



















Preview text:
lOMoARcPSD|59178463
BÀI TẬP LUẬT HÌNH SỰ 2 - Câu hỏi ôn tập LHS
Luật Hình Sự (Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
BÀI TẬP LUẬT HÌNH SỰ 2 CHƯƠNG 1
1. CÂU HỎI TỰ LUẬN
1.1. Phân tích vấn đề khách thể của các tội xâm phạm an ninh quốc gia
1.2. Phân tích vấn đề lỗi và mục đích phạm tội
1.3. Phân tích nhóm chủ thể của tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia
1.4. Phân tích các khái niệm sau −
Hành vi khách quan của tội phản bội tổ quốc −
Hành vi khách quan của tội gián điệp −
Hành vi bạo lực có tổ chức − Hành vi phá hoại
1.5. Phân biệt cấc tội phạm sau −
Tội phản bội Tổ quốc với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân −
Tội phản bội Tổ quốc với tội gián điệp
2. NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
2.1. Công dân Việt Nam có quan hệ với nước ngoài nhằm chống chính
quyền nhân dân luôn bị xử lý về tội phản bội tổ quốc.
2.2. Chủ thể của tội phạm khủng bố nhắm chống chính quyền nhân dân
phải là công dân Việt Nam
2.3. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là tội phạm có cấu thành vật chất
2.4. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là tội phạm có cấu thành hình thức
2.5. Hậu quả chết người là bắt buộc phải có trong tội khủng bố nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân
3. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Tình huống 1
Một tổ chức phản động trong nước được thành lập với mục đích nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân. Sau khi thành lập: −
Chưa kịp có hoạt động đã bị phát giác −
Cử người đi nước ngoài xin viện trợ, trên đường ra nước ngoài thì bị phát giác −
Cử người ra nước ngoài xin viện trợ và được nước ngoài chấp thuận
Hãy xác định tội danh đối với những hành vi phạm tội trên. Tình huống 2
A và B là những phần tử chống phá cách mạng. Biết C là người cầm đầu
một tổ chức có mục đích lật đổ chính quyền, chúng xin gia nhập vào tổ
chức này và được C đồng ý. Theo sự phân công, chúng đi thu thập thông
tin tình hình của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, chuẩn bị kế hoạch tấn công
giành chính quyền. Để có vũ khí cho hoạt động vũ trang, A cùng 2 tên
khác đột nhập vào kho vũ khí quân đội cướp được 6 khẩu AK, 10 quả lựu
đạn và một số đạn dược khác. Trong quá trình cướp vũ khí, chúng đã bị 1
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
bắt giữ và khai rõ sự việc. Hãy xác định tội danh của A và B trong vụ án nói trên. Tình huống 3
M là người mang quốc tịch Việt Nam đang định cư ở nước ngoài. Dưới
su hỗ trợ của nước ngoài, M đã thành lập một tổ chức với tên gọi là Mặt
trận Tổ quốc thống nhất giải phóng Miền Nam. Chúng nhiều lần đưa
người xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam để xây dựng lực lượng nhằm
chuẩn bị thực hiện việc lật đổ chính quyền.
Theo sự phân công của tổ chức này, K cùng với 37 người khác trong tổ
chức đã xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam. Vụ việc bị phát hiện và K
cùng đồng bọn bị bắt giữ trong số họ có 1 người tên là Nguyễn Văn B
mang quốc tịch của quốc gia khác (Không phải Việt Nam), Số còn lại đều là công dân Việt Nam.
Hãy xác định hành vi của những người tham gia cấu thành tội gì? BÀI LÀM 2
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463 CHƯƠNG 2
1. CÂU HỎI TỰ LUẬN
1.1. Trình bày các dấu hiệu pháp lý chung của nhóm tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người. (Giáo trình trang 22-23)
1.2. Trình bày các dấu hiệu pháp lý chung của nhóm tội xâm phạm nhân
phẩm, danh dự của con người.(Giáo trình trang 22-23)
1.3. Phân biệt: Tội giết người ở giai đoạn hoàn thành và tội cố ý gây
thương tích gây hậu quả chết người.
1.4. Tội vô ý làm chết người với tội cố ý gây thương tích trong trường
hợp dẫn đến hậu quả chết người.
1.5. Phân biệt tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân với tội giết người.
1.6. Phân tích nội dung của các tình tiết tăng nặng định khung của tội giết
người theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
1.7. Phân tích khái niệm: nạn nhân là trẻ em, con mới đẻ, người chưa thành niên.
1.8. Phân tích khái niệm: giao cấu có tính chất loạn luân
1.9. Phân biệt: Giết người đã hoàn thành (Điều 123 BLHS2015) với cố
thương tích dẫn đến hậu quả chết người (Khoản 3 Điều 134 BLHS 2015)
1.10. Phân biệt tội bức tử (Điều 130) với tội hành hạ người khác (Điều 140)
2. NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI.
2.1. Chỉ những trường hợp gây thương tích có tỷ lệ thương tật từ 11% trở
lên mới phạm tội cố ý gây thương tích.
Nhận định sai. Vì theo BLHSHH thì đối với các trường hợp cố ý gây
thương tích có tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp luật
quy định trong các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và k khoản 1 điều 134
BLHSHH thì vẫn phạm tội cố ý gây thương tích
Ví dụ: A 20 tuổi cố ý gây thương tích cho B 15 tuổi với tỷ lệ thương tật là
10% thì A vẫn phạm tội cố ý gây thương tích.
2.2. Tước đoạt trái phép tính mạng của người khác phạm tội giết người.
Nhận định sai. Vì có những hành vi tước đoạt trái phép tính mạng của người khác như:
Do vượt quá phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt
giữ người phạm tội(điều 126BLHSHH)
Làm chết người trong khi thi hành công vụ (điều 127)…
Qua các cơ sở trên có thể thấy còn có các hành vi tước đoạt trái phép tính
mạng của người khác nhưng không phạm tội giết người mà CT các TP
khác được quy định tại BLHSHH
2.3. Giao cấu trái ý muốn của nạn nhân phạm tội hiếp dâm. 3
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
Nhận định sai. Vì có những hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân
mà CTTP tội khác như giao cấu với người khác mà người đó dưới 16 tuổi
thì CTTP hiếp dâm người dưới 16 tuổi(điểu 142).
2.4. Mua bán người qua biên giới phạm tội mua bán người.
Nhận định sai. Vì đối với những hành vi mua bán người mua bán người
qua biên giới mà nạn nhân là người dưới 16 tuổi thì CTTP tội mua bán
người dưới 16 tuổi( điểm đ khoản 2 điều 151)
2.5. Đối với tội vô ý làm chết người chỉ khi nào hậu quả chết người xảy
ra mới cấu thành tội phạm.
Nhận định đúng. Vì tội vô ý làm chết người là tội phạm có cấu thành vật
chất nên hậu quả là yếu tố bắt buộc đối với tội phạm này.
3. CÂU HỎI TÌNH HUỐNG
3.1. A thực hiện ý định muốn giết B bằng cách dùng dao đâm ngực B vào
ban đêm qua cửa sổ nhà B nhưng kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy B
chết trước đó 2 giờ vì tai biến mạch máu não. Hỏi: A có phạm tội không?
Nếu có phạm tội gì? Vì sao?
Hành vi của A có phạm tội. Phạm tội giết người ở giai đoạn chưa đạt
Vì theo quy định điểu 123 BLHSHH thì ĐTTĐ của tội giết người là
người đang còn sống. Tuy rằng, khi thực hiện hành vi thì B đã chết do tai
biến mạch máu não, nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi, trong nhận
thức của A là B đang còn sống. Vì vậy A vẫn bị coi là phạm tội giết
người ở giai đoạn chưa đạt và vẫn chịu TNHS
3.2. Vì muốn giết A nên B chờ cho gia đình A đi làm hết đã cài mìn hẹn
giờ vào nhà A. Sau khi về nhà, suy nghĩ lại, B ân hận và đã kịp thời gỡ
mìn ra nên không gây hậu quả cho gia đình A. Hỏi: B có phạm tội giết
người không? Vì sao?
3.3. A có NLTNHS dùng dây điện giăng xung quanh vườn trồng dưa hấu
trước nhà mình để diệt chuột. Xung quanh ruộng dưa có tường bao
quanh cao 1m40 và không có lối đi tắt. Thông thường A cắm điện vào lúc
22 giờ đêm và ngắt điện vào 5 giờ sáng hôm sau. A đã thông báo với bà
con hàng xóm biết về việc cắm điện này. Khoảng 1 giờ sáng N ở xã bên
trèo tường để vào vườn dưa của A để trộm dưa và bị điện giật chết Hỏi:
A có phạm tội không? Nếu có phạm tội gì? Vì sao?
3.4. A có ý định giết B nên lợi dụng đêm khuya, A lên vào nhà B và dùng
dao đâm vào ngực B – 1 nhát dao đúng ngay tim. Kết quả khám nghiệm
tử thi cho thấy, B đã chết trước đó 2 giờ do đột quỵ. Theo anh/chị, A cỏ
phạm tội không? Nếu có là tội gì? Vì sao?
3.5. Do mâu thuẫn với nhau trong quá trình sản xuất và bản cà phê, A đã
lên kế hoạch giết B. A đợi cả gia đình B đi vào rẫy cà phê và 02 con của
B đi học, A đã cài mìn hẹn giờ vào nhà B. Sau khi về nhà, A đã suy nghĩ 4
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
lại, A cho rằng nếu làm như vậy sẽ giết chết luôn 02 đứa nhỏ, như vậy thì
độc ác quá nên A đã quay lại nhà B và gỡ mìn ra, vì vậy không gây ra
hậu quả cho gia đình B. Theo anh/chị, A có phạm tội giết người không?
Vì sao? A có phạm tội khác không? Vì sao?
3.6. Tình huống 6
3.6.1. Giết người trong khi thi hành công vụ vì hống hách, có thái độ coi
thường tính mạng của người khác.
3.6.2. Dùng bẫy điện diệt chuột gây hậu quả chết người 128
3.6.3. Nhìn thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà bỏ đi
3.6.4. Bỏ đói trẻ sơ sinh dẫn đến chết
3.6.5. Đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình
3.6.6. Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ làm nạn nhân chết
3.6.7. Giao cấu với trẻ em
3.6.8. Bán con đẻ của mình
3.6.9. Vứt đồ dạc của người thuê nhà ra người đường và không cho họ
3.6.10. tiếp tục ở trong nhà mà người thực hiện là chủ sở hữu
3.6.11. Gây khó khăn để không tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, tố cáo
3.6.12. Mua bán người
3.6.13. Không thực hiện trách nhiệm cấp dưỡng cho cha mẹ già con chưa thành niên
3.6.14. Giao cấu với người có cũng dòng máu trực hệ
3.6.15. Không cho phép con kết hôn với người mà con lựa chọn
3.6.16. Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu trực hệ 5
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463 BÀI LÀM CHƯƠNG 2
Phân biệt: Tội giết người ở giai đoạn hoàn thành và tội cố ý gây thương
tích gây hậu quả chết người: Tiêu chí Giết người
Cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người Cơ sở pháp lý Điều 123 BLHS 2015 Điều 134 BLHS 2015
Gây tổn hại đến thân thể nạn nhân. Mục đích
Tước đoạt tính mạng của nạn nhân.
Việc nạn nhân chết nằm ngoài ý thức
chủ quan của người phạm tội. Mức độ,
Mức độ tấn công yếu hơn và không cường độ
Nhanh và liên tục với cường độ tấn liên tục dồn dập với cường độ tấn tấn công
công mạnh có thể gây chết người
công nhẹ hơn (vì không có ý định giết người) Vị trí tác động trên
Thường là những vị trí trọng yếu trên Vị trí không gây nguy hiểm chết cơ thể
cơ thế như vùng đầu, ngực
người như vùng vai, tay, chân, v.v..
Lỗi vô ý đối với hậu quả chết người
Lỗi cố ý: Nhận thức rõ hành vi của xảy ra: Thấy trước hành vi của mình
mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả chết người,
nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không
Yếu tố lỗi thấy trước hậu quả của hành vi đó và
mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc xảy ra, có thể ngăn ngừa được hoặc
tuy không mong muốn nhưng để mặc họ không thấy trước hành vi của mình hậu quả xảy ra
có thể gây ra hậu quả chết người, mặc
dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Hình phạt Có thể bị tử hình Không bị tử hình
Tội vô ý làm chết người với tội cố ý gây thương tích trong trường hợp
dẫn đến hậu quả chết người Tiêu chí Vô ý giết người
Cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người Cơ sở pháp lý Điều 128 BLHS 2015 Điều 134 BLHS 2015
Yếu tố Lỗi vô ý: không nhận thức được hành vi Lỗi vô ý đối với hậu quả chết người xảy ra: lỗi
của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, Thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
không thấy trước hậu quả của hành vi đó quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ
và không mong muốn hậu quả đó xảy ra
không xảy ra, có thể ngăn ngừa được hoặc họ
không thấy trước hành vi của mình có thể gây 6
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
ra hậu quả chết người, mặc dù phải thấy trước
và có thể thấy trước hậu quả đó
Tội vô ý làm chết người được thực hiện
Chủ thể bởi bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi có
Ở khoản 1 và 2 người từ đủ 16 tuổi NLTNHS
Ở khoản 3-4 và 5 người từ đủ 14 tuổi
- Khoản 1 Điều 128 quy định khung hình
phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03
- Khoản 4 Điều 134 quy định khung hình
năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
phạt phạt tù từ 07 năm đến 14 năm. Khung
Khung này áp dụng đối với trường hợp
này áp dụng đối với trường hợp hành vi của
người phạm tội dẫn đến hậu quả làm chết 01 Hình
hành vi của người phạm tội vô ý làm chết người. phạt 01 người.
- Khoản 2 Điều 128 quy định khung hình
- Khoản 5 Điều 134 quy định khung hình
phạt phạt tù từ 03 năm đến 10 năm áp
phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
dụng đối với trường hợp vô ý làm chết từ
chung thân, áp dụng đối với trường hợp dẫn 02 người trở lên.
đến hậu quả làm chết từ 02 người trở lên.
Hành vi phạm tội thuộc mặt khách quan
của tội phạm thể hiện ở hành động do cẩu
thả hoặc quá tự tin mà gây ra cái chết cho
nạn nhân. Hành vi khách quan tương tự
như hành vi thực hiện tội phạm giết người.
Hành vi phạm tội có thể hành động hoặc
không hành động. Các phương tiện như
súng, dao, gây, tay chân, thuốc độc. . Hành
vi tước bỏ quyền sống của người khác
thường được thực hiện bằng các phương Mặt
thức như bắn, chém, đâm, treo cổ, bóp cổ, khách
đầu độc, đấm đá,v.v. . Ví dụ, người đi săn quan
tưởng người là thú nên đã bắn nhầm làm
chết người. Trường hợp không hành động
ít gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ,
người bác sĩ do quá cẩu thả nên đã sai sót
trong quá trình cấp cứu khiến bệnh nhân tử vong.
Hậu quả chết người là yếu tố bắt buộc
trong cấu thành tội phạm. Giữa hành vi vô
ý của người phạm tội và hậu quả chết là là
mối quan hệ nhân quả. Nguyên nhân cái
chết của phạm nhân là do hành vi vô ý của người phạm tội.
Mặt chủ Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi Lỗi tại Khoản 4, 5 Điều 134 BLHS 2015 quan vô ý.
người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
- Vô ý do cẩu thả là trường hợp do cẩu thả tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng lại
mà người phạm tội không thấy trước khả
vô ý đối với hậu quả chết người, lỗi dẫn đến
năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội,
chết người là lỗi vô ý từ hành vi của họ gây ra.
mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy
Nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn 7
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
trước. Như vậy vô ý làm chết người do cẩu
thả là trường hợp người phạm tội vì cẩu
thả nên đã không nhìn thấy trước hậu quả
chết người mặc dù pháp luật yêu cầu họ
phải thấy trước hậu quả đó.
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người
phạm tội thấy trước được hành vi của
nhân có mối quan hệ nhân quả Thí dụ: đấm
mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tỉnh
xã hội, nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ
mạch hông và do bị mắt nhiều máu nên nạn
không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhân bị chết.
nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra. Từ đây, có
thể hiểu vô ý làm chết người do quá tự tin
là trường hợp người phạm tội hoàn toàn
thấy trước được hậu quả chết người nhưng
do chủ quan, quá tự tin cho rằng hậu quả
không xảy ra nên vẫn thực hiện hành vi
đó, kết quả hậu quả chết người vẫn xảy ra.
Phân biệt tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân với tội giết người Tiêu
Tội khủng bố nhằm chống chính quyền chí nhân dân Tội giết người Khách
Xâm phạm quyền về nhân thân (quyền thể Xâm phạm an ninh quốc gia sống). Mặt chủ
Kẻ phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp.
Kẻ phạm tội có thể có lỗi cố ý trực tiếp hoặc quan gián tiếp.
- Tội khủng bố có hai hậu quả Mặt
+ Hậu quả trực tiếp là thiệt hại tính mạng
khách của nhân viên Nhà nước.
hậu quả của tội giết người là làm cho nạn quan
+ Hậu quả gián tiếp là làm cho chính quyền nhân chết. suy yếu. Mục
Mục đích của kẻ phạm tội là nhằm chống
Chủ yếu vì mục đích cá nhân, không nhằm đích chính quyền nhân dân.
chống chính quyền nhân dân.
Chủ thể của tội phạm này là những người từ Chủ thể
Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 14 đủ 16 tuổi trở lên. tuổi trở lên.
Khủng bố là hành vi xâm phạm tính mạng, Khái
sức khỏe tự do thân thể của nhân viên Nhà Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính niệm
nước, nhân viên tổ chức xã hội, hoặc công
mạng người khác trái pháp luật.
dân, nhằm chống chính quyền nhân dân. 8
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
Giết 02 người trở lên (điểm a khoản 1 Điều 123)
Giết 02 người trở lên là trường hợp người phạm tội cố ý gây ra cái chết cho 02 người khác trở
lên một cách trái pháp luật. Người phạm tội trong trường hợp này có ý định giết từ 02 người
trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc, chấp nhận hậu quả 02 người chết trở lên xảy ra. Nếu người
phạm tội có ý thức bỏ mặc, chấp nhận hậu quả chết người xảy ra (lỗi cố ý gián tiếp) thì phải có
từ 02 người chết trở lên mới áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này.
Nếu có 02 người chết, nhưng lại có 02 người chết do lỗi vô ý của người phạm tội thì không coi
là giết nhiều người mà thuộc trường hợp phạm hai tội: “Tội giết người” và “Tội vô ý làm chết
người”. Nếu có 02 người chết, nhưng chỉ có 01 người thuộc trường hợp quy định tại Điều 123
BLHS, còn người kia lại thuộc trường hợp trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc thuộc trường hợp làm chết người trong khi thi
hành công vụ thì cũng không định tội giết 02 người trở lên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể,
người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người và một tội khác (giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng...).
Giết người dưới 16 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 123)
Giết người dưới 16 tuổi được quy định là tình tiết định khung tăng nặng của Tội giết người, vì
hành vi này không những “phá vỡ” hạnh phúc của gia đình, làm “thui chột”, “lụi tàn” một “chủ
nhân” là thế hệ tương lai của đất nước mà còn thể hiện bản tính hèn hạ và độc ác của can
phạm. Xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ lớp
người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những người không có khả năng
tự vệ nên BLHS đã quy định tình tiết này là tình tiết định khung tăng nặng của tội phạm nói
chung và Tội giết người nói riêng.
Xuất phát từ cơ sở giết người dưới 16 tuổi có tính nguy hiểm cao hơn so với giết những đối
tượng bình thường khác, BLHS năm 1999 đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng giết trẻ
em vào Tội giết người và BLHS năm 2015 đã kế thừa quy định đó (chỉ thay cụm từ “trẻ em”
bằng cụm từ “người dưới 16 tuổi”). Quy định này không chỉ nhằm trừng trị nghiêm những
người có hành vi giết trẻ em, góp phần ngăn chặn tình trạng xâm phạm tính mạng của trẻ em
đang có xu hướng gia tăng mà còn nhằm bảo đảm thực hiện các quy định trong Công ước quốc
tế mà nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia hoặc ký kết về bảo vệ và chăm sóc trẻ em.
Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm c khoản 1 Điều 123)
Giết phụ nữ mà biết là có thai là trường hợp người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ
đang có thai (không kể tháng thứ mấy). Nếu nạn nhân là người tình của người phạm tội, người
phạm tội giết nạn nhân để trốn tránh trách nhiệm thì còn có thể bị áp dụng thêm tình tiết định
khung tăng nặng giết người vì động cơ đê hèn.
Nếu người bị giết có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội không biết họ đang
có thai thì không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này. Ngược lại, trong trường hợp
người phụ nữ bị giết không có thai, nhưng người phạm tội lại tưởng lầm là nạn nhân có thai và
sự lầm tưởng này của người phạm tội là có căn cứ, thì người phạm tội vẫn bị xét xử về Tội giết
người với tình tiết định khung tăng nặng “giết phụ nữ mà biết là có thai”.
Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm d khoản 1 Điều 123) 9
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
Giết người đang thi hành công vụ là cố ý gây ra cái chết cho người đang thực hiện một nhiệm
vụ được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội có thẩm quyền giao phó. Nhiệm vụ được giao
phó có thể là đương nhiệm do nghề nghiệp quy định như: Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
đang làm nhiệm vụ bảo vệ; thầy thuốc đang điều trị tại bệnh viện; thầy giáo đang giảng bài
hoặc hướng dẫn học sinh tham quan nghỉ mát; Thẩm phán đang xét xử tại phiên toà; thanh
niên cờ đỏ, dân quân tự vệ đang làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự ở nơi công cộng... Cũng có thể
được coi là giết người đang thi hành công vụ trong một số trường hợp nạn nhân là những công
dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác...) theo kế hoạch của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội hoặc nạn nhân tuy không
phải là những công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, nhưng đã tự nguyện
tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong một số lĩnh vực nhất định như:
Đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn những vụ đánh nhau ở nơi công cộng...
Khác với trường hợp giết người đang thi hành công vụ, giết người vì lý do công vụ của nạn
nhân là trường hợp giết nạn nhân không phải lúc họ đang thi hành công vụ mà có thể trước
hoặc sau đó. Thông thường, nạn nhân là người đã thi hành một nhiệm vụ và vì thế đã làm cho
người phạm tội thù oán nên đã giết họ. Tuy nhiên, có một số trường hợp người bị giết chưa kịp
thi hành nhiệm vụ được giao, nhưng người có hành vi giết người cho rằng nếu để người này
sống, nhiệm vụ mà họ thực hiện sẽ gây ra thiệt hại cho mình, nên đã giết nạn nhân trước.
Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 123)
Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình là trường hợp người
phạm tội đã cố ý gây ra cái chết cho những người mà họ phải kính trọng, phải biết ơn, đó là
ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình.
Hành vi giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình đã làm tăng đáng
kể mức độ lỗi của người phạm tội so với trường hợp giết người thông thường, làm đảo lộn các
giá trị xã hội và báo động tình trạng xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức, nhân cách. Bởi lẽ,
hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng đạo đức, mất hết “nhân tính”,
“dám” giết hại cả những người mà mình phải tôn thờ, kính trọng. Việc BLHS năm 2015 quy
định tình tiết định khung tăng nặng giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo
của mình nhằm trừng trị và giáo dục người phạm tội ý thức tôn trọng ông, bà, cha, mẹ, người
nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật và giữ gìn đạo đức xã hội.
Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điểm e khoản 1 Điều 123)
Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp giết người mà liền trước hoặc ngay sau khi
giết người, người phạm tội lại thực hiện một tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS năm 2015 quy định đối với tội
ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù hoặc một tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy
là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Ví dụ: Ngay sau khi giết nạn
nhân, người phạm tội lại thực hiện Tội cướp tài sản của người khác không có quan hệ gì với nạn nhân.
Tuy chưa có giải thích hoặc hướng dẫn như thế nào là “liền trước đó” hoặc “ngay sau đó”, 10
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
nhưng qua thực tiễn xét xử chỉ coi là liền trước hoặc ngay sau hành vi giết người, nếu như tội
phạm được thực hiện trước đó hoặc sau đó về thời gian phải liền kề với hành vi giết người có
thể trong khoảng thời gian vài giờ đồng hồ hoặc là trong ngày, nếu tội phạm thực hiện trước đó
hoặc sau đó có khoảng cách nhất định không còn liền với hành vi giết người thì không coi là
giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
Trường hợp giết người này khác với trường hợp giết người để thực hiện hoặc che giấu tội
phạm khác ở chỗ: Tội phạm mà người phạm tội thực hiện trước hoặc sau khi giết nạn nhân
không liên quan đến Tội giết người và phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác (điểm g khoản 1 Điều 123)
Giết người để thực hiện tội phạm khác là trường hợp sau khi giết nạn nhân, người phạm tội
còn thực hiện tội phạm khác. Tội phạm được thực hiện sau khi giết người phải có liên quan
mật thiết với hành vi giết người. Hành vi giết người là tiền đề, là phương tiện để thực hiện tội
phạm sau, nếu không giết người thì không thực hiện được tội phạm sau. Ví dụ: Giết người để
cướp tài sản, giết người để khủng bố, giết người để trốn đi nước ngoài...
Giết người để che giấu tội phạm khác là trường hợp trước khi giết nạn nhân, người phạm tội đã
thực hiện tội phạm khác và để che giấu tội phạm đó, người phạm tội đã giết nạn nhân. Thông
thường sau khi phạm một tội có nguy cơ bị lộ, người phạm tội cho rằng chỉ có giết người thì
tội phạm mà mình thực hiện mới không bị phát hiện. Người bị giết trong trường hợp này
thường là người đã biết hành vi phạm tội hoặc là người cùng thực hiện tội phạm với người
phạm tội. Ví dụ: A phạm tội trộm cắp tài sản của C bị B phát hiện. Để che giấu tội phạm trộm
cắp tài sản, A đã giết B.
Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác là trường hợp giết người xuất phát từ
động cơ để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác. Tội phạm khác có thể là tội phạm bất kỳ do
BLHS quy định, không bắt buộc phải là tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng và tội phạm khác cũng không bắt buộc phải được thực hiện liền trước đó hoặc
ngay sau khi người phạm tội giết nạn nhân.
Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm h khoản 1 Điều 123)
Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp giết người vì mục đích để lấy bộ
phận cơ thể của nạn nhân và khi có bộ phận cơ thể của nạn nhân, người phạm tội có thể dùng
để thay thế bộ phận đó cho mình hoặc cho người thân của mình hoặc để bán cho người khác.
Nếu vì quá căm tức, uất ức hoặc bị kích động mạnh mà người phạm tội sau khi giết nạn nhân
đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân để thỏa mãn sự căm tức, uất ức hoặc kích động mạnh thì
không thuộc trường hợp phạm tội này. Ví dụ: Sau khi giết người, người phạm tội đã mổ bụng,
lấy gan nạn nhân cho chó ăn. Trường hợp này có thể áp dụng tình tiết định khung tăng nặng
“thực hiện tội phạm một cách man rợ”.
Thực hiện tội phạm một cách man rợ (điểm i khoản 1 Điều 123)
Thực hiện tội phạm một cách man rợ là trường hợp giết người làm cho nạn nhân đau đớn, quằn
quại trước khi chết như: Mổ bụng, moi gan, khoét mắt, chặt chân tay, xẻo thịt, lột da, tra tấn
cho tới chết... Các hành vi này thường được người phạm tội thực hiện trước khi tội phạm hoàn
thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng coi các hành vi nêu
trên để che giấu tội phạm là hành vi thực hiện tội phạm một cách man rợ. Ví dụ: Sau khi đã 11
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
giết người, người phạm tội cắt xác nạn nhân ra nhiều phần đem vứt mỗi nơi một ít để phi tang.
Đây là vấn đề về lý luận cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi nếu coi cả
những hành vi có tính chất man rợ nhằm che giấu Tội giết người cũng là “thực hiện tội phạm
một cách man rợ” thì nên quy định trường hợp phạm tội này là “phạm tội một cách man rợ”, vì
phạm tội bao hàm cả hành vi che giấu tội phạm, còn thực hiện tội phạm mới chỉ mô tả hành vi
khách quan và ý thức chủ quan của người phạm tội trong cấu thành tội phạm giết người.
Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (điểm k khoản 1 Điều 123)
Là trường hợp người phạm tội đã sử dụng nghề nghiệp của mình để làm phương tiện giết
người dễ dàng và cũng dễ dàng che giấu tội phạm như: Bác sĩ giết bệnh nhân, nhưng lập bệnh
án là nạn nhân chết do bệnh hiểm nghèo; bảo vệ bắn chết người, nhưng lại vu cho họ là kẻ
cướp. Lợi dụng nghề nghiệp để giết người là phạm tội với thủ đoạn rất xảo quyệt, nên nhà làm
luật không chỉ dừng lại ở quy định là tình tiết tăng nặng mà coi thủ đoạn này là tình tiết định khung hình phạt.
Phải xác định rõ người phạm tội đã lợi dụng nghề nghiệp của mình để giết người thì mới thuộc
trường hợp phạm tội này. Nếu người có hành vi giết người bằng phương pháp có tính chất
nghề nghiệp, nhưng đó không phải là nghề nghiệp của y mà lại lợi dụng người có nghề nghiệp
đó rồi thông qua người này thực hiện ý đồ của mình thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
Ví dụ: Một kẻ đã đánh tráo ống thuốc tiêm của y tá điều trị, thay vào đó một ống thuốc giả có
nhãn hiệu như ống thuốc thật, nhưng có độc tố mạnh để mượn tay người y tá giết chết bệnh nhân mà y có thù oán.
Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (điểm l khoản 1 Điều 123)
Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là trường hợp người phạm tội
đã sử dụng những công cụ, phương tiện hoặc thủ đoạn phạm tội có khả năng làm chết từ 02
người trở lên như: Ném lựu đạn vào chỗ đông người; cho thuốc độc vào nguồn nước, bể nước
công cộng; bắn súng vào tàu, xe, ca nô khi đang có nhiều người ở trên...
Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người không những đe doạ gây ra
hậu quả chết nhiều người mà còn thể hiện mức độ tàn ác của hành vi phạm tội. Do đó, BLHS
năm 1985, BLHS năm 1999 và cả BLHS năm 2015 đều quy định tình tiết “giết người bằng
phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” là tình tiết định khung tăng nặng.
Thuê giết người hoặc giết người thuê (điểm m khoản 1 Điều 123)
Thuê giết người là trường hợp trả cho người khác tiền hoặc lợi ích vất chất để họ giết người
mà mình muốn giết. Cũng giống như những trường hợp thuê làm một việc, người phạm tội vì
không trực tiếp thực hiện hành vi giết người nên đã dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để
thuê người khác giết người. Người trực tiếp giết người trong trường hợp này là người giết thuê.
Giết người thuê là trường hợp người phạm tội lấy việc giết người làm phương tiện để kiếm tiền
hoặc lợi ích vật chất khác. Vì muốn có tiền nên người phạm tội đã nhận lời với người thuê
mình để giết một người khác. Việc trừng trị nặng người giết thuê là nhằm ngăn chặn tình trạng
“đâm thuê, chém mướn”, nhất là trong nền kinh tế thị trường, ở nơi này hoặc nơi khác đã xuất
hiện không ít người chuyên hoạt động đâm thuê, chém mướn.
Thuê giết người và giết người thuê có mối quan hệ mật thiết với nhau, cái này là tiền đề của
cái kia, thiếu một trong hai cái thì không có trường hợp giết người này xảy ra (có người thuê,
mới người làm thuê). Thông thường việc giết người thuê và thuê giết người đồng thời là 12
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
trường hợp giết người có tổ chức, nhưng cũng có thể chỉ là trường hợp đồng phạm bình thường.
Có tính chất côn đồ (điểm n khoản 1 Điều 123)
Giết người có tính chất côn đồ là trường hợp giết người vô cớ (không có nguyên cớ) hoặc cố
tình sử dụng những nguyên cớ nhỏ nhặt để giết người, thể hiện ý thức coi thường pháp luật,
coi thường tính mạng người khác và những quy tắc trong cuộc sống.
Khi xác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ cần phải có quan điểm xem xét toàn
diện mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, thái độ của người phạm tội khi gây án,
nguyên nhân nào dẫn đến việc người phạm tội giết người..., tránh xem xét một cách phiến diện
như: Chỉ nhấn mạnh đến nhân thân người phạm tội hoặc địa điểm xảy ra vụ giết người hay
hành vi cụ thể gây ra cái chết cho nạn nhân...
Có tổ chức (điểm o khoản 1 Điều 123)
Giết người có tổ chức là trường hợp giết người có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng
thực hiện tội phạm giết người. Nếu nhiều người cùng tham gia vào một vụ án giết người,
nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ mà chỉ có sự đồng tình mang tính chất hời hợt thì không
phải là giết người có tổ chức.
Thực tiễn xét xử cho thấy, do chưa có quan niệm thống nhất cho nên một số Tòa án đã nhầm
lẫn phạm tội có tổ chức với những trường hợp đồng phạm khác. Vì vậy, để phân biệt phạm tội
có tổ chức với những trường hợp đồng phạm khác cần phải chú ý đến các vấn đề sau đây1:
Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây: (1) Những người đồng
phạm giết người đã tham gia một tổ chức phạm tội như: Hội, băng, ổ... có những tên chỉ huy,
cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội giết người không có những tên chỉ huy, cầm
đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm
tội. (2) Những người đồng phạm giết người đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế
hoạch đã thống nhất trước. (3) Những người đồng phạm giết người tuy chỉ thực hiện tội phạm
một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu
đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm.
Ví dụ: Giết người mà có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị
phương tiện và kế hoạch che giấu tội phạm...
Tái phạm nguy hiểm (điểm p khoản 1 Điều 123)
Người phạm tội giết người bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm nếu
họ thuộc một trong hai trường hợp sau đây:
Một là, đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,
chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi giết người. Ví dụ: A đã bị kết án về tội cướp tài
sản chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi giết người.
Hai là, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi giết người. Ví dụ: A đã tái
phạm về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi giết người.
Vì động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 123)
Giết người vì động cơ đê hèn là trường hợp giết người vì những động cơ như2: Giết vợ hoặc
chồng để tự do lấy vợ hoặc chồng khác; giết chồng để lấy vợ hoặc giết vợ để lấy chồng nạn
nhân; giết người tình mà biết họ đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết chủ nợ để
trốn nợ; giết người để cướp tài sản; giết người là ân nhân của mình… Ngoài các trường hợp đã 13
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
nêu trên, thực tiễn xét xử còn coi trường hợp vì không giết được người mình muốn giết mà giết
người thân của họ là giết người vì động cơ đê hèn.
Phân tích khái niệm: giao cấu có tính chất loạn luân
Loạn luân là (Hành vi) giao cấu giữa những người cùng dòng máu về trực
hệ, giữa anh chị em cùng cha mẹ, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
Bộ luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ
sung năm 2017) định nghĩa về hành vi loạn luân, cụ thể như sau:
"Loạn luân là hành vi giao cấu với người mà biết rõ người đó có cùng
dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha
khác mẹ, anh chị em cùng mẹ khác cha".
Phân biệt tội bức tử (Điều 130) với tội hành hạ người khác (Điều 140) Tiêu chí Tội bức tử
Tội hành hạ người khác Cơ sở pháp lý Điều 130 BLHS 2015 Điều 140 BLHS 2015
- Khoản 1 Điều 130 quy định khung
- Khoản 1 Điều 140 quy định khung
hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 07
hình phạt cải tạo không giam giữ
năm. Khung này áp dụng đối với
đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng
trường hợp hành vi của người phạm đến 02 năm. Hình phạt tội làm chết 01 người.
- Khoản 2 Điều 140 quy định khung
- Khoản 2 Điều 130 quy định khung
hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03
hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 12
năm áp dụng đối với trường hợp
năm áp dụng đối với trường hợp được
được quy định tại điểm a, b và c
quy định tại điểm a và b K2Đ130. K2Đ140
Hành vi khách quan của tội bức tử + Không dẫn đến hậu quả nạn
phải dẫn đến hậu quả là người phạm nhân tự sát
tội tự sát, tức là, ,nạn nhân, có thể Ngoài ra, Nạn nhân của tội bức tử
bằng nhiều phương pháp khác nhau, là những người lệ thuộc người
đã tự mình thực hiện việc tước đoạt phạm tội. Nạn nhân của tội làm
tính mạng của chính mình như: thắt nhục người khác là người lệ thuộc
cổ, uống thuốc độc, nhảy xuống ngoài ông bà cha mẹ con cháu,
sông, đâm vào bụng, bắn vào đầu hoặc người có công nuôi dưỡng v.v… người phạm tội.
+ Hành vi tự sát phải do chính nạn Kết luận: Khi một người có hành
nhân thực hiện, trường hợp nạn vi đối xử tàn ác, làm nhục người lệ
nhân muốn chết nhưng lại không tự thuộc mình, căn cứ vào hậu quả
mình thực hiện hành vi mà nhờ xảy ra để xác định tội danh. Nếu
người khác giúp thì không cấu hậu quả dẫn đến việc người lệ thành tội phạm này
thuộc tự sát thì cấu thành tội bức
+ Hành vi tự sát không nhất thiết tử. 14
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
phải có hậu quả chết người CHƯƠNG 4
1. CÂU HỎI TỰ LUẬN
1.1. Trình bày đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu;
1.2. Phân biệt các tội sau: −
Tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản; −
Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản; −
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
2. NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
2.1. Người nào nhặt được tiền của người khác có giá trị từ 5 triệu đồng
trở lên mà không trả lại cho người đánh mất thì phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản.
2.2. Lén lút chiếm đoạt gói ma túy của người khác có giá trị từ 2 triệu
đồng trở lên phạm tội trộm cắp tài sản.
2.3. Nhanh chóng tẩu thoát sau khi chiếm được tài sản là dấu hiệu bắt
buộc trong CTTP tội cướp giật tài sản.
2.4. Không phải mọi loại tài sản đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.
2.5. Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản là
hành vi chỉ được quy định trong Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS).
3. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
3.1. Ngày 11/2/2015, A yêu cầu cháu H 12 tuổi 8h ngày mai phải đưa cho
A 500 ngàn đồng nếu không A sẽ đánh cháu thành tật. Vì không có tiền
để giao nộp cho Á nên 9h sáng hôm sau A đã chặn đường và đánh cháu
H. Hỏi: A phạm tội gì? Vì sao?
3.2. A và B thấy nhà C đi nghỉ mát nên đã mặc đồng phục của công ty
bảo dưỡng điện máy thuê xe đến mở cửa chở 2 ti vi giá trị 35 triệu đồng
của nhà C đi. Nhiều nhà hàng xóm nhìn thấy những việc làm trên của A
và B nhưng không phản ứng vì tưởng A và B là thợ do C gọi đến đưa ti vi
đi bảo dưỡng. Hỏi: A và B phạm tội gì? Vì sao?
3.3. Lợi dụng sơ hở của chị A, B đã lấy trộm chìa khóa và thẻ xe máy
hiệu Lead của chị A. Sau đó, B đã vào bãi giữ xe và lấy xe của chị A đi.
Sau khi dắt xe ra khỏi bãi giữ xe, B bị chị A phát hiện và tri hô cho mọi
người bắt giữ. Về tội danh của B có các ý kiên sau: −
B phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; −
B phạm tội công nhiệm chiếm đoạt tài sản; 15
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463 −
B phạm tội trộm cắp tài sản.
Hỏi: Theo anh/chị, hành vi của B thỏa mãn cấu thành tội phạm của
tội danh nào? Vì sao
3.4. Tối 24/12, trước cửa nhà hát thành phố rất đông người chen lấn mua
vé vào xem ca nhạc. Lợi dụng lúc mọi người chen lấn không chú ý tới tài
sản A đã khéo léo bật khóa dây đồng hồ của anh H đang treo trên tay làm
đồng hồ của anh H rơi xuống đất để A nhặt. Khi đồng hồ bị rơi mặc dù
đang chen lấn nhưng anh H vẫn phát hiện hành vi của A nên đã túm được
tay A và lấy lại đồng hồ, đồng thời giao A cho công an địa phương xử lý.
Chiếc đồng hồ của anh H trị giá 5 triệu đồng. Hỏi: với những tình tiết nêu
trên, anh (chị) hãy xác định A phạm tội gì? Lý giải vì sao? CHƯƠNG 5
1. CÂU HỎI TỰ LUẬN
1.1. Trình bày đặc điểm chung của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. 1.2. Phân biệt:
1.2.1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
1.2.2. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
2. NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
2.1. Hành vi buôn bán hàng hóa nhà nước cấm kinh doanh với số lượng
lớn phạm tội buôn án hàng cấm.
2.2. Mọi trường hợp sửa sổ sách giấy tờ để không phải nộp thuế đều phạm tội trốn thuế.
2.3. Hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới trái với quy định của Nhà
nước về sản xuất, nhập khẩu phạm tội buôn lậu.
2.4. Buôn bán trái phép ma túy qua biên giới quốc gia không phạm tội buôn lậu. 16
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
2.5. Không phải mọi trường hợp làm ra hàng giả đều phạm tội sản xuất hàng giả.
2.6. Buôn bán trái phép vũ khí quân dụng qua biên giới quốc gia phạm tội buôn lâu.
2.7. Chủ thể phạm tất cả các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao
gồm cả người phạm tội và pháp nhân thương mại.
2.8. Buôn bán hàng cấm qua biên giới phạm tội buôn lậu.
2.9. Người nào bao che cho người nộp thuế gây thất thoát tiền thuế của
Nhà nước thì đồng phạm với người trốn thuế với vai trò người giúp sức trong tội trốn thuế.
3. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
3.1. Ông A là giám đốc doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thực phẩm.
Sau khi nộp thuế 500 triệu đồng theo yêu cầu của cơ quan thuế, ông A đã
yêu cầu D là kế toán của công ty sửa sổ sách, giấy tờ để làm thủ tục hoàn
thuế VAT mặc dù công ty ông A không thuộc đối tượng được hoàn thuế
VAT. D không đồng ý nhưng sau khi nghe ông A dọa sẽ cho nghỉ việc
nếu không làm theo yêu cầu của ông A nên D đã phải làm theo. Sau đó,
công ty ông A đã được cơ quan thuế hoàn lại 200 triệu đồng. Vụ việc bị
phát giác. Về tội danh của ông A và D có các ý kiến: −
Ông A và D đồng phạm về tội trốn thuế; −
Ông A phạm tội trốn thuế, D do bị cưỡng ép nên không phạm tội; −
Ông A và D đồng phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ông A
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, D không phạm tội do bị cưỡng ép.
Hỏi: những người có tên trên ai phạm tội gì? Lý do vì sao? Có đồng phạm không?
3.2. Công an thành phố X phát hiện A vận chuyển 10.00 chai dầu gọi hiệu
H & S (đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam) không có giấy tờ hợp lệ.
Tại cơ quan công an A khai: Do thấy loại dầu gội của hãng này bán chạy
trên thị trường nên đã nghiên y cứu tìm cách pha chế ra loại dầu này. Sau
2 năm thì việc nghiên cứu thành công A thuê B là chủ một cơ sở in
50.000 vỏ chai loại 1 lít; thuê C chủ một cơ sở in 50.000 nhãn hiệu dầu
gội đầu hiệu H & S. Sau khi có vỏ chai và nhãn hiệu, A đã tự chế dầu gội
vào chai, dán nhãn mác và đem bỏ mối cho các quầy hàng trong thành phố.
Tại nơi ở của A cơ quan công an thu được 30.000 vỏ chai dầu và 2kg
nhãn dầu gội đầu hiệu H&S. Qua lấy lời khai của B và C tại cơ quan công
an xác định lời khai của A là đúng.
Kết quả giám định dầu gội do A sản xuất cho thấy: loại dầu gội đầu do A
sản xuất có một số thành phần tương tự loại dầu gội của hàng H&S và có
chất phụ gia không được phép sử dụng trong các sản phẩm là mỹ phẩm.
Hỏi: Theo anh/chị, A, B, C có phạm tội hay không? Phạm tội gì? Tại sao? 17
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
3.3. Công an huyện H tỉnh L bắt giữ 2 đối tượng là A, B đang chở nhiều
thùng hàng là quần áo, túi xách hàng hiệu của Ý từ cửa khẩu Việt Nam
cho ông C. Giá trị lô hàng A và B chở là 800 triệu đồng. A và B khai đã
từng chở thuê ở của khẩu này nhiều năm và chở mỗi chuyến 2 thùng
được trả công 300 ngàn đồng. Tất cả những thông tin trên qua điều tra
được xác định là chính xác. Hỏi: Các đối tượng có tên trên ai phạm tội gì? Vì sao? CHƯƠNG 6
1. CÂU HỎI TỰ LUẬN
1.1. Trình bày các đặc điểm chung của nhóm tội phạm về ma túy
1.2. Phân tích các khái niệm: - Chất ma túy; - Tiền chất ma túy;
- Công cụ, phương tiện được dùng vào vệc sử dụng, sản xuất trái phép chất ma túy.
1.3. Phân tích đường lối xử lý đối với các tội phạm về ma túy.
1.4. Phân tích các biểu hiện khách quan của nhóm tội phạm ma túy.
1.5. Phân tích các biểu hiện chủ quan của nhóm tội phạm ma túy.
2. CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
2.1. Mọi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đều cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy.
2.2. Làm ngơ, dung túng cho người khác sử dụng chất ma túy tại nơi
mình đang quản lý là hành vi cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. 18
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com) lOMoARcPSD|59178463
2.3. Không phải mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều cấu thành
tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
2.4. Hành vi làm cho chất ma tuýu từ loại ma túy này chuyển sang loại
ma túy khác một cách trái phép là hành vi cấu thành tội sản xuất trái phép chất ma túy.
2.5. Mọi trường hợp trồng cây thuốc phiện đã được giáo dục nhiều lần
mà còn vi phạm đều cấu thành tội trồng cây thuốc phiện hoặc các cây
khác có chứa chất ma túy.
3. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
3.1. A mua được 2 kg heroin. A đến gặp B nhờ chuyển dùm đến Quận X
cho một người quen với giá tiền công là 50 triệu đồng. B đang cần tiền
nên đồng ý thực hiện mặc dù biết rằng hàng được chuyển là heroin. Trên
đường đi, B bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. B
thành thật khai báo sự việc. Số hàng do B vận chuyển được giám định.
Theo kết quả giám định, số hàng đó không phải là chất ma túy. Qua điều
tra, cơ quan điều tra xác minh được là A đã mua nhầm hàng. Anh/chị hãy xác định:
a) A và B có phạm tội hay không? Vì sao?
b) Nếu A và B phạm tội thì đó là tội danh gì?
c) Nếu cơ quan điều tra xác định được người bán chất ma túy giả cho A
là C thì C có phạm tội hay không? Nếu có thì tội danh của C là gì?
3.2. A mua được 2 kg heroin. A đến gặp B nhờ chuyển dùm đến Quận X
cho một người quen với giá tiền công là 50 triệu đồng. B đang cần tiền
nên đồng ý thực hiện mặc dù biết rằng hàng được chuyển là heroin. Trên
đường đi, B bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. B
thành thật khai báo sự việc. Số hàng do B vận chuyển được giám định.
Theo kết quả giám định, số hàng đó không phải là chất ma túy. Qua điều
tra, cơ quan điều tra xác minh được là A đã mua nhầm hàng. Anh/chị hãy xác định:
a) A và B có phạm tội hay không? Vì sao?
b) Nếu A và B phạm tội thì đó là tội danh gì?
c) Nếu cơ quan điều tra xác định được người bán chất ma túy giả cho A
là C thì C có phạm tội hay không? Nếu có thì tội danh của C là gì? 19
Downloaded by Ng?cc Khánh (khanhngocShmily520@gmail.com)