đối tác khác cùng thực hiện công việc)
*Giảm thiểu rủi ro không phải là hoạt động kiểm soát mà là các quyết định đưa ra... Bài 2:
1. Các khiếm khuyết và sai phạm có thể xảy ra:
Tính lương chỉ dựa trên bảng chấm công do các bộ phận sử dụng lao động chuyển đến.
=> Sai phạm: bảng chấm công gửi từ các bộ phận có thể được ghi nhận chưa chính xác
hoặc các bộ phận cố tình gian lận ghi nhận cao số giờ làm việc của nhân viên để chiếm số
tiền chênh lệch. Nhân viên bộ phận đó có thể thông đồng với trưởng bộ phận để được ghi
nhận về số giờ làm việc kể cả khi không làm việc.
Kế toán trưởng Hiền chỉ đối chiếu với tổng số tiền lương trên bảng tính lương với số tiền
lương trên các séc thay vì đối chiếu lại với số dư tài khoản tiền lương nhân viên trên sổ cái.
=> Sai phạm: thông tin về số tiền thanh toán cho nhân viên trên bảng tính lương và trên
séc đều do kế toán An thực hiện nên việc đối chiếu trên chưa thể phát hiện các sai sót do
kế toán An gây ra nếu có.
Phần mềm tính lương chỉ được phép do kế toán An truy cập sửa chữa, điều chỉnh hay xóa
thông tin về các nhân viên không còn làm việc.
=> Sai phạm: kế toán An có thể gian lận bằng cách tạo nên hồ sơ nhân viên ảo với số giờ
làm việc ảo để chiếm đoạt khoản tiền lương do công ty chi trả.
2. Thủ tục kiểm soát cần thiết:
Sử dụng phần mềm chấm công bằng sinh trắc học, vân tay để tránh việc tự ý ghi nhận
chấm công ở các bộ phận.
Yêu cầu các bộ phận định kỳ (cuối ngày, cuối tuần) gửi báo cáo về số giờ làm việc hoặc
vắng mặt trong ngày của nhân viên và yêu cầu sự chịu trách nhiệm cao của nhân viên thực hiện.
Đối chiếu giữa bảng tính lương với số dư tài khoản tiền lương trên sổ cái.
Kế toán trưởng khi kiểm tra đối chiếu thông tin về tiền lương cần rà soát, xem xét lại
thông tin về nhân viên mới trong kỳ tính lương đó. Bài 3:
1. Các khiếm khuyết và sai phạm có thể xảy ra:
Nhân viên thường bỏ qua phần ghi nhận tên của người phục vụ
=> Sai phạm: Không thể kiểm soát được nếu phát hiện sai sót trong quá trình phục vụ thuộc
về trách nhiệm của nhân viên nào. Mỗi nhân viên phụ trách một số bàn, nếu không ghi tên thì
có thể món ăn sẽ được phục vụ nhầm gây mất thời gian.
Người quản lý không kiểm tra số lượng món ăn với số tiền tính toán trên ticket cũng như
không đối chiếu với ticket lưu ở nhà bếp.
=> Sai phạm: Sai sót trong việc tính toán số tiền từ nhân viên không được phát hiện. Nhân
viên ghi thêm vào ticket các món ăn để mang về cho bản thân do biết quản lý không kiểm tra
số lượng món ăn và đối chiếu với số tiền.
2. Thủ tục kiểm soát cần thiết:
Yêu cầu nhân viên tuân thủ việc ghi thông tin vào ticket.
Có chính sách hướng dẫn cũng như xử phạt những hành vi không tuân thủ.
Cuối ngày làm việc, đối chiếu số tiền trên ticket do nhân viên giữ, ticket ở phòng bếp và
số tiền thực tế thu được
1. Chu trình gồm những hoạt động nào?
- Nhận yêu cầu món ăn từ khách: Ticket
- Chế biến món ăn khách yêu cầu
- Tính tiền: Bill/phiếu tính tiền - Thu tiền
2. Ai/BP nào tham gia vào chu trình? - Nhân viên phục vụ - Bếp - NQL
3. Nhiệm vụ và các công việc cụ thể từng BP/cá nhân thực hiện?
- Nhân viên phục vụ: ghi món ăn và tên của mình vào Ticket (2 liên) và dựa trên Ticket để tính
tiền, thu tiền từ KH và nộp tiền về cho NQL
- Bếp: nhận 1 liên Ticket và chế biến món ăn
- NQL: nhận tiền từ NV phục vụ
4. Xem phân chia trách nhiệm phù hợp chưa?
- Nhân viên phục vụ vừa nhận yêu cầu, vừa tính tiền và thu tiền => NV phục vụ có thể lấy bớt
tiền thu từ khách hàng và nộp về cho NQL ít hơn số tiền thực thu từ KH.
5. Xem vấn đề về kiểm soát thông tin về giao dịch có hữu hiệu không?
- NV phục vụ quên ghi tên của mình trên Ticket => không xác định được nhân viên ăn cắp tiền
của nhà hàng => Yêu cầu bắt buộc ghi tên hoặc số bàn vào Ticket.
- Khi tính tiền không có bill hay phiếu tính tiền => có thể tính sai món, sai số lượng, sai đơn giá
và cộng tiền sai. Đồng thời không có dấu vết để đối chiếu kiểm tra với Ticket.
6. Có cần thiết phê chuẩn/xét duyệt, xác minh thông tin, kiểm soát vật chất ở từng hoạt động vụ thể hay không?
- Đối với hoạt động của nhà hàng thì việc xét duyệt các nghiệp vụ là không cần thiết
- Cần xác minh sự chính xác của thông tin món ăn trên ticket trước khi chế biến.
- Cần xác minh món nào đã chế biến xong và giao khách hàng, món nào chưa
- Có thể xác minh số lượng và món ăn trước khi tính tiền với khách hàng hoặc sau khi tính tiền.
- Cần xác minh số tiền thu từ khách hàng có đúng với phiếu tính tiền hay không.
7. Có cần thực hiện rà soát hay không? Ai làm? Bao lâu 1 lần?
NQL không đối chiếu số món ăn bếp làm với số tiền thu được từ nv phục vụ => không phát hiện
ra việc nhân viên phục vụ ăn bớt tiền thu từ khách hàng hay tính sai tiền. => Yêu cầu NQL thực
hiện đối chiếu cuối mỗi ngày. Bài 4:
1. Các khiếm khuyết và sai phạm có thể xảy ra:
Nhân viên mua hàng khi có thông báo từ thủ kho mà không có xét duyệt việc mua hàng,
thủ kho cũng không lập phiếu đề nghị mua hàng.
=> Sai phạm: Không xét duyệt mua hàng dẫn đến mua hàng dư thừa, không phù hợp gây lãng phí.
Nhân viên mua hàng phụ trách kiểm tra hàng, nhận hàng và giao hàng cho thủ kho.
=> Nhân viên không căn cứ vào chứng từ hóa đơn đặt hàng và phiếu giao hàng để kiểm
tra số lượng và chất lượng hàng mua và khi thủ kho nhập kho cũng không căn cứ để kiểm
tra lại, có khả năng nhập kho không đúng số lượng, chất lượng không phù hợp với yêu
cầu trong hợp đồng mua hàng.
Các hóa đơn do nhà cung cấp gửi dến sẽ chuyển trực tiếp cho nhân viên mua hàng sau đó
nhân viên mua hàng sẽ gửi tất cả hồ sơ mua hàng cho kế toán mua hàng.
=> Nhân viên mua hàng làm giả các hóa đơn mua hàng và gửi cho bộ phận kế toán để sau
đó được duyệt và nhận về số tiền thanh toán cho hóa đơn giả đó.
2. Thủ tục kiểm soát cần thiết:
Khi có nhu cầu mua hàng do hàng tồn thấp hơn định mức dự trữ, thủ kho phải lập phiếu đề nghị mua hàng.
Phân chia trách nhiệm bộ phận xét duyệt mua hàng để xét duyệt phiếu đề nghị mua hàng.
Việc lựa chọn nhà cung cấp phải được bộ phận có thẩm quyền phê duyệt để tránh nhân
viên thông đồng với nhà cung cấp và mua hàng với giá cao hơn không phù hợp với chất
lượng. Danh sách nhà cung cấp được duyệt định kỳ phải được xem xét, thực hiện lại.
Phân chia trách nhiệm giữa nhân viên mua hàng và nhân viên nhận hàng.
Khi nhận hàng, phải đối chiếu phiếu đề nghị mua hàng, đơn đặt hàng và hợp đồng mua
hàng để kiểm tra số lượng và chất lượng.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.