HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------------------------------
BÀI TẬP NHÓM
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đào Thị Hữu
Nhóm lớp: K26CLC-TCC
Tên nhóm: Nhóm 3
Hà Nội, 05/2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT
HỌ VÀ TÊN
MÃ SINH VIÊN
ĐÓNG GÓP
1
Bùi Thị Thùy Dương
26A4011520
2
Nguyễn Minh Đức
26A4011930
3
Lý Thị Lan Hương
26A4012399
4
Tô Quốc Hùng
26A4012387
5
Chu Đức Trung
26A4010221
6
Nguyễn Huy Khánh
26A4012410
7
Trần Thùy Linh
26A4012866
8
Vũ Thị Tuyết Mai
26A4012875
9
Nguyễn Đức Thành
26A4010186
10
Hoàng Thị Hồng Gấm
26A4011931
11
Nguyễn Thị Phương Trang
26A4010212
12
Hà Quang Huy
26A4012388
Hà Nội, 03/2025
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 4
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................................. 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài .......................................................................... 4
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 4
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ............................................................................. 5
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................ 6
1. Cơ sở lý luận về gia đình và chức năng của gia đình ......................................................... 6
1.1. Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình ........................................................... 6
1.2. Vai trò của chức năng gia đình trong đời sống xã hội ................................................. 6
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay ........................ 6
2. Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay ..................................................... 7
2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người ......................................................................... 7
2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng ..................................................................... 8
2.3. Chức năng giáo dục con cái....................................................................................... 9
2.4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm ........................................................ 10
3. Phân tích, đánh gia nguyên nhân và hệ quả ................................................................... 12
3.1. Nguyên nhân .......................................................................................................... 12
3.2. Hệ quả ................................................................................................................... 13
4. Giải pháp xây dựng chức năng gia đình bền vững .......................................................... 14
4.1. Giải pháp từ phía Nhà nước và chính sách xã hội .................................................... 14
4.2. Giải pháp từ cộng đồng và các tổ chức xã hội .......................................................... 15
4.3. Giải pháp từ phía mỗi gia đình và cá nhân .............................................................. 16
5. Liên hệ bản thân........................................................................................................... 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................... 19
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là nền tảng căn bản của xã hội, giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì
và phát triển nòi giống, truyền thụ các gtrị đạo đức, văn hóa định hình nhân cách
con người. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt
Nam hiện nay, gia đình đang chịu nhiều tác động dẫn đến những biến đổi rõ rệt, đặc biệt
là về chức năng.
Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến từng cá nhân mà còntác động
lan tỏa đến toàn hội, từ quan hệ giữa các thế hệ đến sự ổn định hội nói chung.
Việc nghiên cứu sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay là một yêu cầu
cấp thiết nhằm nhận diện đúng thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và từ đó đưa ra những
giải pháp phù hợp để phát huy các chức năng tích cực của gia đình trong bối cảnh mới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề i làm sự biến đổi về chức năng của gia đình Việt Nam
hiện nay, thông qua đó đưa ra những đề xuất nhằm giữ gìn các giá trtruyền thống tốt
đẹp, đồng thời thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại.
Để đạt được mục đích đó, đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau: Hệ thống hóa
sở lý luận về khái niệm gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình; phân tích vai trò
của chức năng gia đình trong đời sống xã hội; tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự biến
đổi này trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chức năng cơ bản của gia đình và sự biến
đổi của các chức năng này trong đời sống hiện đại.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn các gia đình Việt Nam đương đại, chủ yếu
là các gia đình ở khu vực thành thị nông thôn tiêu biểu. Về mặt thời gian, đề tài tập
trung nghiên cứu trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, gắn với quá trình đổi mới và hội
nhập sâu rộng của đất nước.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của các ngành khoa học xã hội như xã hội học, tâm
học, kinh tế học chính trị học, đặc biệt các thuyết về thiết chế hội sự
biến đổi xã hội.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phân tích tài liệu, tổng hợp lý
thuyết, so sánh và khái quát. Ngoài ra, đề tài cũng kết hợp với khảo sát thực tế và quan
sát hội để cái nhìn khách quan sâu sắc hơn về thực trạng biến đổi chức năng
gia đình.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ thêm hệ thống lý thuyết về chức năng gia
đình sự biến đổi của trong bối cảnh hội hiện đại Việt Nam. Những kết quả
nghiên cứu thể phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu học tập trong các
ngành khoa học xã hội.
Về mặt thực tiễn, đề tài giúp nâng cao nhận thức của các nhân quan
chức năng về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội hiện đại. Từ đó góp phần xây dựng
chính sách và giải pháp hỗ trợ gia đình phát triển bền vững, đồng thời đóng vai trò quan
trọng trong sự ổn định và phát triển xã hội.
PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận về gia đình và chức năng của gia đình
1.1. Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình
Gia đình một thiết chế hội bản, gồm những người quan hệ huyết
thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, cùng chung sống và gắn bó với nhau về mặt vật chất
cũng như tinh thần. Trong xã hội, gia đình không chỉ là nơi tái sản xuất về mặt sinh học
mà còn là nơi tái sản xuất văn hóa, đạo đức và xã hội.
Các chức năng bản của gia đình bao gồm: chức năng sinh sản nhằm duy trì
nòi giống; chức năng kinh tế với vai trò là đơn vị tiêu dùng và sản xuất; chức năng giáo
dục hội hóa trẻ em; chức năng tình cảm – tinh thần để chăm sóc và hỗ trợ các thành
viên; chức năng kiểm soát hội thông qua việc định hướng điều chỉnh hành vi
cá nhân theo chuẩn mực cộng đồng.
1.2. Vai trò của chức năng gia đình trong đời sống xã hội
Chức năng của gia đình có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển của xã hội. Thông qua chức năng sinh sản, gia đình duy trì sự tồn tại của dân số và
đảm bảo nguồn nhân lực cho đất nước.
Thông qua chức năng giáo dục hội hóa, gia đình hình thành phát triển
nhân cách cá nhân, nuôi dưỡng những công dân có trách nhiệm. Với chức năng kinh tế,
gia đình tham gia vào chu trình kinh tế xã hội, tạo ra phân phối của cải. Đặc biệt,
chức năng tình cảm – tinh thần là nền tảng quan trọng để đảm bảo sức khỏe tâm lý, tình
cảm của con người – điều kiện cốt lõi để xã hội phát triển bền vững.
Tất cả các chức năng này kết hợp hài hòa sẽ tạo ra một môi trường ổn định, nuôi
dưỡng và phát triển con người toàn diện.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay
Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố.
Thứ nhất quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã thay đổi hình trú,
quy mô và kết cấu gia đình, từ gia đình nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân.
Thứ hai là cơ chế thị trường đã đặt ra những áp lực kinh tế, làm gia tăng mâu thuẫn
ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình.
Thứ ba, ảnh hưởng của toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại
chúng đã đưa vào xã hội Việt Nam nhiều giá trị và lối sống mới, trong đó có cả mặt tích
cực và tiêu cực.
Ngoài ra, chính sách dân số, phúc lợi hội, và quyền con người ngày càng được
chú trọng, p phần thay đổi nhận thức về vai trò của các thành viên trong gia đình,
nhất là vai trò của phụ nữ và trẻ em.
Tất cả những yếu tố y đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi sâu sắc chức năng truyền thống
của gia đình Việt Nam.
2. Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay
Trong hệ thống lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học, gia đình được nhìn nhận
là một hình thức cộng đồng xã hội đặc thù, là tế bào cơ bản và thiết yếu của xã hội. Gia
đình không chỉ đảm nhận chức năng sinh học tái sản xuất ra con người về mặt sinh
học, mà còn nơi diễn ra quá trình xã hội hóa đầu tiên đối với mỗi cá nhân – một quá
trình có ý nghĩa quyết định trong việc nh thành nhân cách, tưởng, lối sống đạo
đức phù hợp với mục tiêu xây dựng con người hội chủ nghĩa. Chính vậy, trong
chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề gia đình luôn được xem là một nội dung quan trọng,
gắn liền với quá trình cải biến hội cũ và xây dựng xã hội mới. Gia đình không tồn tại
một cách biệt lập, mà luôn vận động và biến đổi dưới sự tác động của kiến trúc thượng
tầng và cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Do đó, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam một giai đoạn lịch sử đặc biệt với nhiều chuyển biến sâu sắc về kinh tế,
chính trị, văn hóa hội, thì gia đình cũng không nằm ngoài quy luật vận động
biến đổi đó. So với thời kỳ trước Đổi mới (khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn
chi phối), các chức năng gia đình hiện nay vừa kế thừa những giá trị truyền thống, vừa
tiếp biến những yếu tố mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người
Tớc Đổi mới (trước 1986), Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quan niệm truyền
thống như “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, “đông con hơn nhiều của”. Trong bối cảnh kinh
tế tập trung bao cấp, điều kiện sống còn hạn chế, công tác dân số sức khỏe sinh sản
chưa được quan tâm đúng mức, quy mô gia đình thường lớn, phổ biến là gia đình nhiều
thế hệ, nhiều con. Việc nuôi ỡng trẻ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền thống, thiếu
sở khoa học điều kiện vật chất cần thiết. Từ đó, chức năng tái sản xuất ra con
người phần lớn mang tính tự nhiên, chưa được định hướng ràng theo yêu cầu y
dựng hội mới. Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của chính sách dân số - kế
hoạch hóa gia đình, đô thị hóa, nâng cao dân tvà hội nhập quốc tế, chức năng tái sản
xuất của gia đình đã có những thay đổi rõ nét, cả về lượng và chất: Về mức sinh và quy
mô gia đình: Phần lớn các gia đình hiện nay có xu hướng lựa chọn sinh ít con – thường
từ 1 đến 2 con nhằm đảm bảo điều kiện nuôi dạy tốt hơn. Gia đình hạt nhân ngày càng
phổ biến, đặc biệt tại đô thị. Xu hướng này phợp với định hướng xây dựng hội
văn minh, hiện đại mà chủ nghĩa xã hội khoa học hướng đến: kiểm soát quy mô dân số
hợp lý để nâng cao chất lượng cuộc sống toàn dân.
Về nuôi dưỡng và chăm sóc: Chất lượng đời sống vật chất tinh thần ngày càng
được cải thiện, tạo điều kiện cho các gia đình đầu tốt hơn cho con cái, từ chăm sóc
sức khỏe, dinh dưỡng đến giáo dục, tâm lý. Các kiến thức khoa học hiện đại về y tế,
tâm sinh lý trẻ em được phổ biến rộng rãi, giúp nâng cao năng lực thực hiện chức năng
nuôi dưỡng. Đồng thời, sự tiến bộ vbình đẳng giới cũng tác động tích cực, làm thay
đổi nhận thức hành vi trong gia đình người cha ngày càng chủ động tham gia vào
quá trình chăm sóc, nuôi dạy con cái, thay vì chỉ là trụ cột kinh tế như trước kia.
Tuy nhiên, quá trình biến đổi chức năng tái sản xuất ra con người cũng đặt ra một
số thách thức đáng lưu ý như: tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh, đặc biệt ở đô thị,
làm gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh hội; mất cân bằng giới tính khi sinh do
tưởng sính con trai vẫn tồn tại một bộ phận người dân; áp lực nuôi dạy con cái
trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nhất ới tác động của kinh tế thị
trường và mạng xã hội.
2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Trong hệ thống lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học, chức năng kinh tế của gia đình
được hiểu không chỉ đơn thuần là hoạt động tạo thu nhập hay tiêu dùng, mà còn là một
khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội toàn diện – bao gồm tái sản xuất sức
lao động, duy trì đời sống vật chất tinh thần của các thành viên, góp phần ổn định
kinh tế - hội trong tổng thể cấu hội. Gia đình, với cách là một thiết chế
hội bản, giữ vai trò trung gian giữa nhân hội, giữa sản xuất tiêu dùng,
đặc biệt trong bối cảnh quá độ n chủ nghĩa hội nơi các yếu tố thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tồn tại và tác động qua lại.
Thời bao cấp với đặc điểm sản xuất do Nhà nước nắm giữ phân phối sản
phẩm chyếu thông qua tem phiếu. Gia đình không đóng vai trò sản xuất độc lập
chủ yếu đơn vị tái sản xuất sức lao động thông qua việc duy trì điều kiện sống tối
thiểu cho các thành viên, đặc biệt lực lượng lao động tham gia vào các đơn vị sản
xuất quốc doanh hoặc hợp tác xã. Hoạt động kinh tế trong gia đình nếu thường
sản xuất tự cấp tự túc, chưa tạo ra của cải hàng hóa giá trị trao đổi lớn. Từ sau
công cuộc Đổi mới trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa, chức năng kinh tế của gia đình đã những biến chuyển căn bản cả về
bản chất và hình thức thực hiện:
Đa dạng hóa nguồn thu nhập: Gia đình ngày nay không chỉ nơi tiêu dùng
còn trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra của cải xã hội. Các thành viên trong gia đình
có thể đảm nhiệm nhiều vai trò kinh tế: làm công ăn lương, sản xuất kinh doanh cá thể,
hộ gia đình, hoặc tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, kinh doanh số... Tính năng
động trong cấu thu nhập phản ánh nét sự chuyển mình của gia đình từ chỗ phụ
thuộc vào phân phối nhà nước sang chủ động tham gia thị trường.
Chuyển dịch từ sản xuất sang tiêu dùng: Mặc dù ở nông thôn và các vùng truyền
thống, gia đình vẫn duy trì vai trò sản xuất, nhưng phần lớn hội hiện đại, đặc biệt
tại đô thị, gia đình chủ yếu là đơn vị tiêu dùng. Nhu cầu tiêu dùng không chỉ dừng lại ở
lương thực, thực phẩm mở rộng ra giáo dục, y tế, giải trí, công nghệ… Phản ánh
mức sống ngày càng được nâng cao, đồng thời cũng thể hiện vị trí then chốt của gia
đình trong chuỗi luân chuyển hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường.
Áp lực kinh tế phân hóa giàu nghèo: Kinh tế thị trường đặt các gia đình vào
môi trường cạnh tranh gay gắt, nơi mỗi gia đình đều phải tự chủ trong việc tổ chức đời
sống kinh tế. Điều này tuy giúp phát huy tính chủ động, sáng tạo, nhưng cũng khiến
nhiều gia đình đối mặt với rủi ro kinh tế, đặc biệt là nhóm yếu thế. Hệ quả là tình trạng
phân hóa giàu nghèo ngày càng nét, không chỉ gây ra bất bình đẳng hội còn
tiềm ẩn nguy cơ xung đột giá trị và mất ổn định trong đời sống gia đình.
Thay đổi vai trò kinh tế của phụ nữ: Trong cơ cấu kinh tế mới, phụ nữ không còn
bị hẹp trong vai trò nội trợ truyền thống ngày càng tham gia sâu rộng vào thị
trường lao động. Họ đóng góp quan trọng vào thu nhập gia đình từng bước khẳng
định vị thế kinh tế - xã hội của bản thân. Đây là bước tiến tích cực trong việc thực hiện
bình đẳng giới một trong những mục tiêu của chủ nghĩa hội khoa học, đồng thời
cũng tạo điều kiện để xây dựng mô hình gia đình dân chủ, tiến bộ.
Sự biến đổi này phản ánh sự thích ứng linh hoạt của gia đình Việt Nam với
chế kinh tế mới, đồng thời cũng cho thấy những mâu thuẫn nội tại cần được nhận diện
và giải quyết từ góc độ chính sách và định hướng xã hội. Nếu chạy theo lợi ích kinh tế
đơn thuần mà xem nhẹ các giá trị tinh thần, đạo đức và mối quan hệ nhân văn trong gia
đình, sẽ dẫn đến nguy cơ tha hóa mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.
Do đó, Chủ nghĩa xã hội khoa học đòi hỏi phải có sự điều tiết hài hòa giữa phát
triển kinh tế và phát triển con người, trong đó gia đình chính là nơi kết nối, cân bằng và
chuyển hóa các giá trị vật chất – tinh thần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.3. Chức năng giáo dục con cái
Chức năng giáo dục một trong những sứ mệnh thiêng liêng trụ cột của gia đình,
đặc biệt quan trọng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi mục tiêu tối thượng là xây dựng
con người phát triển toàn diện, làm chủ bản thân, xã hội và thiên nhiên, trung thành với
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học, giáo dục gia đình
không chỉ là việc truyền lại kiến thức hay kỹ năng, mà còn là quá trình hình thành nhân
cách, bồi dưỡng tâm hồn, định hướng giá trtưởng sống cho thế hệ trẻ, biến họ
thành những công dân có ích, tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Tớc Đổi mới, giáo dục gia đình chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ các giá
trị đạo đức truyền thống, nề nếp gia phong, lòng yêu nước, tinh thần lao động tập thể
tưởng hội chủ nghĩa giản đơn. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường hội
còn chặt chẽ trong việc quản lý và giáo dục thế hệ trẻ. Còn chức năng giáo dục gia đình
hiện nay đổi mới đa dạng hơn, phân công trách nhiệm thách thức từ môi trường đa
chiều. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng hội chnghĩa hội nhập
quốc tế sâu rộng, chức năng giáo dục của gia đình Việt Nam đã có những biến đổi n
bản, mang tính bước ngoặt:
Chuyên môn hóa phân công lại trách nhiệm: Sự phát triển mạnh mẽ của hệ
thống giáo dục quốc dân, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và các trung tâm kỹ năng đã
làm giảm gánh nặng giáo dục kiến thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp cho gia đình.
Nhà trường ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong việc trang bị tri thức kỹ năng
chuyên môn cho thế hệ trẻ, phản ánh quy luật phát triển hội ngày càng chuyên môn
hóa. Gia đình, do đó, có xu hướng tập trung hơn vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách,
kỹ năng sống, nh thành thói quen tốt định hướng giá trị ban đầu cho trẻ. Sự phân
công này là hợp trong xã hội hiện đại, nhưng cũng đặt ra u cầu về sự phối hợp nhịp
nhàng, tránh tình trạng "khoán trắng" một phần trách nhiệm cho nhà trường hoặc hội.
Mở rộng nội dung đa dạng hóa phương pháp giáo dục: Nội dung giáo dục
trong gia đình không còn giới hạn trong khuôn khổ truyền thống hay chỉ tập trung vào
lý tưởng hội chủ nghĩa giản đơn. Gia đình hiện đại phải trang bị cho con cái những
kiến thức kỹ năng cần thiết để thích ứng với một thế giới đầy biến động cạnh
tranh, bao gồm kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng sử dụng công nghệ thông tin
và hiểu biết về các nền văn hóa khác. Phương pháp giáo dục cũng có xu hướng chuyển
từ áp đặt, khuôn mẫu sang dân chủ hơn, tôn trọng cá tính, khuyến khích sự sáng tạo và
phát huy năng lực độc lập của trẻ, phù hợp với yêu cầu về phát triển con người cá nhân
trong xã hội mới.
Ảnh hưởng đa chiều của môi trường hội thông tin: Sự bùng ncủa công
nghệ thông tin, internet và mạng xã hội tạo ra một môi trường giáo dục "thứ hai" với
vàn thông tin và luồng văn hóa đa chiều, phức tạp, có cả tích cực và tiêu cực. Điều này
đặt ra thách thức lớn cho gia đình trong việc kiểm soát, szelectiva thông tin định
hướng đúng đắn cho con cái về các giá trị, lối sống. Cha mẹ cần trang bị kiến thức
kỹ năng để trở thành người đồng hành, tư vấn, giúp con phân biệt được điều hay lẽ phải
giữa một "ma trận" thông tin.
Áp lực thành tích nguy "lệch chuẩn": Áp lực từ hệ thống thi cử, kỳ vọng
của gia đình về thành tích học tập của con cái ngày càng gia tăng. Điều này khiến nhiều
gia đình tập trung tối đa nguồn lực và thời gian vào việc học văn hóa, đôi khi lơ là, thậm
chí xem nhẹ việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, rèn luyện thể chất hay bồi dưỡng tâm
hồn. Xu ớng "chạy đua" thành tích thể dẫn đến sự phát triển thiếu cân bằng về
nhân cách, hình thành những con người giỏi kiến thức nhưng thiếu hụt về phẩm chất
đạo đức, kỹ năng xã hội, ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa
phát triển toàn diện.
Những sự biến đổi này đòi hỏi gia đình phải nâng cao năng lực và phương pháp
giáo dục, đồng thời cần sự phối hợp hiệu quả hơn nữa giữa gia đình, nhà trường
xã hội để giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong bối cảnh mới. Đồng thời, Nhà nước và xã hội cần tăng cường vai trò hỗ trợ, định
hướng, tạo môi trường thuận lợi và có những chính sách phù hợp để gia đình thực hiện
tốt chức năng giáo dục của mình, góp phần đào tạo nên thế hệ trẻ vừa "hồng" vừa
"chuyên", đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
2.4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm
Trong hệ thống các chức năng cơ bản của gia đình, chức năng thỏa mãn nhu cầu
tâm lý, tình cảm mang một ý nghĩa đặc thù và sâu sắc. Đây chính nơi gia đình thực
sự trở thành "tổ ấm", là pháo đài tinh thần vững chắc, nơi mỗi cá nhân tìm thấy sự bình
yên, sẻ chia, thấu hiểu, yêu thương được tiếp thêm ng lượng để tồn tại phát
triển. Dưới góc độ chủ nghĩa hội khoa học, chức ng y không chỉ đơn thuần
vấn đề nhân của mỗi gia đình còn p phần quan trọng vào sự ổn định phát
triển bền vững của toàn hội. Một hội hội chủ nghĩa chỉ thể vững mạnh khi
những tế bào của - tức các gia đình - thực sự hạnh phúc, khi mỗi công dân được
nuôi dưỡng trong môi trường tràn đầy tình u thương, sự quan tâm hỗ trợ về mặt
tinh thần, bởi đây nền tảng để con người đủ sức mạnh đối mặt với những khó khăn,
thử thách cống hiến cho sự nghiệp chung. Sự biến đổi của chức năng tâm lý, tình
cảm trong gia đình Việt Nam hiện nay tấm gương phản chiếu nét những thay đổi
phức tạp trong đời sống xã hội, tâm lý con người và các mối quan hệ giữa cá nhân với
cộng đồng trong thời kỳ quá độ.
Giai đoạn trước Đổi mới, trong bối cảnh đất nước còn chiến tranh, khó khăn kinh
tế chồng chất, đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm
lý, tình cảm của gia đình lại càng nổi bật phát huy vai trò đặc biệt quan trọng. Gia
đình là nơi các thành viên nương tựa vào nhau, cùng chia sẻ gian khó, động viên nhau
vượt qua thử thách. Tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh em, ông bà - cháu được
củng cố bền chặt, tạo nên một mạng lưới hỗ trợ tinh thần vững chắc. Bên cạnh đó, sự
gắn kết cộng đồng làng xã, khu dân cư cũng góp phần không nhỏ vào việc hỗ trợ chức
năng này của gia đình, khi "tắt lửa tối đèn nhau", mọi người sẵn sàng giúp đỡ, sẻ
chia cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhu cầu tình cảm tuy không được biểu đạt một cách
phô trương nhưng tiềm ẩn sâu sắc trong mỗi mối quan hệ, động lực để các thành viên
cùng nhau xây dựng bảo vệ tổ ấm. Vậy nên trong bối cảnh hiện đại, đời sống vật chất
được nâng cao, nhưng đồng thời, những áp lực của cuộc sống hiện đại, sự cạnh tranh
gay gắt nh hưởng của lối sống ngoại nhập đã tạo ra những thách thức giữ lửa “tổ
ấm”- thách thức không nhỏ đối với việc duy trì phát huy chức năng thỏa mãn nhu
cầu tâm lý, tình cảm trong gia đình Việt Nam hiện nay:
Áp lực cuộc sống làm xói mòn thời gian và không gian kết nối: Guồng quay hối
hả của công việc, những lo toan mưu sinh và áp lực kiếm tiền để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của cuộc sống hiện đại khiến các thành viên trong gia đình có ít thời gian dành
cho nhau hơn. Bữa cơm gia đình vội vã, những cuộc trò chuyện thưa thớt, không gian
sinh hoạt chung bị thu hẹp do mỗi người bận rộn với công việc nhân, thiết bị điện
tử... Sự kết nối trực tiếp, sẻ chia m tư, tình cảm giữa vchồng, cha mẹ con cái,
giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng giảm sút, tạo nên khoảng cách vô hình.
Thay đổi trong cách biểu đạt nhu cầu tình cảm: Thế hệ trẻ lớn lên trong môi
trường cởi mở hơn xu hướng biểu đạt tình cảm trực tiếp đa dạng hơn so với thế
hệ trước. Tuy nhiên, sự khác biệt về thế hệ, quan niệm sống cách tiếp cận thông tin
thể dẫn đến khó khăn trong việc thấu hiểu sẻ chia. Nhu cầu được tôn trọng sự
riêng tư, không gian nhân sự độc lập ngày càng cao, đặc biệt giới trẻ, đòi hỏi
các thành viên trong gia đình phải điều chỉnh cách ng xử xây dựng mối quan h
trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau.
Gia tăng căng thẳng, mâu thuẫn và nguy cơ rạn nứt: Áp lực kinh tế, sự khác biệt
về quan điểm nuôi dạy con cái, mâu thuẫn trong mối quan hệ vợ chồng, xung đột thế hệ
do khác biệt về giá trị sống và lối sống hiện đại có thể dẫn đến những căng thẳng, mâu
thuẫn thường xuyênnghiêm trọng hơn trong gia đình. Khi chức năng thỏa mãn nhu
cầu tâm lý, tình cảm bị suy yếu, gia đình dễ đối mặt với nguy cơ rạn nứt, đổ vỡ.
Sự "xâm nhập" của các vấn đề tâm lý xã hội: Áp lực từ nhiều phía trong xã hội hiện đại
khiến các vấn đề về sức khỏe tâm thần như stress, lo âu, trầm cảm có xu hướng gia tăng
"xâm nhập" vào đời sống gia đình. Gia đình không chỉ cần chỗ dựa tinh thần mà
còn cần có kiến thức và kỹ năng để nhận diện, hỗ trợ và cùng nhau vượt qua những vấn
đề tâm lý phức tạp.
Việc duy trì và củng cố chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm là một yêu
cầu mang tính sống còn đối với mỗi gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Dưới
ngọn cờ của chủ nghĩa hội, việc xây dựng gia đình hạnh phúc, nơi mỗi thành viên
được yêu thương, quan tâm phát triển toàn diện về mặt tâm là tiền đề quan trọng
để xây dựng một xã hội khỏe mạnh, công bằng và văn minh. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực
không ngừng từ mỗi thành viên trong việc vun đắp tình cảm, học cách sẻ chia, thấu hiểu
trân trọng những giá trị tinh thần, đồng thời cần sự hỗ trợ từ Nhà nước cộng
đồng trong việc tạo i trường xã hội lành mạnh, giảm bớt áp lực và cung cấp các dịch
vụ hỗ trợ tâm lý gia đình hiệu quả.
3. Phân tích, đánh gia nguyên nhân và hệ quả
3.1. Nguyên nhân
Thứ nhất, đó sự thay đổi về kinh tế-xã hội. Trong giai đoạn trước đây, Việt
Nam chủ yếu một hội nông nghiệp, với nền kinh tế tự cung tự cấp. Gia đình vừa
nơi sản xuất, vừa nơi tiêu dùng chính. Điều này giải thích sao các gia đình truyền
thống có xu hướng sống chung nhiều thế hệ, chia sẻ nguồn lực lao động và tài nguyên.
Mỗi thành viên trong gia đình đều đóng góp tích cực vào các hoạt động kinh tế, giáo
dục và sinh hoạt. Tuy nhiên, sự chuyển đổi sang kinh tế công nghiệp dịch vụ đã tạo
ra những thay đổi to lớn. Các khu vực đô thị hóa phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự xuất
hiện của các gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ con cái). Điều này kết quả của
không gian sống bị thu hẹp trong các khu chung yêu cầu linh hoạt để thích nghi
với công việc hiện đại.
Thứ hai, sự tác động của giáo dục tới nhận thức hội. Sự phát triển của hệ thống
giáo dục gia tăng nhận thức hội đã mang lại những thay đổi đáng kể trong quan
niệm về vai trò chức năng của gia đình tại Việt Nam. Một trong những thay đổi lớn
nhất là sự dịch chuyển khỏi các quan niệm truyền thống như trọng nam khinh nữ, một
tưởng đã tồn tại lâu đời trong hội Việt Nam. Việc sinh con trai từng được coi
trách nhiệm hàng đầu của người phụ nữ, tuy nhiên nhờ sự phát triển của giáo dục, những
tư tưởng này đang dần bị thay thế bởi quan điểm bình đẳng giới, coi trọng giá trị của cả
con trai lẫn con gái. Sự gia tăng nhận thức xã hội và chính sách thúc đẩy bình đẳng giới
từ nhà nước như Luật bình đẳng giới 2006, đã góp phần lan tỏa các tưởng tiến bộ,
giảm thiểu áp lực sinh con trai cho phụ nữ gia đình. Hơn nữa, các gia đình hiện đại
không chỉ quan tâm đến việc sinh con còn đặt trọng tâm o chấtợng cuộc sống
và sự phát triển toàn diện của con cái. Sự thay đổi này không chỉ thể hiện qua cách nuôi
dạy con cái mà còn qua cách cha mẹ tương tác với con, xây dựng mối quan hệ dựa trên
sự tôn trọng và hỗ trợ thay vì áp đặt các khuôn mẫu truyền thống.
Thứ ba, ảnh hưởng của công nghệ toàn cầu hóa. Sự phát triển của công
nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hóa đã mang đến những thay đổi mạnh mẽ đối với
cơ cấu và chức năng của gia đình Việt Nam. Công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ
thông tin, đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, từ giao tiếp
đến quản thời gian, giáo dục giải trí. Công nghệ tạo ra những hội lớn để cải
thiện chất lượng sống và sự gắn kết gia đình. Các ứng dụng công nghệ giúp gia đình dễ
dàng duy trì liên lạc, bất kể khoảng cách địa lý. Toàn cầu hóa, đang thúc đẩy sự hội
nhập văn hóa và kinh tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới đối
với các gia đình. Nhịp sống hiện đại nhanh chóng, kết hợp với áp lực từ công việc đã
khiến mô hình gia đình truyền thống dần thay đổi.
3.2. Hệ quả
Sự chuyển đổi trong chức năng gia đình từ truyền thống sang hiện đại đã tạo ra
những tác động sâu sắc, ảnh hưởng đến không chỉ các thành viên trong gia đình mà còn
cả hội i chung. Những hệ quả y bao gồm cả mặt tích cực tiêu cực, thể hiện
rõ trong các khía cạnh kinh tế, văn hóa, tâm lý và xã hội.
Về hiệu quả tích cực, sự thay đổi trong các chức năng gia đình mang lại nhiều
tác động tích cực, phản ánh qua việc cải thiện chất lượng sống và thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội. Nhận thức tiến bộ về quyền con người và bình đẳng giới trong xã hội hiện đại
đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách các gia đình tổ chức và vận hành. Trong bối cảnh
hiện đại, các quan niệm lỗi thời như trọng nam khinh nữ dần được loại bỏ, thay thế
bằng sự coi trọng năng lực và giá trị cá nhân bất kể giới tính. Phụ nữ ngày càng có vai
trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế và xã hội, trong khi nam giới cũng tham gia
tích cực hơn vào việc chăm sóc gia đình và con cái. Sự dân chủ hóa trong gia đình
không chỉ tạo ra môi trường giao tiếp cởi mở, nơi mọi ý kiến đều được lắng nghe và
tôn trọng, mà còn xây dựng sự gắn kết sâu sắc giữa các thành viên thông qua chia sẻ
trách nhiệm và hợp tác. Ngoài ra việc áp dụng công nghệ và các tiện ích hiện đại đã
giúp các thành viên tối ưu hóa thời gian và công sức, giảm bớt áp lực trong cuộc sống
hằng ngày. Các thiết bị thông minh, nền tảng trực tuyến và dịch vụ tiện ích giúp gia
đình quản lý công việc nội trợ, giáo dục con cái và tổ chức sinh hoạt một cách hiệu
quả hơn. Kết quả là, các thành viên có thêm thời gian và năng lượng để tập trung vào
sự phát triển cá nhân, từ nâng cao học vấn, phát triển sự nghiệp đến duy trì sức khỏe
thể chất và tinh thần.
Về hiệu quả tiêu cực, sự thay đổi trong các chức năng gia đình cũng đi kèm với
những hệ quả tiêu cực, đặc biệt liên quan đến sự gắn kết duy trì các giá trị truyền
thống. Trong xã hội hiện đại, nhịp sống nhanh, áp lực công việc cao và sự bận rộn của
từng nhân khiến nhiều gia đình không còn đủ thời gian dành cho nhau. Các bữa ăn
gia đình, những buổi tchuyện thân mật hay các hoạt động chung trở nên hiếm hoi
hơn, làm suy giảm sự gắn bó tình cảm vốn là nền tảng vững chắc của gia đình. Điều này
thể dẫn đến cảm giác xa cách, đơn giữa các thành viên, ngay cả khi họ sống chung
dưới một mái nhà. Sự phát triển của công nghệ, mặc mang lại tiện ích, nhưng cũng
góp phần tạo ra khoảng cách giữa các thành viên trong gia đình. Việc sử dụng các thiết
bị cá nhân như điện thoại, hay máy tính khiến các thành viên có xu hướng tập trung vào
thế giới số hóa hơn là tương tác trực tiếp với nhau. Sự phụ thuộc vào công nghệ có thể
làm giảm khả năng giao tiếp, thấu hiểu chia sẻ cảm xúc giữa các thành viên, khiến
mối quan hệ gia đình trở nên hời hợt thiếu sâu sắc. Một vấn đề đáng chú ý khác
sự gia tăng khoảng ch giữa các thế hệ trong gia đình. Lối sống hiện đại ngày nay
khiến các thế hệ ông bà, cha mẹ con cháu ít hội sống cùng nhau, dẫn đến sự
thiếu hụt trong việc truyền đạt kinh nghiệm, giá trị văn hóa và duy trì truyền thống gia
đình. Người lớn tuổi, do không sống chung với con cháu, thể cảm thấy bị cô lập
thiếu sự chăm sóc, trong khi thế hệ trẻ lại ít có cơ hội học hỏi những bài học quý giá từ
kinh nghiệm của người già.
4. Giải pháp xây dựng chức năng gia đình bền vững
Gia đình được như “tế bào của hội”, vai trò quyết định đến sự ổn định
và phát triển hội. Do đó, để xây dựng chức năng gia đình Việt Nam bền vững trong
bối cảnh hiện nay, cần triển khai đồng bcác giải pháp nhiều cấp độ: từ phía Nhà
nước và chính sách xã hội, từ phía cộng đồng và các tổ chức xã hội, và từ phía mỗi gia
đình, mỗi cá nhân. Mỗi cấp độ giải pháp đều quan trọng, gắn kết với nhau nhằm hướng
tới mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”. Dưới
đây là các giải pháp cụ thể, thiết thực phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay.
4.1. Giải pháp từ phía Nhà nước và chính sách xã hội
Hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống luật pháp, chính sách về gia đình: Nhà
nước cần tiếp tục cập nhật, bổ sung các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ gia đình và phát
huy các chức năng cơ bản của gia đình. Điều này bao gồm việc thực hiện nghiêm Luật
Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các chính sách bình đẳng
giới, bảo vệ trẻ em. Chẳng hạn, Luật Hôn nhân Gia đình 2014 đã điều chỉnh nhiều
chuẩn mực tiến bộ trong hôn nhân, gia đình, tạo khung pháp cho cách ứng xử giữa
các thành viên. Bên cạnh đó, cần tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm như
bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em… nhằm đảm bảo gia đình thực hiện tốt chức năng bảo
vệ, giáo dục và nuôi dưỡng.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về giá trị gia đình: Các quan văn
hóa, giáo dục phối hợp tuyên truyền rộng rãi về vai trò của gia đình và các kỹ năng xây
dựng gia đình hạnh phúc. Nội dung tuyên truyền hướng tới việc giữ gìn và phát huy các
giá trị đạo đức, văn a tốt đẹp của gia đình Việt Nam, lên án những hành vi đi ngược
lại hạnh phúc gia đình (như bạo lực, ngoại tình, tệ nạn hội). Hình thức tuyên truyền
đa dạng qua phương tiện thông tin đại chúng với những thông điệp gần gũi, dễ nhớ. Đặc
biệt, cần đưa giáo dục kỹ năng sống, giáo dục về đời sống gia đình vào trường học để
thế hệ trẻ ý thức sớm về trách nhiệm xây dựng gia đình.
Nâng cao hiệu lực quản nhà ớc về ng tác gia đình: Nhà nước cần kiện
toàn bộ máy các cơ quan chuyên trách về gia đình, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực.
Công tác nghiên cứu, thống kê về gia đình ng cần được chú trọng (xây dựng sở dữ
liệu gia đình, điều tra định kỳ về gia đình). Thông qua đó, nhoạch định chính sách
nắm bắt kịp thời biến đổi của gia đình trong hội hiện đại để giải pháp phù hợp.
Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về xây dựng
chính sách gia đình tiên tiến, tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật và nguồn lực nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý lĩnh vực gia đình.
4.2. Giải pháp từ cộng đồng và các tổ chức xã hội
Phát huy vai trò của cộng đồng dân trong hỗ trợ gia đình: Cộng đồng môi
trường gần gũi giúp gia đình thực hiện tốt chức năng hội. Các thiết chế cộng đồng
như khu phố, thôn bản, dòng họ cần tham gia tích cực vào việc xây dựng đời sống văn
hóa sở, tạo môi trường hội lành mạnh cho các gia đình. Phong trào “Toàn n
đoàn kết xây dựng đời sống n hóa” tại địa phương nên gắn với nội dung xây dựng gia
đình văn hóa, phòng chống bạo lực và tệ nạn. Những mô hình như “Gia đình văn hóa”
không chỉ biểu dương các gia đình tiêu biểu mà còn định hướng chuẩn mực cho các gia
đình noi theo. Bên cạnh đó, hương ước, quy ước cộng đồng cần đề cao tinh thần tương
trợ, giáo dục con cháu chăm ngoan, phòng ngừa các hành vi lệch chuẩn.
Nâng cao vai trò của các tổ chức đoàn thể, hội trong xây dựng gia đình: Các
tổ chức như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông n, Hội Người cao
tuổi, Mặt trận Tổ quốcđều chức ng vận động quần chúng và thể đóng góp
thiết thực vào công tác gia đình. Chẳng hạn, Hội Phụ nữ từ trung ương đến địa phương
đã triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Xây dựng Gia đình 5 không, 3 sạch” với 8 tiêu
chí cụ thể (không đói nghèo, không phạm pháp, không bạo lực gia đình, không sinh con
thứ 3, không trẻ suy dinh dưỡng/bỏ học; sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ). Cuộc vận
động này giúp cải thiện đời sống vật chất, tinh thần trong mỗi gia đình, đồng thời góp
phần xây dựng nông thôn mới đô thị văn minh. Tương tự, Đoàn Thanh niên thể
tổ chức các lớp tập huấn kỹ ng m cha mẹ, kỹ năng tiền hôn nhân cho thanh niên;
Hội Người cao tuổi tham gia giáo dục truyền thống gia đình, hòa giải mâu thuẫn thế hệ.
Việc phối hợp liên ngành giữa các đoàn thể tạo thành mạng lưới hỗ trợ đa dạng, giúp
gia đình thực hiện tốt chức năng kinh tế, giáo dục, chăm sóc.
Phát triển các dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình tại cộng đồng: Ngoài nỗ lực tự thân
của mỗi gia đình, các dịch vụ công táchội sẽ là điểm tựa giúp giải quyết nhiều vấn
đề chuyên biệt. dụ, xây dựng các trung m vấn hôn nhân gia đình, đường dây
nóng hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; thành lập câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững,
nhóm cha mẹ để chia sẻ kinh nghiệm nuôi dạy con. Các hình “Nhóm giáo dục tiền
hôn nhân”, “Câu lạc bộ ông bà cháu”… cũng nên được nhân rộng nhằm tăng kết nối và
trao đổi kỹ năng giữa các gia đình. Bên cạnh đó, cộng đồng vận động xây dựng quỹ
khuyến học, quỹ tương trợ giúp đỡ những gia đình khó khăn, qua đó củng cố chức năng
kinh tế và giáo dục của gia đình trong cộng đồng. Huy động sự tham gia của cộng đồng
nhân ới nhiều hình thức hội hóa stạo thêm nguồn lực hỗ trợ các gia đình
vượt qua thách thức
Xây dựng môi trường hội lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn: Cộng đồng dân
cần phối hợp với chính quyền địa phương trong việc phòng chống tệ nạn hội (ma
túy, cờ bạc, mại dâm...) giữ gìn an ninh trật tự, đây những yếu tố ngoại cảnh nh
hưởng lớn đến hạnh phúc gia đình. Việc phát hiện sớm hòa giải kịp thời các mâu
thuẫn gia đình tại sở (thông qua tổ hòa giải, chi hội phụ nữ, công an khu vực) sẽ ngăn
chặn được hậu quả xấu, bảo vệ được chức năng tình cảm nuôi dưỡng của gia đình.
Đồng thời, các giá trị văn hóa tốt đẹp như tương thân tương ái, lành đùm rách trong
cộng đồng cần tiếp tục được phát huy, tạo thành “lưới an sinh xã hội phi chính thức” hỗ
trợ những gia đình gặp rủi ro (ốm đau, tai nạn, đột biến…). Một xã hội lành mạnh, gắn
kết cộng đồng chính môi trường thuận lợi để các gia đình Việt Nam ổn định phát
triển bền vững.
4.3. Giải pháp từ phía mỗi gia đình và cá nhân
Giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình: Mỗi gia đình cần
chủ động xây dựng nếp sống văn minh, gia phong lành mạnh phù hợp với hoàn cảnh
mới. Các giá trị truyền thống quý báu như hiếu thảo với ông bà cha mẹ, thuỷ chung vợ
chồng, yêu thương đùm bọc con cháu, tôn trọng đạo… nên được duy trì và truyền lại
cho thế hệ trẻ. Đồng thời, gia đình cũng cần duy cởi mđể tiếp thu chọn lọc
những giá trị tiến bộ (như bình đẳng giới, chia sẻ công việc giữa vợ chồng, tôn trọng sự
khác biệt của con cái) nhằm làm phong phú đời sống gia đình. Mỗi gia đình hãy coi
trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho con em ngay từ nhỏ, “gia đình trường
học đầu tiên” của con người. Ông bà, cha mẹ sống gương mẫu, hòa thuận sẽ tạo môi
trường tốt hình thành nhân cách con trẻ. Khi mỗi gia đình đều “tốt” thì cộng đồng
hội mới vững mạnh và tốt đẹp lên
Mỗi thành viên trong gia đình nâng cao ý thức trách nhiệm và kỹ năng sống: Gia
đình chbền vững khi mỗi nhân làm tròn vai trò của mình. Ông bà, cha mẹ cần nỗ
lực lao động, ứng xử mẫu mực, dành thời gian quan tâm con cháu; con cháu phải hiếu
thảo, lễ phép chăm chỉ học tập. Giữa vợ chồng cần có sự tôn trọng, bình đẳng và chia
sẻ cả về công việc lẫn tình cảm đây chìa khóa giữ gìn hạnh phúc. Khi xảy ra bất
đồng, các thành viên nên đối thoại chân thành, lắng nghe nhau để tìm tiếng nói chung,
tránh để mâu thuẫn kéo dài. Bên cạnh đó, mỗi người cần tự trang bị kỹ năng sống hiện
đại: kỹ năng quản thời gian, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tài chính gia đình...
để thích nghi với nhịp sống công nghiệp hóa. Chẳng hạn, cha mẹ trẻ học cách cân bằng
giữa công việc chăm sóc con, con cái học cách tự lập sẻ chia công việc nhà. Những
kỹ năng này giúp gia đình vận hành trôi chảy, thực hiện tốt cả chức năng kinh tế lẫn
nuôi dưỡng, giáo dục.
Xây dựng gia đình văn hóa, đời sống lành mạnh không tệ nạn: Mỗi gia đình cần
hưởng ứng tích cực các phong trào thi đua cuộc vận động do địa phương phát động
(như đăng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, cam kết “5 không, 3 sạch” đối với hội viên
phụ nữ...). Việc thực hiện các tiêu chí văn hóa (không bạo lực, không tệ nạn, không sinh
con thứ ba, con cái học hành đầy đủ...) chính là tự hoàn thiện gia đình mình. Bên cạnh
đó, các gia đình nên chủ động phòng chống tệ nạn từ cổng nhà: quản lý, giáo dục con
em tránh xa ma túy, game cờ bạc; không tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Mỗi cá nhân cũng cần tỉnh táo trước tác động của mạng xã hội và truyền thông hiện đại
– biết chọn lọc nội dung giải trí, tránh sa vào lối sống ảo hay những trào lưu lệch lạc có
thể làm rạn nứt các mối quan hệ gia đình. Thay vào đó, nên dành thời gian cho các hoạt
động gắn kết gia đình: cùng nhau ăn cơm, trò chuyện, tham gia du lịch, thể thao…
Những sinh hoạt lành mạnh này vừa nâng cao thể chất tinh thần, vừa thắt chặt tình cảm
giữa các thành viên.
Phát huy vai trò của thế hệ trẻ, đặc biệt là thanh niên, sinh viên: Thế hệ trẻ hôm
nay chính là chủ nhân của những gia đình trong tương lai. Do vậy, ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường, thanh niên cần rèn luyện để trở thành những công dân ích cho
gia đình hội. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu bằng những việc cụ thể: sống tự giác, kỷ
luật và có trách nhiệm với bản thân; biết trân trọng công ơn sinh thành, dưỡng dục của
cha mẹ; chủ động chia sẻ việc nhà để giảm gánh nặng cho bố mẹ. Đồng thời, người trẻ
cần trang bị kiến thức về hôn nhân và gia đình (qua sách vở, lớp học kỹ năng, tư vấn...)
để sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống gia đình sau này. Thanh niên cũng nên tích cực
tham gia các hoạt động tình nguyện, công tác hội tại địa phương – thông qua đó đóng
góp xây dựng cộng đồng học hỏi kinh nghiệm ứng xử, tổ chức cuộc sống gia đình.
Khi mỗi nhân trẻ đều ý thức hành động đúng đắn, chúng ta sẽ những gia đình
Việt Nam vững mạnh, góp phần phát triển đất nước bền vững.
5. Liên hệ bản thân
những người trẻ sinh ra lớn lên trong hội hiện đại, thế hệ sinh viên
chúng ta nhận thức sâu sắc rằng gia đình vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc và là
môi trường đầu tiên hình thành nhân cách của mỗi người. Bác Hồ từng dạy: “Nhiều gia
đình cộng lại mới thành hội, hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì hội
mới tốt”. Lời dạy đó nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và
phát triển chức năng gia đình xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ cũng chính góp
phần xây dựng xã hội phồn vinh, hạnh phúc.
Tớc hết, mỗi sinh viên cần xác định cho mình thái độ đúng đắn đối với gia
đình. lứa tuổi đang tự lập dần, chúng ta không nên bổn phận với gia đình.
Ngược lại, hãy biết trân quý thời gian bên gia đình, biết ơn kính trọng ông bà, cha
mẹ. Thế hệ trẻ cần kế thừa truyền thống hiếu thảo, lễ nghĩa của dân tộc: luôn quan tâm
thăm hỏi ông bà, vâng lời cha mẹ, sống hòa thuận với anh chị em. Những hành động
nhỏ như giúp cha mẹ việc nhà, hướng dẫn ông sử dụng công nghệ, chia sẻ tâm sự
với người thân… đều thể hiện tinh thần trách nhiệm tình u thương của người trẻ
đối với gia đình. Bản thân mỗi sinh viên cần rèn luyện để trở thành tấm gương sáng cho
các em nhỏ trong nhà noi theo về đạo đức và nếp sống.
Bên cạnh đó, những tri thức tương lai, sinh viên phải nâng cao nhận thức về
vai trò của gia đình trong hội hiện đại. Môi trường học đường hội mang đến
cho giới trẻ nhiều luồng tư tưởng mới, lối sống mới; tuy nhiên, chúng ta phải biết chọn
lọc cái hay, loại bỏ cái dở trước khi tiếp thu. Ví dụ, sinh viên cần cảnh giác với những
quan điểm sống ích kỷ, hưởng thụ, coi nhẹ hôn nhân gia đình. Thay vào đó, hãy tích
cực trang bị kiến thức về giới tính, hôn nhân, kỹ năng nuôi dạy con cái, quản lý kinh tế
gia đình… Đây hành trang quý để bước o đời, giúp người trẻ tự tin xây dựng gia
đình hạnh phúc sau này. Đồng thời, mỗi sinh viên nên tìm hiểu về chủ trương, chính
sách của Đảng Nhà ớc liên quan đến gia đình (như chính sách dân số, bình đẳng
giới, phòng chống bạo lực gia đình). Sự hiểu biết này không chỉ phục vụ cho học tập
còn giúp người trẻ ý thức hơn trách nhiệm đóng góp của mình trong việc thực
hiện các chủ trương đó ở cộng đồng.
Hơn nữa, sinh viên chúng ta cần đi đầu trong việc lan tỏa những giá trị tích cực
về gia đình. Thông qua các kênh mà giới trẻ am hiểu (mạng xã hội, câu lạc bộ, diễn đàn
sinh viên…), mỗi người thể trở thành một “đại sứ” quảng lối sống đẹp, ứng xử
đẹp trong gia đình. Chẳng hạn, ta thể chia sẻ câu chuyện hay về tấm gương hiếu thảo,
về kinh nghiệm giữ gìn hạnh phúc vợ chồng, hoặc mạnh dạn lên án những hành vi sai
trái làm tổn hại đến gia đình. Những hành động tưởng nhỏ đó sẽ góp phần xây dựng
nhận thức đúng đắn cho bạn đồng trang lứa cộng đồng xung quanh về tầm quan
trọng của gia đình. Ngoài ra, người trẻ nên tích cực tham gia các phong trào tại địa
phương như “Thanh niên với văn hóa giao thông”, “Thanh niên tình nguyện cuộc
sống cộng đồng”, “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị”… Khi chung tay thực hiện
những việc ích cho hội, chúng ta đang gián tiếp xây dựng môi trường sống an
toàn, lành mạnh cho mọi gia đình.
Cuối cùng, liên hệ bản thân mỗi sinh viên, học tập tốt, rèn luyện tốt chính là cách
thiết thực để chuẩn bị cho tương lai xây dựng gia đình. Kiến thức chuyên môn vững
vàng giúp chúng ta có sự nghiệp ổn định, đảm bảo thực hiện tốt chức năng kinh tế của
gia đình sau này. Nhân cách lối sống lành mạnh giúp chúng ta thực hiện tốt chức
năng giáo dục, thỏa mãn tình cảm trong gia đình, trở thành những ông bố, mẹ mẫu
mực của con cái. Ngay từ hôm nay, y tập sống trách nhiệm, biết yêu thương
chia sẻ – đó chính là nền tảng để mai này mỗi người dựng xây gia đình riêng bền vững.
Thế hệ trẻ cần xác định rõ: bảo vệ và phát triển chức năng gia đình không phải việc của
riêng ai, mà là sứ mệnh chung của cả cộng đồng. Bằng nhiệt huyết, tri thức và tình yêu
thương, sinh viên Việt Nam nguyện phấn đấu để mỗi gia đình thực sự tổ ấm hạnh
phúc và gia đình Việt Nam mãi là hạt nhân bền vững của xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Tuyên giáo Trung ương. (2005). Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban thư ngày
21/2/2005 về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/chi-thi-
so49-cttw-cua-ban-bi-thu-ngay-2122005-ve-xay-dung-gia-dinh-trong-thoi-ky-
congnghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-
Báo Chính phủ. (n.d.). Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030: https://baochinhphu.vn/chien-luoc-phat-trien-gia-dinh-viet-namden-
nam-2020-tam-nhin-2030-
Báo Quân khu 7. (n.d.). Lời Bác Hồ dạy ngày nay: Gia đình hạt nhân của hội:
https://baoquankhu7.
Tạp chí Cộng sản. (2023). Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình
trong xây dựng chính sách gia đình hiện nay:
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-
/2018/1009302/vandung-quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-gia-dinh-trong-xay-
dung-chinh-sachgia-dinh-hien-nay
Thanh Niên. (2023). Khuyến khích sinh đẻ - Cơ cấu dân số vàng:
https://thanhnien.vn/khuyen-khich-sinh-de-co-dan-so-vang-
Tờng Đại học Khánh Hòa. (n.d.). Biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong gia
đình người Việt hiện nay: https://ukh.edu.vn
Tiểu luận.com. (n.d.). Tiểu luận: Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội: https://tieuluan.com

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------------------------------ BÀI TẬP NHÓM
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đào Thị Hữu Nhóm lớp: K26CLC-TCC Tên nhóm: Nhóm 3 Hà Nội, 05/2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN ĐÓNG GÓP 1 Bùi Thị Thùy Dương 26A4011520 2 Nguyễn Minh Đức 26A4011930 3 Lý Thị Lan Hương 26A4012399 4 Tô Quốc Hùng 26A4012387 5 Chu Đức Trung 26A4010221 6 Nguyễn Huy Khánh 26A4012410 7 Trần Thùy Linh 26A4012866 8 Vũ Thị Tuyết Mai 26A4012875 9 Nguyễn Đức Thành 26A4010186 10 Hoàng Thị Hồng Gấm 26A4011931 11 Nguyễn Thị Phương Trang 26A4010212 12 Hà Quang Huy 26A4012388 Hà Nội, 03/2025 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 4
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................................. 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài .......................................................................... 4
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 4
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ............................................................................. 5
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................ 6
1. Cơ sở lý luận về gia đình và chức năng của gia đình ......................................................... 6
1.1. Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình ........................................................... 6
1.2. Vai trò của chức năng gia đình trong đời sống xã hội ................................................. 6
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay ........................ 6
2. Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay ..................................................... 7
2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người ......................................................................... 7
2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng ..................................................................... 8
2.3. Chức năng giáo dục con cái....................................................................................... 9
2.4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm ........................................................ 10
3. Phân tích, đánh gia nguyên nhân và hệ quả ................................................................... 12
3.1. Nguyên nhân .......................................................................................................... 12
3.2. Hệ quả ................................................................................................................... 13
4. Giải pháp xây dựng chức năng gia đình bền vững .......................................................... 14
4.1. Giải pháp từ phía Nhà nước và chính sách xã hội .................................................... 14
4.2. Giải pháp từ cộng đồng và các tổ chức xã hội .......................................................... 15
4.3. Giải pháp từ phía mỗi gia đình và cá nhân .............................................................. 16
5. Liên hệ bản thân........................................................................................................... 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................... 19 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là nền tảng căn bản của xã hội, giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì
và phát triển nòi giống, truyền thụ các giá trị đạo đức, văn hóa và định hình nhân cách
con người. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt
Nam hiện nay, gia đình đang chịu nhiều tác động dẫn đến những biến đổi rõ rệt, đặc biệt là về chức năng.
Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến từng cá nhân mà còn có tác động
lan tỏa đến toàn xã hội, từ quan hệ giữa các thế hệ đến sự ổn định xã hội nói chung.
Việc nghiên cứu sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay là một yêu cầu
cấp thiết nhằm nhận diện đúng thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và từ đó đưa ra những
giải pháp phù hợp để phát huy các chức năng tích cực của gia đình trong bối cảnh mới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ sự biến đổi về chức năng của gia đình Việt Nam
hiện nay, thông qua đó đưa ra những đề xuất nhằm giữ gìn các giá trị truyền thống tốt
đẹp, đồng thời thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại.
Để đạt được mục đích đó, đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau: Hệ thống hóa cơ
sở lý luận về khái niệm gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình; phân tích vai trò
của chức năng gia đình trong đời sống xã hội; tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự biến
đổi này trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chức năng cơ bản của gia đình và sự biến
đổi của các chức năng này trong đời sống hiện đại.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các gia đình Việt Nam đương đại, chủ yếu
là các gia đình ở khu vực thành thị và nông thôn tiêu biểu. Về mặt thời gian, đề tài tập
trung nghiên cứu trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, gắn với quá trình đổi mới và hội
nhập sâu rộng của đất nước.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của các ngành khoa học xã hội như xã hội học, tâm
lý học, kinh tế học và chính trị học, đặc biệt là các lý thuyết về thiết chế xã hội và sự biến đổi xã hội.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phân tích tài liệu, tổng hợp lý
thuyết, so sánh và khái quát. Ngoài ra, đề tài cũng kết hợp với khảo sát thực tế và quan
sát xã hội để có cái nhìn khách quan và sâu sắc hơn về thực trạng biến đổi chức năng gia đình.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ thêm hệ thống lý thuyết về chức năng gia
đình và sự biến đổi của nó trong bối cảnh xã hội hiện đại ở Việt Nam. Những kết quả
nghiên cứu có thể phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập trong các ngành khoa học xã hội.
Về mặt thực tiễn, đề tài giúp nâng cao nhận thức của các cá nhân và cơ quan
chức năng về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội hiện đại. Từ đó góp phần xây dựng
chính sách và giải pháp hỗ trợ gia đình phát triển bền vững, đồng thời đóng vai trò quan
trọng trong sự ổn định và phát triển xã hội. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận về gia đình và chức năng của gia đình
1.1. Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản, gồm những người có quan hệ huyết
thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, cùng chung sống và gắn bó với nhau về mặt vật chất
cũng như tinh thần. Trong xã hội, gia đình không chỉ là nơi tái sản xuất về mặt sinh học
mà còn là nơi tái sản xuất văn hóa, đạo đức và xã hội.
Các chức năng cơ bản của gia đình bao gồm: chức năng sinh sản nhằm duy trì
nòi giống; chức năng kinh tế với vai trò là đơn vị tiêu dùng và sản xuất; chức năng giáo
dục – xã hội hóa trẻ em; chức năng tình cảm – tinh thần để chăm sóc và hỗ trợ các thành
viên; và chức năng kiểm soát xã hội thông qua việc định hướng và điều chỉnh hành vi
cá nhân theo chuẩn mực cộng đồng.
1.2. Vai trò của chức năng gia đình trong đời sống xã hội
Chức năng của gia đình có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển của xã hội. Thông qua chức năng sinh sản, gia đình duy trì sự tồn tại của dân số và
đảm bảo nguồn nhân lực cho đất nước.
Thông qua chức năng giáo dục và xã hội hóa, gia đình hình thành và phát triển
nhân cách cá nhân, nuôi dưỡng những công dân có trách nhiệm. Với chức năng kinh tế,
gia đình tham gia vào chu trình kinh tế xã hội, tạo ra và phân phối của cải. Đặc biệt,
chức năng tình cảm – tinh thần là nền tảng quan trọng để đảm bảo sức khỏe tâm lý, tình
cảm của con người – điều kiện cốt lõi để xã hội phát triển bền vững.
Tất cả các chức năng này kết hợp hài hòa sẽ tạo ra một môi trường ổn định, nuôi
dưỡng và phát triển con người toàn diện.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay
Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Thứ nhất là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã thay đổi mô hình cư trú,
quy mô và kết cấu gia đình, từ gia đình nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân.
Thứ hai là cơ chế thị trường đã đặt ra những áp lực kinh tế, làm gia tăng mâu thuẫn và
ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình.
Thứ ba, ảnh hưởng của toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại
chúng đã đưa vào xã hội Việt Nam nhiều giá trị và lối sống mới, trong đó có cả mặt tích cực và tiêu cực.
Ngoài ra, chính sách dân số, phúc lợi xã hội, và quyền con người ngày càng được
chú trọng, góp phần thay đổi nhận thức về vai trò của các thành viên trong gia đình,
nhất là vai trò của phụ nữ và trẻ em.
Tất cả những yếu tố này đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi sâu sắc chức năng truyền thống của gia đình Việt Nam.
2. Sự biến đổi chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay
Trong hệ thống lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học, gia đình được nhìn nhận
là một hình thức cộng đồng xã hội đặc thù, là tế bào cơ bản và thiết yếu của xã hội. Gia
đình không chỉ đảm nhận chức năng sinh học là tái sản xuất ra con người về mặt sinh
học, mà còn là nơi diễn ra quá trình xã hội hóa đầu tiên đối với mỗi cá nhân – một quá
trình có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành nhân cách, tư tưởng, lối sống và đạo
đức phù hợp với mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, trong
chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề gia đình luôn được xem là một nội dung quan trọng,
gắn liền với quá trình cải biến xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Gia đình không tồn tại
một cách biệt lập, mà luôn vận động và biến đổi dưới sự tác động của kiến trúc thượng
tầng và cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Do đó, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam – một giai đoạn lịch sử đặc biệt với nhiều chuyển biến sâu sắc về kinh tế,
chính trị, văn hóa và xã hội, thì gia đình cũng không nằm ngoài quy luật vận động và
biến đổi đó. So với thời kỳ trước Đổi mới (khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn
chi phối), các chức năng gia đình hiện nay vừa kế thừa những giá trị truyền thống, vừa
tiếp biến những yếu tố mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người
Trước Đổi mới (trước 1986), Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quan niệm truyền
thống như “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, “đông con hơn nhiều của”. Trong bối cảnh kinh
tế tập trung bao cấp, điều kiện sống còn hạn chế, công tác dân số và sức khỏe sinh sản
chưa được quan tâm đúng mức, quy mô gia đình thường lớn, phổ biến là gia đình nhiều
thế hệ, nhiều con. Việc nuôi dưỡng trẻ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền thống, thiếu
cơ sở khoa học và điều kiện vật chất cần thiết. Từ đó, chức năng tái sản xuất ra con
người phần lớn mang tính tự nhiên, chưa được định hướng rõ ràng theo yêu cầu xây
dựng xã hội mới. Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của chính sách dân số - kế
hoạch hóa gia đình, đô thị hóa, nâng cao dân trí và hội nhập quốc tế, chức năng tái sản
xuất của gia đình đã có những thay đổi rõ nét, cả về lượng và chất: Về mức sinh và quy
mô gia đình: Phần lớn các gia đình hiện nay có xu hướng lựa chọn sinh ít con – thường
từ 1 đến 2 con – nhằm đảm bảo điều kiện nuôi dạy tốt hơn. Gia đình hạt nhân ngày càng
phổ biến, đặc biệt tại đô thị. Xu hướng này phù hợp với định hướng xây dựng xã hội
văn minh, hiện đại mà chủ nghĩa xã hội khoa học hướng đến: kiểm soát quy mô dân số
hợp lý để nâng cao chất lượng cuộc sống toàn dân.
Về nuôi dưỡng và chăm sóc: Chất lượng đời sống vật chất và tinh thần ngày càng
được cải thiện, tạo điều kiện cho các gia đình đầu tư tốt hơn cho con cái, từ chăm sóc
sức khỏe, dinh dưỡng đến giáo dục, tâm lý. Các kiến thức khoa học hiện đại về y tế,
tâm sinh lý trẻ em được phổ biến rộng rãi, giúp nâng cao năng lực thực hiện chức năng
nuôi dưỡng. Đồng thời, sự tiến bộ về bình đẳng giới cũng tác động tích cực, làm thay
đổi nhận thức và hành vi trong gia đình – người cha ngày càng chủ động tham gia vào
quá trình chăm sóc, nuôi dạy con cái, thay vì chỉ là trụ cột kinh tế như trước kia.
Tuy nhiên, quá trình biến đổi chức năng tái sản xuất ra con người cũng đặt ra một
số thách thức đáng lưu ý như: tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh, đặc biệt ở đô thị,
làm gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội; mất cân bằng giới tính khi sinh do tư
tưởng sính con trai vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân; và áp lực nuôi dạy con cái
trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nhất là dưới tác động của kinh tế thị
trường và mạng xã hội.
2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Trong hệ thống lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học, chức năng kinh tế của gia đình
được hiểu không chỉ đơn thuần là hoạt động tạo thu nhập hay tiêu dùng, mà còn là một
khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội toàn diện – bao gồm tái sản xuất sức
lao động, duy trì đời sống vật chất tinh thần của các thành viên, và góp phần ổn định
kinh tế - xã hội trong tổng thể cơ cấu xã hội. Gia đình, với tư cách là một thiết chế xã
hội cơ bản, giữ vai trò trung gian giữa cá nhân và xã hội, giữa sản xuất và tiêu dùng,
đặc biệt trong bối cảnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội – nơi mà các yếu tố thị trường và
định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tồn tại và tác động qua lại.
Thời kì bao cấp với đặc điểm sản xuất do Nhà nước nắm giữ và phân phối sản
phẩm chủ yếu thông qua tem phiếu. Gia đình không đóng vai trò sản xuất độc lập mà
chủ yếu là đơn vị tái sản xuất sức lao động thông qua việc duy trì điều kiện sống tối
thiểu cho các thành viên, đặc biệt là lực lượng lao động tham gia vào các đơn vị sản
xuất quốc doanh hoặc hợp tác xã. Hoạt động kinh tế trong gia đình – nếu có – thường
là sản xuất tự cấp tự túc, chưa tạo ra của cải hàng hóa có giá trị trao đổi lớn. Từ sau
công cuộc Đổi mới và trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, chức năng kinh tế của gia đình đã có những biến chuyển căn bản cả về
bản chất và hình thức thực hiện:
Đa dạng hóa nguồn thu nhập: Gia đình ngày nay không chỉ là nơi tiêu dùng mà
còn trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra của cải xã hội. Các thành viên trong gia đình
có thể đảm nhiệm nhiều vai trò kinh tế: làm công ăn lương, sản xuất kinh doanh cá thể,
hộ gia đình, hoặc tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, kinh doanh số... Tính năng
động trong cơ cấu thu nhập phản ánh rõ nét sự chuyển mình của gia đình từ chỗ phụ
thuộc vào phân phối nhà nước sang chủ động tham gia thị trường.
Chuyển dịch từ sản xuất sang tiêu dùng: Mặc dù ở nông thôn và các vùng truyền
thống, gia đình vẫn duy trì vai trò sản xuất, nhưng ở phần lớn xã hội hiện đại, đặc biệt
tại đô thị, gia đình chủ yếu là đơn vị tiêu dùng. Nhu cầu tiêu dùng không chỉ dừng lại ở
lương thực, thực phẩm mà mở rộng ra giáo dục, y tế, giải trí, công nghệ… Phản ánh
mức sống ngày càng được nâng cao, đồng thời cũng thể hiện vị trí then chốt của gia
đình trong chuỗi luân chuyển hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường.
Áp lực kinh tế và phân hóa giàu nghèo: Kinh tế thị trường đặt các gia đình vào
môi trường cạnh tranh gay gắt, nơi mỗi gia đình đều phải tự chủ trong việc tổ chức đời
sống kinh tế. Điều này tuy giúp phát huy tính chủ động, sáng tạo, nhưng cũng khiến
nhiều gia đình đối mặt với rủi ro kinh tế, đặc biệt là nhóm yếu thế. Hệ quả là tình trạng
phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, không chỉ gây ra bất bình đẳng xã hội mà còn
tiềm ẩn nguy cơ xung đột giá trị và mất ổn định trong đời sống gia đình.
Thay đổi vai trò kinh tế của phụ nữ: Trong cơ cấu kinh tế mới, phụ nữ không còn
bị bó hẹp trong vai trò nội trợ truyền thống mà ngày càng tham gia sâu rộng vào thị
trường lao động. Họ đóng góp quan trọng vào thu nhập gia đình và từng bước khẳng
định vị thế kinh tế - xã hội của bản thân. Đây là bước tiến tích cực trong việc thực hiện
bình đẳng giới – một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời
cũng tạo điều kiện để xây dựng mô hình gia đình dân chủ, tiến bộ.
Sự biến đổi này phản ánh sự thích ứng linh hoạt của gia đình Việt Nam với cơ
chế kinh tế mới, đồng thời cũng cho thấy những mâu thuẫn nội tại cần được nhận diện
và giải quyết từ góc độ chính sách và định hướng xã hội. Nếu chạy theo lợi ích kinh tế
đơn thuần mà xem nhẹ các giá trị tinh thần, đạo đức và mối quan hệ nhân văn trong gia
đình, sẽ dẫn đến nguy cơ tha hóa mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.
Do đó, Chủ nghĩa xã hội khoa học đòi hỏi phải có sự điều tiết hài hòa giữa phát
triển kinh tế và phát triển con người, trong đó gia đình chính là nơi kết nối, cân bằng và
chuyển hóa các giá trị vật chất – tinh thần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.3. Chức năng giáo dục con cái
Chức năng giáo dục là một trong những sứ mệnh thiêng liêng và trụ cột của gia đình,
đặc biệt quan trọng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi mục tiêu tối thượng là xây dựng
con người phát triển toàn diện, làm chủ bản thân, xã hội và thiên nhiên, trung thành với
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học, giáo dục gia đình
không chỉ là việc truyền lại kiến thức hay kỹ năng, mà còn là quá trình hình thành nhân
cách, bồi dưỡng tâm hồn, định hướng giá trị và lý tưởng sống cho thế hệ trẻ, biến họ
thành những công dân có ích, tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Trước Đổi mới, giáo dục gia đình chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ các giá
trị đạo đức truyền thống, nề nếp gia phong, lòng yêu nước, tinh thần lao động tập thể và
lý tưởng xã hội chủ nghĩa giản đơn. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội
còn chặt chẽ trong việc quản lý và giáo dục thế hệ trẻ. Còn chức năng giáo dục gia đình
hiện nay đổi mới đa dạng hơn, phân công trách nhiệm và thách thức từ môi trường đa
chiều. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế sâu rộng, chức năng giáo dục của gia đình Việt Nam đã có những biến đổi căn
bản, mang tính bước ngoặt:
Chuyên môn hóa và phân công lại trách nhiệm: Sự phát triển mạnh mẽ của hệ
thống giáo dục quốc dân, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và các trung tâm kỹ năng đã
làm giảm gánh nặng giáo dục kiến thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp cho gia đình.
Nhà trường ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong việc trang bị tri thức và kỹ năng
chuyên môn cho thế hệ trẻ, phản ánh quy luật phát triển xã hội ngày càng chuyên môn
hóa. Gia đình, do đó, có xu hướng tập trung hơn vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách,
kỹ năng sống, hình thành thói quen tốt và định hướng giá trị ban đầu cho trẻ. Sự phân
công này là hợp lý trong xã hội hiện đại, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự phối hợp nhịp
nhàng, tránh tình trạng "khoán trắng" một phần trách nhiệm cho nhà trường hoặc xã hội.
Mở rộng nội dung và đa dạng hóa phương pháp giáo dục: Nội dung giáo dục
trong gia đình không còn giới hạn trong khuôn khổ truyền thống hay chỉ tập trung vào
lý tưởng xã hội chủ nghĩa giản đơn. Gia đình hiện đại phải trang bị cho con cái những
kiến thức và kỹ năng cần thiết để thích ứng với một thế giới đầy biến động và cạnh
tranh, bao gồm kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng sử dụng công nghệ thông tin
và hiểu biết về các nền văn hóa khác. Phương pháp giáo dục cũng có xu hướng chuyển
từ áp đặt, khuôn mẫu sang dân chủ hơn, tôn trọng cá tính, khuyến khích sự sáng tạo và
phát huy năng lực độc lập của trẻ, phù hợp với yêu cầu về phát triển con người cá nhân trong xã hội mới.
Ảnh hưởng đa chiều của môi trường xã hội và thông tin: Sự bùng nổ của công
nghệ thông tin, internet và mạng xã hội tạo ra một môi trường giáo dục "thứ hai" với vô
vàn thông tin và luồng văn hóa đa chiều, phức tạp, có cả tích cực và tiêu cực. Điều này
đặt ra thách thức lớn cho gia đình trong việc kiểm soát, szelectiva thông tin và định
hướng đúng đắn cho con cái về các giá trị, lối sống. Cha mẹ cần trang bị kiến thức và
kỹ năng để trở thành người đồng hành, tư vấn, giúp con phân biệt được điều hay lẽ phải
giữa một "ma trận" thông tin.
Áp lực thành tích và nguy cơ "lệch chuẩn": Áp lực từ hệ thống thi cử, kỳ vọng
của gia đình về thành tích học tập của con cái ngày càng gia tăng. Điều này khiến nhiều
gia đình tập trung tối đa nguồn lực và thời gian vào việc học văn hóa, đôi khi lơ là, thậm
chí xem nhẹ việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, rèn luyện thể chất hay bồi dưỡng tâm
hồn. Xu hướng "chạy đua" thành tích có thể dẫn đến sự phát triển thiếu cân bằng về
nhân cách, hình thành những con người giỏi kiến thức nhưng thiếu hụt về phẩm chất
đạo đức, kỹ năng xã hội, ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện.
Những sự biến đổi này đòi hỏi gia đình phải nâng cao năng lực và phương pháp
giáo dục, đồng thời cần có sự phối hợp hiệu quả hơn nữa giữa gia đình, nhà trường và
xã hội để giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong bối cảnh mới. Đồng thời, Nhà nước và xã hội cần tăng cường vai trò hỗ trợ, định
hướng, tạo môi trường thuận lợi và có những chính sách phù hợp để gia đình thực hiện
tốt chức năng giáo dục của mình, góp phần đào tạo nên thế hệ trẻ vừa "hồng" vừa
"chuyên", đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
2.4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm
Trong hệ thống các chức năng cơ bản của gia đình, chức năng thỏa mãn nhu cầu
tâm lý, tình cảm mang một ý nghĩa đặc thù và sâu sắc. Đây chính là nơi gia đình thực
sự trở thành "tổ ấm", là pháo đài tinh thần vững chắc, nơi mỗi cá nhân tìm thấy sự bình
yên, sẻ chia, thấu hiểu, yêu thương và được tiếp thêm năng lượng để tồn tại và phát
triển. Dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học, chức năng này không chỉ đơn thuần là
vấn đề cá nhân của mỗi gia đình mà còn góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát
triển bền vững của toàn xã hội. Một xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể vững mạnh khi
những tế bào của nó - tức là các gia đình - thực sự hạnh phúc, khi mỗi công dân được
nuôi dưỡng trong môi trường tràn đầy tình yêu thương, sự quan tâm và hỗ trợ về mặt
tinh thần, bởi đây là nền tảng để con người có đủ sức mạnh đối mặt với những khó khăn,
thử thách và cống hiến cho sự nghiệp chung. Sự biến đổi của chức năng tâm lý, tình
cảm trong gia đình Việt Nam hiện nay là tấm gương phản chiếu rõ nét những thay đổi
phức tạp trong đời sống xã hội, tâm lý con người và các mối quan hệ giữa cá nhân với
cộng đồng trong thời kỳ quá độ.
Giai đoạn trước Đổi mới, trong bối cảnh đất nước còn chiến tranh, khó khăn kinh
tế chồng chất, đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm
lý, tình cảm của gia đình lại càng nổi bật và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng. Gia
đình là nơi các thành viên nương tựa vào nhau, cùng chia sẻ gian khó, động viên nhau
vượt qua thử thách. Tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh em, ông bà - cháu được
củng cố bền chặt, tạo nên một mạng lưới hỗ trợ tinh thần vững chắc. Bên cạnh đó, sự
gắn kết cộng đồng làng xã, khu dân cư cũng góp phần không nhỏ vào việc hỗ trợ chức
năng này của gia đình, khi "tắt lửa tối đèn có nhau", mọi người sẵn sàng giúp đỡ, sẻ
chia cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhu cầu tình cảm tuy không được biểu đạt một cách
phô trương nhưng tiềm ẩn sâu sắc trong mỗi mối quan hệ, là động lực để các thành viên
cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ ấm. Vậy nên trong bối cảnh hiện đại, đời sống vật chất
được nâng cao, nhưng đồng thời, những áp lực của cuộc sống hiện đại, sự cạnh tranh
gay gắt và ảnh hưởng của lối sống ngoại nhập đã tạo ra những thách thức giữ lửa “tổ
ấm”- thách thức không nhỏ đối với việc duy trì và phát huy chức năng thỏa mãn nhu
cầu tâm lý, tình cảm trong gia đình Việt Nam hiện nay:
Áp lực cuộc sống làm xói mòn thời gian và không gian kết nối: Guồng quay hối
hả của công việc, những lo toan mưu sinh và áp lực kiếm tiền để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của cuộc sống hiện đại khiến các thành viên trong gia đình có ít thời gian dành
cho nhau hơn. Bữa cơm gia đình vội vã, những cuộc trò chuyện thưa thớt, không gian
sinh hoạt chung bị thu hẹp do mỗi người bận rộn với công việc cá nhân, thiết bị điện
tử... Sự kết nối trực tiếp, sẻ chia tâm tư, tình cảm giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái,
giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng giảm sút, tạo nên khoảng cách vô hình.
Thay đổi trong cách biểu đạt và nhu cầu tình cảm: Thế hệ trẻ lớn lên trong môi
trường cởi mở hơn có xu hướng biểu đạt tình cảm trực tiếp và đa dạng hơn so với thế
hệ trước. Tuy nhiên, sự khác biệt về thế hệ, quan niệm sống và cách tiếp cận thông tin
có thể dẫn đến khó khăn trong việc thấu hiểu và sẻ chia. Nhu cầu được tôn trọng sự
riêng tư, không gian cá nhân và sự độc lập ngày càng cao, đặc biệt ở giới trẻ, đòi hỏi
các thành viên trong gia đình phải điều chỉnh cách ứng xử và xây dựng mối quan hệ
trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau.
Gia tăng căng thẳng, mâu thuẫn và nguy cơ rạn nứt: Áp lực kinh tế, sự khác biệt
về quan điểm nuôi dạy con cái, mâu thuẫn trong mối quan hệ vợ chồng, xung đột thế hệ
do khác biệt về giá trị sống và lối sống hiện đại có thể dẫn đến những căng thẳng, mâu
thuẫn thường xuyên và nghiêm trọng hơn trong gia đình. Khi chức năng thỏa mãn nhu
cầu tâm lý, tình cảm bị suy yếu, gia đình dễ đối mặt với nguy cơ rạn nứt, đổ vỡ.
Sự "xâm nhập" của các vấn đề tâm lý xã hội: Áp lực từ nhiều phía trong xã hội hiện đại
khiến các vấn đề về sức khỏe tâm thần như stress, lo âu, trầm cảm có xu hướng gia tăng
và "xâm nhập" vào đời sống gia đình. Gia đình không chỉ cần là chỗ dựa tinh thần mà
còn cần có kiến thức và kỹ năng để nhận diện, hỗ trợ và cùng nhau vượt qua những vấn đề tâm lý phức tạp.
Việc duy trì và củng cố chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm là một yêu
cầu mang tính sống còn đối với mỗi gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Dưới
ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng gia đình hạnh phúc, nơi mỗi thành viên
được yêu thương, quan tâm và phát triển toàn diện về mặt tâm lý là tiền đề quan trọng
để xây dựng một xã hội khỏe mạnh, công bằng và văn minh. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực
không ngừng từ mỗi thành viên trong việc vun đắp tình cảm, học cách sẻ chia, thấu hiểu
và trân trọng những giá trị tinh thần, đồng thời cần có sự hỗ trợ từ Nhà nước và cộng
đồng trong việc tạo môi trường xã hội lành mạnh, giảm bớt áp lực và cung cấp các dịch
vụ hỗ trợ tâm lý gia đình hiệu quả.
3. Phân tích, đánh gia nguyên nhân và hệ quả 3.1. Nguyên nhân
Thứ nhất, đó là sự thay đổi về kinh tế-xã hội. Trong giai đoạn trước đây, Việt
Nam chủ yếu là một xã hội nông nghiệp, với nền kinh tế tự cung tự cấp. Gia đình vừa
là nơi sản xuất, vừa là nơi tiêu dùng chính. Điều này giải thích vì sao các gia đình truyền
thống có xu hướng sống chung nhiều thế hệ, chia sẻ nguồn lực lao động và tài nguyên.
Mỗi thành viên trong gia đình đều đóng góp tích cực vào các hoạt động kinh tế, giáo
dục và sinh hoạt. Tuy nhiên, sự chuyển đổi sang kinh tế công nghiệp và dịch vụ đã tạo
ra những thay đổi to lớn. Các khu vực đô thị hóa phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự xuất
hiện của các gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Điều này là kết quả của
không gian sống bị thu hẹp trong các khu chung cư và yêu cầu linh hoạt để thích nghi
với công việc hiện đại.
Thứ hai, sự tác động của giáo dục tới nhận thức xã hội. Sự phát triển của hệ thống
giáo dục và gia tăng nhận thức xã hội đã mang lại những thay đổi đáng kể trong quan
niệm về vai trò và chức năng của gia đình tại Việt Nam. Một trong những thay đổi lớn
nhất là sự dịch chuyển khỏi các quan niệm truyền thống như trọng nam khinh nữ, một
tư tưởng đã tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam. Việc sinh con trai từng được coi là
trách nhiệm hàng đầu của người phụ nữ, tuy nhiên nhờ sự phát triển của giáo dục, những
tư tưởng này đang dần bị thay thế bởi quan điểm bình đẳng giới, coi trọng giá trị của cả
con trai lẫn con gái. Sự gia tăng nhận thức xã hội và chính sách thúc đẩy bình đẳng giới
từ nhà nước như Luật bình đẳng giới 2006, đã góp phần lan tỏa các tư tưởng tiến bộ,
giảm thiểu áp lực sinh con trai cho phụ nữ và gia đình. Hơn nữa, các gia đình hiện đại
không chỉ quan tâm đến việc sinh con mà còn đặt trọng tâm vào chất lượng cuộc sống
và sự phát triển toàn diện của con cái. Sự thay đổi này không chỉ thể hiện qua cách nuôi
dạy con cái mà còn qua cách cha mẹ tương tác với con, xây dựng mối quan hệ dựa trên
sự tôn trọng và hỗ trợ thay vì áp đặt các khuôn mẫu truyền thống.
Thứ ba, là ảnh hưởng của công nghệ và toàn cầu hóa. Sự phát triển của công
nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hóa đã mang đến những thay đổi mạnh mẽ đối với
cơ cấu và chức năng của gia đình Việt Nam. Công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ
thông tin, đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, từ giao tiếp
đến quản lý thời gian, giáo dục và giải trí. Công nghệ tạo ra những cơ hội lớn để cải
thiện chất lượng sống và sự gắn kết gia đình. Các ứng dụng công nghệ giúp gia đình dễ
dàng duy trì liên lạc, bất kể khoảng cách địa lý. Toàn cầu hóa, đang thúc đẩy sự hội
nhập văn hóa và kinh tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới đối
với các gia đình. Nhịp sống hiện đại nhanh chóng, kết hợp với áp lực từ công việc đã
khiến mô hình gia đình truyền thống dần thay đổi. 3.2. Hệ quả
Sự chuyển đổi trong chức năng gia đình từ truyền thống sang hiện đại đã tạo ra
những tác động sâu sắc, ảnh hưởng đến không chỉ các thành viên trong gia đình mà còn
cả xã hội nói chung. Những hệ quả này bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực, thể hiện
rõ trong các khía cạnh kinh tế, văn hóa, tâm lý và xã hội.
Về hiệu quả tích cực, sự thay đổi trong các chức năng gia đình mang lại nhiều
tác động tích cực, phản ánh qua việc cải thiện chất lượng sống và thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội. Nhận thức tiến bộ về quyền con người và bình đẳng giới trong xã hội hiện đại
đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách các gia đình tổ chức và vận hành. Trong bối cảnh
hiện đại, các quan niệm lỗi thời như trọng nam khinh nữ dần được loại bỏ, thay thế
bằng sự coi trọng năng lực và giá trị cá nhân bất kể giới tính. Phụ nữ ngày càng có vai
trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế và xã hội, trong khi nam giới cũng tham gia
tích cực hơn vào việc chăm sóc gia đình và con cái. Sự dân chủ hóa trong gia đình
không chỉ tạo ra môi trường giao tiếp cởi mở, nơi mọi ý kiến đều được lắng nghe và
tôn trọng, mà còn xây dựng sự gắn kết sâu sắc giữa các thành viên thông qua chia sẻ
trách nhiệm và hợp tác. Ngoài ra việc áp dụng công nghệ và các tiện ích hiện đại đã
giúp các thành viên tối ưu hóa thời gian và công sức, giảm bớt áp lực trong cuộc sống
hằng ngày. Các thiết bị thông minh, nền tảng trực tuyến và dịch vụ tiện ích giúp gia
đình quản lý công việc nội trợ, giáo dục con cái và tổ chức sinh hoạt một cách hiệu
quả hơn. Kết quả là, các thành viên có thêm thời gian và năng lượng để tập trung vào
sự phát triển cá nhân, từ nâng cao học vấn, phát triển sự nghiệp đến duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần.
Về hiệu quả tiêu cực, sự thay đổi trong các chức năng gia đình cũng đi kèm với
những hệ quả tiêu cực, đặc biệt liên quan đến sự gắn kết và duy trì các giá trị truyền
thống. Trong xã hội hiện đại, nhịp sống nhanh, áp lực công việc cao và sự bận rộn của
từng cá nhân khiến nhiều gia đình không còn đủ thời gian dành cho nhau. Các bữa ăn
gia đình, những buổi trò chuyện thân mật hay các hoạt động chung trở nên hiếm hoi
hơn, làm suy giảm sự gắn bó tình cảm vốn là nền tảng vững chắc của gia đình. Điều này
có thể dẫn đến cảm giác xa cách, cô đơn giữa các thành viên, ngay cả khi họ sống chung
dưới một mái nhà. Sự phát triển của công nghệ, mặc dù mang lại tiện ích, nhưng cũng
góp phần tạo ra khoảng cách giữa các thành viên trong gia đình. Việc sử dụng các thiết
bị cá nhân như điện thoại, hay máy tính khiến các thành viên có xu hướng tập trung vào
thế giới số hóa hơn là tương tác trực tiếp với nhau. Sự phụ thuộc vào công nghệ có thể
làm giảm khả năng giao tiếp, thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc giữa các thành viên, khiến
mối quan hệ gia đình trở nên hời hợt và thiếu sâu sắc. Một vấn đề đáng chú ý khác là
sự gia tăng khoảng cách giữa các thế hệ trong gia đình. Lối sống hiện đại ngày nay
khiến các thế hệ ông bà, cha mẹ và con cháu ít có cơ hội sống cùng nhau, dẫn đến sự
thiếu hụt trong việc truyền đạt kinh nghiệm, giá trị văn hóa và duy trì truyền thống gia
đình. Người lớn tuổi, do không sống chung với con cháu, có thể cảm thấy bị cô lập và
thiếu sự chăm sóc, trong khi thế hệ trẻ lại ít có cơ hội học hỏi những bài học quý giá từ
kinh nghiệm của người già.
4. Giải pháp xây dựng chức năng gia đình bền vững
Gia đình được ví như “tế bào của xã hội”, có vai trò quyết định đến sự ổn định
và phát triển xã hội. Do đó, để xây dựng chức năng gia đình Việt Nam bền vững trong
bối cảnh hiện nay, cần triển khai đồng bộ các giải pháp ở nhiều cấp độ: từ phía Nhà
nước và chính sách xã hội, từ phía cộng đồng và các tổ chức xã hội, và từ phía mỗi gia
đình, mỗi cá nhân. Mỗi cấp độ giải pháp đều quan trọng, gắn kết với nhau nhằm hướng
tới mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”. Dưới
đây là các giải pháp cụ thể, thiết thực phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay.
4.1. Giải pháp từ phía Nhà nước và chính sách xã hội
Hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống luật pháp, chính sách về gia đình: Nhà
nước cần tiếp tục cập nhật, bổ sung các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ gia đình và phát
huy các chức năng cơ bản của gia đình. Điều này bao gồm việc thực hiện nghiêm Luật
Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các chính sách bình đẳng
giới, bảo vệ trẻ em. Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã điều chỉnh nhiều
chuẩn mực tiến bộ trong hôn nhân, gia đình, tạo khung pháp lý cho cách ứng xử giữa
các thành viên. Bên cạnh đó, cần tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm như
bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em… nhằm đảm bảo gia đình thực hiện tốt chức năng bảo
vệ, giáo dục và nuôi dưỡng.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về giá trị gia đình: Các cơ quan văn
hóa, giáo dục phối hợp tuyên truyền rộng rãi về vai trò của gia đình và các kỹ năng xây
dựng gia đình hạnh phúc. Nội dung tuyên truyền hướng tới việc giữ gìn và phát huy các
giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam, lên án những hành vi đi ngược
lại hạnh phúc gia đình (như bạo lực, ngoại tình, tệ nạn xã hội). Hình thức tuyên truyền
đa dạng qua phương tiện thông tin đại chúng với những thông điệp gần gũi, dễ nhớ. Đặc
biệt, cần đưa giáo dục kỹ năng sống, giáo dục về đời sống gia đình vào trường học để
thế hệ trẻ ý thức sớm về trách nhiệm xây dựng gia đình.
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác gia đình: Nhà nước cần kiện
toàn bộ máy các cơ quan chuyên trách về gia đình, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực.
Công tác nghiên cứu, thống kê về gia đình cũng cần được chú trọng (xây dựng cơ sở dữ
liệu gia đình, điều tra định kỳ về gia đình). Thông qua đó, nhà hoạch định chính sách
nắm bắt kịp thời biến đổi của gia đình trong xã hội hiện đại để có giải pháp phù hợp.
Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về xây dựng
chính sách gia đình tiên tiến, tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật và nguồn lực nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý lĩnh vực gia đình.
4.2. Giải pháp từ cộng đồng và các tổ chức xã hội
Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong hỗ trợ gia đình: Cộng đồng là môi
trường gần gũi giúp gia đình thực hiện tốt chức năng xã hội. Các thiết chế cộng đồng
như khu phố, thôn bản, dòng họ cần tham gia tích cực vào việc xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở, tạo môi trường xã hội lành mạnh cho các gia đình. Phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại địa phương nên gắn với nội dung xây dựng gia
đình văn hóa, phòng chống bạo lực và tệ nạn. Những mô hình như “Gia đình văn hóa”
không chỉ biểu dương các gia đình tiêu biểu mà còn định hướng chuẩn mực cho các gia
đình noi theo. Bên cạnh đó, hương ước, quy ước cộng đồng cần đề cao tinh thần tương
trợ, giáo dục con cháu chăm ngoan, phòng ngừa các hành vi lệch chuẩn.
Nâng cao vai trò của các tổ chức đoàn thể, xã hội trong xây dựng gia đình: Các
tổ chức như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Người cao
tuổi, Mặt trận Tổ quốc… đều có chức năng vận động quần chúng và có thể đóng góp
thiết thực vào công tác gia đình. Chẳng hạn, Hội Phụ nữ từ trung ương đến địa phương
đã triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Xây dựng Gia đình 5 không, 3 sạch” với 8 tiêu
chí cụ thể (không đói nghèo, không phạm pháp, không bạo lực gia đình, không sinh con
thứ 3, không có trẻ suy dinh dưỡng/bỏ học; sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ). Cuộc vận
động này giúp cải thiện đời sống vật chất, tinh thần trong mỗi gia đình, đồng thời góp
phần xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Tương tự, Đoàn Thanh niên có thể
tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng tiền hôn nhân cho thanh niên;
Hội Người cao tuổi tham gia giáo dục truyền thống gia đình, hòa giải mâu thuẫn thế hệ.
Việc phối hợp liên ngành giữa các đoàn thể tạo thành mạng lưới hỗ trợ đa dạng, giúp
gia đình thực hiện tốt chức năng kinh tế, giáo dục, chăm sóc.
Phát triển các dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình tại cộng đồng: Ngoài nỗ lực tự thân
của mỗi gia đình, các dịch vụ công tác xã hội sẽ là điểm tựa giúp giải quyết nhiều vấn
đề chuyên biệt. Ví dụ, xây dựng các trung tâm tư vấn hôn nhân – gia đình, đường dây
nóng hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; thành lập câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững,
nhóm cha mẹ để chia sẻ kinh nghiệm nuôi dạy con. Các mô hình “Nhóm giáo dục tiền
hôn nhân”, “Câu lạc bộ ông bà cháu”… cũng nên được nhân rộng nhằm tăng kết nối và
trao đổi kỹ năng giữa các gia đình. Bên cạnh đó, cộng đồng vận động xây dựng quỹ
khuyến học, quỹ tương trợ giúp đỡ những gia đình khó khăn, qua đó củng cố chức năng
kinh tế và giáo dục của gia đình trong cộng đồng. Huy động sự tham gia của cộng đồng
và cá nhân dưới nhiều hình thức xã hội hóa sẽ tạo thêm nguồn lực hỗ trợ các gia đình vượt qua thách thức
Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn: Cộng đồng dân cư
cần phối hợp với chính quyền địa phương trong việc phòng chống tệ nạn xã hội (ma
túy, cờ bạc, mại dâm...) và giữ gìn an ninh trật tự, vì đây là những yếu tố ngoại cảnh ảnh
hưởng lớn đến hạnh phúc gia đình. Việc phát hiện sớm và hòa giải kịp thời các mâu
thuẫn gia đình tại cơ sở (thông qua tổ hòa giải, chi hội phụ nữ, công an khu vực) sẽ ngăn
chặn được hậu quả xấu, bảo vệ được chức năng tình cảm – nuôi dưỡng của gia đình.
Đồng thời, các giá trị văn hóa tốt đẹp như tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong
cộng đồng cần tiếp tục được phát huy, tạo thành “lưới an sinh xã hội phi chính thức” hỗ
trợ những gia đình gặp rủi ro (ốm đau, tai nạn, đột biến…). Một xã hội lành mạnh, gắn
kết ở cộng đồng chính là môi trường thuận lợi để các gia đình Việt Nam ổn định và phát triển bền vững.
4.3. Giải pháp từ phía mỗi gia đình và cá nhân
Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình: Mỗi gia đình cần
chủ động xây dựng nếp sống văn minh, gia phong lành mạnh phù hợp với hoàn cảnh
mới. Các giá trị truyền thống quý báu như hiếu thảo với ông bà cha mẹ, thuỷ chung vợ
chồng, yêu thương đùm bọc con cháu, tôn sư trọng đạo… nên được duy trì và truyền lại
cho thế hệ trẻ. Đồng thời, gia đình cũng cần có tư duy cởi mở để tiếp thu có chọn lọc
những giá trị tiến bộ (như bình đẳng giới, chia sẻ công việc giữa vợ chồng, tôn trọng sự
khác biệt của con cái) nhằm làm phong phú đời sống gia đình. Mỗi gia đình hãy coi
trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho con em ngay từ nhỏ, vì “gia đình là trường
học đầu tiên” của con người. Ông bà, cha mẹ sống gương mẫu, hòa thuận sẽ tạo môi
trường tốt hình thành nhân cách con trẻ. Khi mỗi gia đình đều “tốt” thì cộng đồng xã
hội mới vững mạnh và tốt đẹp lên
Mỗi thành viên trong gia đình nâng cao ý thức trách nhiệm và kỹ năng sống: Gia
đình chỉ bền vững khi mỗi cá nhân làm tròn vai trò của mình. Ông bà, cha mẹ cần nỗ
lực lao động, ứng xử mẫu mực, dành thời gian quan tâm con cháu; con cháu phải hiếu
thảo, lễ phép và chăm chỉ học tập. Giữa vợ chồng cần có sự tôn trọng, bình đẳng và chia
sẻ cả về công việc lẫn tình cảm – đây là chìa khóa giữ gìn hạnh phúc. Khi xảy ra bất
đồng, các thành viên nên đối thoại chân thành, lắng nghe nhau để tìm tiếng nói chung,
tránh để mâu thuẫn kéo dài. Bên cạnh đó, mỗi người cần tự trang bị kỹ năng sống hiện
đại: kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tài chính gia đình...
để thích nghi với nhịp sống công nghiệp hóa. Chẳng hạn, cha mẹ trẻ học cách cân bằng
giữa công việc và chăm sóc con, con cái học cách tự lập và sẻ chia công việc nhà. Những
kỹ năng này giúp gia đình vận hành trôi chảy, thực hiện tốt cả chức năng kinh tế lẫn nuôi dưỡng, giáo dục.
Xây dựng gia đình văn hóa, đời sống lành mạnh không tệ nạn: Mỗi gia đình cần
hưởng ứng tích cực các phong trào thi đua và cuộc vận động do địa phương phát động
(như đăng ký danh hiệu “Gia đình văn hóa”, cam kết “5 không, 3 sạch” đối với hội viên
phụ nữ...). Việc thực hiện các tiêu chí văn hóa (không bạo lực, không tệ nạn, không sinh
con thứ ba, con cái học hành đầy đủ...) chính là tự hoàn thiện gia đình mình. Bên cạnh
đó, các gia đình nên chủ động phòng chống tệ nạn từ cổng nhà: quản lý, giáo dục con
em tránh xa ma túy, game cờ bạc; không tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Mỗi cá nhân cũng cần tỉnh táo trước tác động của mạng xã hội và truyền thông hiện đại
– biết chọn lọc nội dung giải trí, tránh sa vào lối sống ảo hay những trào lưu lệch lạc có
thể làm rạn nứt các mối quan hệ gia đình. Thay vào đó, nên dành thời gian cho các hoạt
động gắn kết gia đình: cùng nhau ăn cơm, trò chuyện, tham gia du lịch, thể thao…
Những sinh hoạt lành mạnh này vừa nâng cao thể chất tinh thần, vừa thắt chặt tình cảm giữa các thành viên.
Phát huy vai trò của thế hệ trẻ, đặc biệt là thanh niên, sinh viên: Thế hệ trẻ hôm
nay chính là chủ nhân của những gia đình trong tương lai. Do vậy, ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường, thanh niên cần rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho
gia đình và xã hội. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu bằng những việc cụ thể: sống tự giác, kỷ
luật và có trách nhiệm với bản thân; biết trân trọng công ơn sinh thành, dưỡng dục của
cha mẹ; chủ động chia sẻ việc nhà để giảm gánh nặng cho bố mẹ. Đồng thời, người trẻ
cần trang bị kiến thức về hôn nhân và gia đình (qua sách vở, lớp học kỹ năng, tư vấn...)
để có sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống gia đình sau này. Thanh niên cũng nên tích cực
tham gia các hoạt động tình nguyện, công tác xã hội tại địa phương – thông qua đó đóng
góp xây dựng cộng đồng và học hỏi kinh nghiệm ứng xử, tổ chức cuộc sống gia đình.
Khi mỗi cá nhân trẻ đều ý thức và hành động đúng đắn, chúng ta sẽ có những gia đình
Việt Nam vững mạnh, góp phần phát triển đất nước bền vững.
5. Liên hệ bản thân
Là những người trẻ sinh ra và lớn lên trong xã hội hiện đại, thế hệ sinh viên
chúng ta nhận thức sâu sắc rằng gia đình vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc và là
môi trường đầu tiên hình thành nhân cách của mỗi người. Bác Hồ từng dạy: “Nhiều gia
đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội
mới tốt”. Lời dạy đó nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và
phát triển chức năng gia đình – vì xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ cũng chính là góp
phần xây dựng xã hội phồn vinh, hạnh phúc.
Trước hết, mỗi sinh viên cần xác định cho mình thái độ đúng đắn đối với gia
đình. Dù ở lứa tuổi đang tự lập dần, chúng ta không nên lơ là bổn phận với gia đình.
Ngược lại, hãy biết trân quý thời gian bên gia đình, biết ơn và kính trọng ông bà, cha
mẹ. Thế hệ trẻ cần kế thừa truyền thống hiếu thảo, lễ nghĩa của dân tộc: luôn quan tâm
thăm hỏi ông bà, vâng lời cha mẹ, sống hòa thuận với anh chị em. Những hành động
nhỏ như giúp cha mẹ việc nhà, hướng dẫn ông bà sử dụng công nghệ, chia sẻ tâm sự
với người thân… đều thể hiện tinh thần trách nhiệm và tình yêu thương của người trẻ
đối với gia đình. Bản thân mỗi sinh viên cần rèn luyện để trở thành tấm gương sáng cho
các em nhỏ trong nhà noi theo về đạo đức và nếp sống.
Bên cạnh đó, là những tri thức tương lai, sinh viên phải nâng cao nhận thức về
vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại. Môi trường học đường và xã hội mang đến
cho giới trẻ nhiều luồng tư tưởng mới, lối sống mới; tuy nhiên, chúng ta phải biết chọn
lọc cái hay, loại bỏ cái dở trước khi tiếp thu. Ví dụ, sinh viên cần cảnh giác với những
quan điểm sống ích kỷ, hưởng thụ, coi nhẹ hôn nhân gia đình. Thay vào đó, hãy tích
cực trang bị kiến thức về giới tính, hôn nhân, kỹ năng nuôi dạy con cái, quản lý kinh tế
gia đình… Đây là hành trang quý để bước vào đời, giúp người trẻ tự tin xây dựng gia
đình hạnh phúc sau này. Đồng thời, mỗi sinh viên nên tìm hiểu về chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến gia đình (như chính sách dân số, bình đẳng
giới, phòng chống bạo lực gia đình). Sự hiểu biết này không chỉ phục vụ cho học tập
mà còn giúp người trẻ ý thức rõ hơn trách nhiệm đóng góp của mình trong việc thực
hiện các chủ trương đó ở cộng đồng.
Hơn nữa, sinh viên chúng ta cần đi đầu trong việc lan tỏa những giá trị tích cực
về gia đình. Thông qua các kênh mà giới trẻ am hiểu (mạng xã hội, câu lạc bộ, diễn đàn
sinh viên…), mỗi người có thể trở thành một “đại sứ” quảng bá lối sống đẹp, ứng xử
đẹp trong gia đình. Chẳng hạn, ta có thể chia sẻ câu chuyện hay về tấm gương hiếu thảo,
về kinh nghiệm giữ gìn hạnh phúc vợ chồng, hoặc mạnh dạn lên án những hành vi sai
trái làm tổn hại đến gia đình. Những hành động tưởng nhỏ đó sẽ góp phần xây dựng
nhận thức đúng đắn cho bạn bè đồng trang lứa và cộng đồng xung quanh về tầm quan
trọng của gia đình. Ngoài ra, người trẻ nên tích cực tham gia các phong trào tại địa
phương như “Thanh niên với văn hóa giao thông”, “Thanh niên tình nguyện vì cuộc
sống cộng đồng”, “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị”… Khi chung tay thực hiện
những việc có ích cho xã hội, chúng ta đang gián tiếp xây dựng môi trường sống an
toàn, lành mạnh cho mọi gia đình.
Cuối cùng, liên hệ bản thân mỗi sinh viên, học tập tốt, rèn luyện tốt chính là cách
thiết thực để chuẩn bị cho tương lai xây dựng gia đình. Kiến thức chuyên môn vững
vàng giúp chúng ta có sự nghiệp ổn định, đảm bảo thực hiện tốt chức năng kinh tế của
gia đình sau này. Nhân cách và lối sống lành mạnh giúp chúng ta thực hiện tốt chức
năng giáo dục, thỏa mãn tình cảm trong gia đình, trở thành những ông bố, bà mẹ mẫu
mực của con cái. Ngay từ hôm nay, hãy tập sống có trách nhiệm, biết yêu thương và
chia sẻ – đó chính là nền tảng để mai này mỗi người dựng xây gia đình riêng bền vững.
Thế hệ trẻ cần xác định rõ: bảo vệ và phát triển chức năng gia đình không phải việc của
riêng ai, mà là sứ mệnh chung của cả cộng đồng. Bằng nhiệt huyết, tri thức và tình yêu
thương, sinh viên Việt Nam nguyện phấn đấu để mỗi gia đình thực sự là tổ ấm hạnh
phúc và gia đình Việt Nam mãi là hạt nhân bền vững của xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Tuyên giáo Trung ương. (2005). Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban Bí thư ngày
21/2/2005 về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/chi-thi-
so49-cttw-cua-ban-bi-thu-ngay-2122005-ve-xay-dung-gia-dinh-trong-thoi-ky-
congnghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-
Báo Chính phủ. (n.d.). Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030: https://baochinhphu.vn/chien-luoc-phat-trien-gia-dinh-viet-namden- nam-2020-tam-nhin-2030-
Báo Quân khu 7. (n.d.). Lời Bác Hồ dạy ngày nay: Gia đình là hạt nhân của xã hội: https://baoquankhu7.
Tạp chí Cộng sản. (2023). Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình
trong xây dựng chính sách gia đình hiện nay:
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-
/2018/1009302/vandung-quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-gia-dinh-trong-xay-
dung-chinh-sachgia-dinh-hien-nay
Thanh Niên. (2023). Khuyến khích sinh đẻ - Cơ cấu dân số vàng:
https://thanhnien.vn/khuyen-khich-sinh-de-co-dan-so-vang-
Trường Đại học Khánh Hòa. (n.d.). Biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong gia
đình người Việt hiện nay: https://ukh.edu.vn
Tiểu luận.com. (n.d.). Tiểu luận: Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội: https://tieuluan.com