Bài tập quan hệ quốc tế | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Khái niệm Quan hệ quốc tế và quan hệ chính trị quốc tế. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là  lợi ích quốc gia. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Mức độ cùng phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
30 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Bài tập quan hệ quốc tế | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Khái niệm Quan hệ quốc tế và quan hệ chính trị quốc tế. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là  lợi ích quốc gia. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Mức độ cùng phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

4 2 lượt tải Tải xuống
MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ
Nhóm 1: (Nêu, trình bày)
1. Khái niệm Quan hệ quốc tế và quan hệ chính trị quốc tế
1.1. QHQT
Quan hệ quốc tế là mối quan hệ trên phạm vi thế giới, phạm vi nhân loại giữa các
quốc gia, dân tộc, các tổ chức và phong trào quốc tế, các vùng, khu vực,… đó là
hình thức đặc biệt của quan hệ xã hội gồm nhiều mặt quan hệ như chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học,.. trong đó quan hệ chính trị là quan hệ cơ bản và quan trọng
nhất. QHQT bao gồm các lĩnh vực chủ yếu: quan hệ chính trị quốc tế, quan hệ kinh
tế quốc tế, quan hệ quốc tế về an ninh,…
1.2. QHCTQT
Chính trị quốc tế bao gồm toàn bộ các nội dung trên nhưng được triển khai trên
phạm vi nhân loại thông qua hoạt động của các chủ thể cơ bản của quan hệ chính
trị quốc tế( các quốc gia – dân tộc độc lập, các tổ chức quốc tế, các phong trào
chính trị - xã hội…) Chính trị còn gồm hệ tư tưởng đó là học thuyết chính trị, quan
điểm, chính sách pháp luật của nhà nước.
QHCTQT là mqh về mặt chính trị giữa các nước, giữa các quốc gia dân tộc độc lập
có chủ quyền, giữa các tổ chức quốc tế và phong trào chính trị - xã hội, giữa các
vùng, khu vực xoay quanh những vấn đề cấu thành và vận động của nền chính trị
thế giới.
2. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Cơ sở hoạt động của
các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia
Đây là quy luật then chốt, mang tính tổng quát của quan hệ quốc tế.
- Các quốc gia khi tham gia vào đời sống chính trị quốc tế đều đặt lợi ích quốc gia
của mình lên trên hết và đều hướng tới việc bảo vệ, thỏa mãn, phát triển lợi ích
quốc gia của mình.
- Các lợi ích khác: lợi ích cá nhân, tập thể, nhóm, các đảng phái,… đều được xem
xét dưới góc độ bảo vệ, phát triển lợi ích quốc gia và chỉ được thúc đẩy phát triển
khi nó hài hoà với lợi ích quốc gia.
- Lợi ích quốc gia là điểm cơ bản trong vạch định chiến lược phát triển, hoạch định
và thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia, là những mục tiêu,
nhu cầu mà 1 quốc gia theo đuổi thực hiện ở trong nước cũng như trong QHQT
- Xác định lợi ích quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có yếu tố chủ quan, khách
quan, trong nước, ngoài nước,…
- Lợi ích QG trong QHQT liên quan và được thể hiện trong tất cả lĩnh vực của đời
sống chính trị - xã hội, nhưng bất biến là củng cố, bảo vệ và phát triển an ninh, chủ
quyền quốc gia. Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và an ninh QG
bao gồm cả an ninh về chính trị, quân sự,…. Là những giá trị gắn với sự tồn tại và
phát triển của bất cứ QG nào
- Để thỏa mãn nhu cầu gìn giữ và phát triển lợi ích QG của mình, các nước trên TG
đều có 2 xu hướng lớn:
+ Xu hướng tăng cường tiềm lực quốc phòng: củng cố, hiện đại hoá quân đội, mua
sắm trang thiết bị,… Các QG nhỏ nghèo hợp tác quân sự, liên minh quân sự với
nhau và với các QG có tiềm lực lớn hơn, tạo thành thế cân bằng lực lượng tương
đối.
+ Xu hướng phát triển kinh tế: lấy KT làm lĩnh vực trung tâm trong QHQT, là 1
yếu tố cấu thành sức mạnh, yếu tố của sự thịnh vượng, giàu mạnh và là lĩnh vực
hợp tác giữa các nước.
=> 2 xu hướng ưu tiên thực hiện nhằm bảo vệ, thỏa mãn và phát triển lợi ích QG
trong QHQT.
VD: 1. Sự kiện VN tham gia ASEAN: Quá trình tham gia ASEAN mang lại cho
Việt Nam những lợi ích quan trọng và thiết thực, bao trùm là có được môi trường
hòa bình và ổn định thuận lợi cho an ninh và phát triển, nâng cao vị thế của đất
nước, hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước. Tham gia ASEAN cũng tạo điều kiện giúp Việt Nam đẩy mạnh hội nhập khu
vực và quốc tế sâu rộng hơn.
Gia nhập ASEAN giúp Việt Nam phá thế bị bao vây về kinh tế và cô lập về chính
trị khi đó; chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu ở khu vực, tạo dựng mối quan hệ
mới về chất giữa các nước Đông Nam Á theo chiều hướng hữu nghị, ổn định và lâu
dài, hợp tác toàn diện và chặt chẽ cả về đa phương và song phương.
Việt Nam có những điều kiện thuận lợi hơn để góp phần duy trì môi trường hòa
bình và ổn định khu vực; phối hợp lập trường và hợp tác với các nước trong việc
xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế phức tạp, hỗ trợ đáng kể trong việc bảo vệ chủ
quyền và lợi ích ở Biển Đông.
3. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Mức độ cùng phụ
thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng
- Các tổ chức quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ liên tiếp ra đời và không
ngừng lớn mạnh => phụ thuộc hiện nay đang được đẩy mạnh
- Các QG ngày càng có nhiều lợi ích chung, bên cạnh lợi ích riêng, lợi ích đặc thù
của mỗi QG. Sự đan xen lợi ích giữa các QG thể hiện ngày càng rõ ràng, số lượng,
phạm vi những lợi ích chung ngày càng mở rộng.
- Vai trò của các thiết chế quốc tế được đẩy mạnh, mở rộng, nhiều tổ chức mới
được lập nên và quy tụ ngày càng nhiều thành viên. Sự hoạt động của các tổ chức
quốc tế này sẽ củng cố mối liên hệ, thúc đẩy mức độ quan hệ, mở rộng phạm vi,
lĩnh vực quan hệ giữa các quốc gia. Sự hiện diện và phát triển của các tổ chức quốc
tế làm tăng thêm sự cùng phụ thuộc giữa các quốc gia.
- TG đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi cần có sự phối hợp giữa các quốc
gia, tổ chức quốc tế để khắc phục và giải quyết: bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi
trường, bệnh tật hiểm nghèo, an ninh phi truyền thống,… => cần có sự hợp tác chặt
chẽ của các quốc gia và khu vực trên TG
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, quá trình toàn cầu hoá, tài chính,
thông tin…đang làm cho các quốc gia phụ thuộc vào nhau. Sự phát triển của mỗi
QG, đặc biệt là về kinh tế, đang phụ thuộc và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình,
diễn biến, các sự kiện trên thế giới, trước hết là từ tình hình của nền kinh tế toàn
cầu. Nền KT của mỗi QG đang trở thành 1 bộ phận của nền KT toàn cầu và những
biến động trong nền KT toàn cầu lập tức tác động, ảnh hưởng đến nền KT của các
QG = >Các giá trị chung về văn hoá, xã hội, chính trị đang phổ biến rộng rãi. =>
Đòi hỏi quá trình dân chủ hoá, nhân đạo hoá đời sống quốc tế phải được thúc đẩy,
làm cơ sở cho sự hợp tác bình đẳng, dân chủ giữa các QG.
VD: Nga mỏ dầu thô tg -> các nước phụ thuộc -> thiếu xăng
4. Khái niệm, phân loại, đặc trưng chủ thể quan hệ quốc tế
4.1. khái niệm chủ thể quan hệ quốc tế
+ chủ thể nói chung là người làm ra quan hệ và có khả năng làm thay đổi quan hệ.
Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể chính trị - xã hội và cá nhân có hoạt
động xuyên quốc gia, hoặc có các hoạt động có tác động, ảnh hưởng xuyên quốc
gia, làm nảy sinh và phát triển các mối quan hệ quốc tế.
4.2. Đặc trưng chủ thể QHQT
+ có mục đích khi tham gia QHQT, tức là có động cơ tham gia QHQT. Động cơ
được cụ thể hoá bằng các lợi ích trong QHT. Động cơ quyết định việc tham gia
quan hệ và sự theo đuổi của chủ thể trong QHQT. Không có mục đích, chủ thể sẽ
không tham gia QHQT và không còn là chủ thể QHQT.
+ Có tham gia vào QHQT, tức là tham gia vào quan hệ với nước ngoài và là 1 bên
trong quan hệ đó. Tham gia vào QHQT quy định tính “quan hệ quốc tế” của chủ
thể. Không tham gia vào quan hệ với nước ngoài, QHQT không hình thành và chủ
thể không trở thành chủ thể QHQT
+ có khả năng thực hiện QHQT, tức là phải có năng lực, sự độc lập hay sự tự trị
nhất định. Chủ thể không có năng lực thì không hình thành và thực hiện được
QHQT. Chủ thể không độc lập hoặc thiếu sự tự trị thì chỉ là công cụ của chủ thể
khác mà không phải là chủ thể QHQT thực sự.
+ Hành vi và quyết định có ảnh hưởng nhất định tới QHQT, tức là hành vi và quyết
định của nó phải có khả năng tác động đến chủ thể khác để hình thành hoặc làm
thay đổi quan hệ. đồng thời, việc có ảnh hưởng cũng khiến các chủ thể khác phải
tính đến nó trong chính sách đối ngoại của mình.
4.3. phân loại chủ thể quốc tế
Có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Phổ biến
nhất là:
- Theo tiêu chí về khả năng thực hiện và gánh vác trách nhiệm, nghĩa vụ
quốc tế cũng như tác động và ảnh hưởng của các chủ thể vào sự phát triển của
quan hệ chính trị quốc tế, có thể phân biệt thành:
+ Quốc gia có chủ quyền: là chủ thể chính, đầy đủ nhất của quan hệ chính trị
quốc tế. Đó là những thực thể chính trị cao nhất có khả năng và trách nhiệm
trực tiếp thừa nhận nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong hệ thống pháp luật
quốc tế. Nó cũng được sự bảo vệ của cộng đồng quốc tế và pháp luật quốc tế.
Các quốc gia có chủ quyền hiện nay bao gồm các quốc gia xã hội chủ nghĩa,
các quốc gia tư bản chủ nghĩa và các nước đang phát triển.
+ Các tổ chức quốc tế và khu vực: một bộ phận không thể thiếu trong việc giao
lưu, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi quốc tế của các quốc gia.
+ Các tổ chức chính trị - xã hội: các đảng phái, các tổ chức nghề nghiệp, lứa
tuổi, tôn giáo, giới tính, sở thích,....
+ Các công ty xuyên quốc gia: các tập đoàn dầu lửa, tập đoàn viễn thông, máy
tính,.... có khả năng tác động lớn đến đời sống chính trị thế giới, có mức lợi
nhuận lớn hơn nhiều so với một quốc gia nhỏ.
+ Các cá nhân: các lãnh tụ của một quốc gia, các tổ chức quốc tế và các cá nhân
bình thường có ảnh hưởng đến đời sống chính trị thế giới.
5. Khái niệm Quốc gia
Quốc gia là là một phạm vi lãnh thổ có tính độc lập về phương diện đối ngoại,
trong đó hình thành các cơ cấu không thể tách rời là chính quyền, một cộng đồng
người có tính tập quán, thói quen, tín ngưỡng và các đoàn thể
Một thực thể được công nhận là một quốc gia khi đáp ứng được 4 tiêu chí: Có lãnh
thổ, dân cư thường xuyên, có nhà nước, có năng lực tham gia vào các quan hệ với
các thực thể, quốc gia khác.
Quốc gia phải hội đủ các dấu hiệu hình thức, bản chất và pháp lý quốc tế
Về hình thức, quốc gia phải có một lãnh thổ xác định, một tập hợp dân cư và một
nhà nước cai quản dân cư sống trên lãnh thổ đó. Một số dấu hiệu phụ khác như:
quốc kỳ, quốc ca và quốc huy,...
Về bản chất, dấu hiệu này được phản ánh trong chức năng đối nội và đối ngoại của
nhà nước. Về mặt đối nội, đó là quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình. Về
mặt đối ngoại, đó là sự độc lập tự chủ trong quan hệ với bên ngoài.
Về tư cách pháp lý, được thể hiện qua sự công nhận quốc gia của nước khác hoặc
là thành viên của Liên hợp quốc. Bao gồm công nhận minh thị (thể hiện rõ ràng, cụ
thể và minh bạch trong văn kiện chính thức của bên công nhận) và công nhận mặc
thị (sự công nhận trên thực tế nhưng không được thể hiện một cách rõ ràng, minh
bạch trong một văn kiện cụ thể.
6. Những nguyên nhân của xung đột quốc tế
Xung đột quốc tế là sự tương tác có tính cưỡng bức, được thể hiện rõ giữa các
cộng đồng có tính đối kháng với nhau.
4 đặc trưng cơ bản của xung đột quốc tế:
- Có 2 hoặc nhiều bên tham gia
- Họ bị lỗi cuốn vào các hoạt động đối kháng
- Họ có những hành động cưỡng bức nhằm làm tổn hại, gián đoạn, tiêu diệt hoặc
điều khiển theo cách khác đối thủ
- Sự tương tác (hay mối quan hệ đó) của họ được biểu hiện tương đối rõ ràng do
vậy những người ngoài dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của nó
Nguyên nhân của xung đột quốc tế:
6.1. Nguyên nhân bên ngoài: liên quan tới cấu trúc chính trị thế giới, bối cảnh
quốc tế và khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh trong quá trình quan hệ
giữa các quốc gia, các chủ thể của quan hệ quốc tế.
Một là, Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc hệ thống chính trị thế giới, bối cảnh quốc tế
và khu vực hiện nay, hình thành trật tự thế giới mới.
Hai là, Xuất phát từ sự mất cân bằng cấu trúc trong hệ thống thế giới, do sự xuất
hiện của các quốc gia “muốn thay đổi”
Ba là, Khi sụp đổ hoặc có sự biến đổi lớn trong tương quan lực lượng quốc tế, dẫn
đến các quốc gia này bị mất sự định vị rõ ràng của mình trong cấu trúc quan hệ
quốc tế, trong việc xác định hướng quan hệ, tập hợp lực lượng quốc tế và có xu
hướng kết thúc tình trạng đó.
VD: Sự tan rã của Liên Xô
6.2. Nguyên nhân bên trong: là nguyên nhân xuất hiện trong đời sống chính trị
của mỗi quốc gia, nảy sinh trong quá trình hoạt động giữa các chủ thể của
quan hệ quốc tế, trước hết là giữa các quốc gia, cộng đồng dân tộc và tôn
giáo.
- Nguyên nhân lãnh thổ: biểu hiện qua các tranh cãi về biên giới, lãnh thổ; các cuộc
xâm chiếm lãnh thổ. Đây là nguyên nhân phổ biến và khó giải quyết nhất hiện nay
trên thế giới, bởi lãnh thổ, biên giới quốc gia liên quan đến không gian sinh tồn và
phát triển của đất nước và là yếu tố quan trọng nhất đối với mọi quốc gia. Đó cũng
là những vấn đề gắn với quá trình lịch sử lâu dài, phức tạp trong quan hệ giữa các
nước, cộng đồng dân tộc.
VD: Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông
- Nguyên nhân chính trị: biểu hiện qua các cuộc xung liên quan đến ở sự khác biệt
về hệ tư tưởng; qua sự hỗ trợ, can thiệp trực tiếp, gián tiếp vào công việc nội bộ
của các nước khác; phá hoại, xuyên tạc tình tình của các nước khác; ủng hộ, giúp
đỡ các nhóm đối lập; tiến hành lật đổ chính quyền, xây dựng chính quyền bù
nhìn,...
VD:
- Nguyên nhân tôn giáo: thể hiện qua sự xung đột giữa các cộng đồng tôn giáo; sự
va chạm giữa các giá trị tôn giáo; theo dõi vì tín ngưỡng; phân biệt, ngược đãi tín
ngưỡng. Ngoài ra, nhiều tổ chức vũ trang, khủng bố hiện nay đang có xu hướng
núp dưới vỏ bọc tôn giáo, lợi dụng các vấn đề tôn giáo để thực hiện các hoạt động
của mình. Các cuộc xung đột tôn giáo cũng rất phức tạp và khó giải quyết do liên
quan đến những chuẩn mực giá trị, đạo đức của các cộng đồng dân tộc, có lịch sử
lâu dài và thường liên quan đến nhiều quốc gia, ở các khu vực khác nhau trên thế
giới.
VD: Xung đột giữa các nhóm đạo hồi ở Iraq
- Nguyên nhân kinh tế: biểu hiện qua sự bao vây, cấm vận thương mại; phong tỏa
hàng hóa, thiết lập hàng rào thuế quan, bảo hộ hàng hóa; độc quyền sản xuất,
phương thức bán hàng…Các cuộc xung đột cũng thường xuyên xảy ra giữa các
trung tâm kinh tế, thương mại thế giới như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc,...
VD: Sự bao vây, cấm vận của Mỹ đối với Cuba
- Nguyên nhân tài nguyên, môi trường: biểu hiện qua việc tranh chấp tài nguyên
thiên nhiên, nhất là nguồn lợi hải sản, khai thác dầu lửa, khí đốt thềm lục địa; gây ô
nhiễm nguồn nước, xây dựng cầu cống , đập thủy lợi, thủy điện trên các dòng
sông; gây ô nhiễm không khí, nạn khói mù; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường
khắt khe nhằm vào các hàng hóa nhập khẩu,...
VD:
Ngoài ra, xung đột quốc tế còn có các nguyên nhân và điều kiện phát triển ngay
trong lòng mỗi quốc gia:
Chất lượng chính phủ
Sắc tộc, dân tộc trong nội bộ quốc gia.
Sự khác nhau, khoảng cách về phát triển dựa các nhóm người, khu vực địa
phương.
Sự thay đổi chính trị, kinh tế lớn, dẫn đến sự ra đời của các thế lực chính trị, kinh
tế mới
Những khó khăn trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, những hạn chế các quyền
cơ bản của con người về tự do, dân chủ, tín ngưỡng,...
7. Khái niệm và các loại hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là: là việc phối hợp hoạt động giữa 2 hay nhiều chủ thể quan hệ
quốc tế nhằm thực hiện các lợi ích nhất định
Hợp tác thường diễn ra trên cơ sở tự nguyện của các bên và diễn ra trên nhiều lĩnh
vực, nhiều quy mô, nhiều mục tiêu và biện pháp khác nhau.
Các loại hợp tác quốc tế:
Hợp tác song phương: khi có 2 chủ thể tham gia
Hình thức hợp tác song phương quan trọng nhất là quan hệ giữa 2 quốc gia. Đây là
hình thức hợp tác phổ biến nhất trong quan hệ hợp tác quốc tế nói chung và có thể
được triển khai trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, quân
sự, văn hóa…) và giữa đối tác thuộc cơ cấu nhà nước của hai bên
Bên cạnh hình thức hợp tác song phương giữa hai quốc gia luôn phát triển hình
thức hợp tác giữa các chính đảng, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức nhân
dân giữa hai nước (bao gồm các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội,
hòa bình, từ thiện, nhân đạo, môi trường, các tổ chức phi chính phủ...). Các hình
thức hợp tác này có tác dụng tăng cường, thúc đẩy hợp tác nhà nước, nhiều khi
chúng vượt trước quan hệ nhà nước
Hợp tác đa phương: khi có nhiều chủ thể tham gia
Hình thức hợp tác đa phương thường biểu hiện thông qua các tổ chức quốc tế, các
diễn đàn và hội nghị quốc tế.
Hợp tác đa phương có thể là giữa các quốc gia, các chính đảng hoặc các tổ chức
chính trị xã hội, có thể ở cấp độ khu vực, liên khu vực, châu lục và có thể ở lĩnh
vực kinh tế, quân sự, tôn giáo văn hóa...
Các hình thức hợp tác này được thể hiện qua sự hoạt động của các tổ chức đa
phương như nhóm các nước G7, G77, tổ chức các nước nói tiếng Pháp, Tiếng Anh,
Liên minh châu Âu, khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, tổ chức các nước xuất khẩu
dầu mỏ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Các tổ chức bảo vệ hòa bình, chống
mặt trái toàn cầu hóa, Bảo Vệ Môi Trường...
Hợp tác toàn cầu: khi có tất cả hoặc hầu hết các chủ thể quan hệ quốc tế
tham gia.
Cơ sở cho sự hợp tác quốc tế này là trùng hợp lợi ích giữa các quốc gia trong cộng
đồng thế giới trong việc giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà không một
quốc gia hay nhóm quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết nổi, cần có sự phối hợp
hợp tác của tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới đó là những vấn đề như bảo
vệ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân
số, chống bệnh tật hiểm nghèo, chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm quốc tế,
khai thác tài nguyên thiên nhiên...
Các quốc gia đang thực hiện hợp tác toàn cầu trong các tổ chức toàn cầu như Liên
Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế
giới...
8. Những đặc trưng, vai trò của tổ chức quốc tế
Tổ chức quốc tế là: thực thể có cấu trúc tổ chức xác định gồm các thành viên là
các quốc gia hoặc thuộc nhiều quốc gia được thành lập và hoạt động trên cơ sở các
thỏa thuận giữa các thành viên đàm theo đuổi những mục tiêu chung
Đặc trưng của tổ chức quốc tế: Tổ chức quốc tế có những đặc trưng cơ bản sau:
- Tổ chức quốc tế được thành lập vì những mục đích chung nhất định mục đích này
được các thành viên thỏa thuận và thường được ghi nhận trong các điều ước thành
lập tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung các thành viên của tổ chức sẽ thỏa
thuận nguyên tắc hoạt động và thành lập cơ cấu tổ chức thích hợp để đạt được mục
đích đó
- Tổ chức quốc tế được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các thành viên thỏa
thuận này được thể hiện bằng văn bản và được gọi bằng các tên khác nhau như
hiến chương (hiến chương Liên Hợp Quốc), quy chế (quy chế của tổ chức Y tế Thế
Giới) , Hiệp ước (Hiệp ước Marrakesh về thành lập chức Thương mại thế giới)
hoặc điều lệ của tổ chức… Các văn bản này quy định, mục đích, nhiệm vụ, nguyên
tắc, cơ cấu tổ chức và là cơ sở pháp lý cho các hoạt động của tổ chức.
- Thành viên của các tổ chức quốc tế có thể là các quốc gia độc lập có chủ quyền -
đó là các tổ chức quốc tế liên quốc gia nhưng cũng có thể là các tổ chức hoặc cá
nhân mang các quốc tịch khác nhau - đó là các tổ chức quốc tế phi chính phủ hoặc
là hình thức đan xen giữa hai hình thức trên.
-Tổ chức quốc tế liên quốc gia hoạt động trên hai nguyên tắc cơ bản:
+ Nguyên tắc bình đẳng tức là các thành viên bình đẳng với nhau và có quyền
ngang nhau trong việc nêu ý kiến thảo luận và đưa ra các quyết định cũng như thực
hiện các nghĩa vụ của mình.
+ Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên
đây là nguyên tắc thể hiện tính chất chủ quyền về lãnh thổ và khả năng của mỗi
quốc gia trong việc thực hiện công việc nội bộ của mình trừ các trường hợp đã
được ghi nhận trong quy chế điều lệ thành lập của tổ chức ví dụ quy chế cưỡng chế
được quy định trong hiến chương Liên Hợp Quốc.Trong trường hợp ngoại lệ việc
trao thêm quyền hoặc nghĩa vụ cho 1 thành viên ngoài những quyền và nghĩa vụ
thông thường phải được sự đồng ý của các thành viên khác ví dụ trao thêm quyền
đặc biệt cho các thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
- Các thành viên tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế đối với các thành viên là các
quốc gia đều này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan
hệ quốc tế xuất phát từ sự tự nguyện tham gia các thành viên có thể rút ra khỏi tổ
chức quốc tế theo điều lệ của tổ chức đó đồng thời các quyết định nghị quyết của
tổ chức quốc tế mang tính chất khuyến nghị. Ngoại trừ những vấn đề đã được ghi
trong điều lệ về hoạt động nội bộ mang tính bắt buộc đã được các thành viên thỏa
thuận
Vai trò của tổ chức quốc tế: Các tổ chức quốc tế có vai trò rất lớn với đời sống
chính trị trong và ngoài quốc gia
Với các quốc gia:
+ Các quốc gia thông qua các tổ chức quốc tế để thực hiện chiến lược đối ngoại
của mình: các mục tiêu chính trị,, an ninh quốc phòng, kinh tế, xã hội…
+ Tổ chức quốc tế là diễn đàn để các quốc gia bày tỏ quan điểm tập hợp lực lượng,
tranh thủ dư luận, tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia khác và là nơi để đấu tranh
chống các quan điểm không có lợi cho mình đây là các quốc gia vừa đấu tranh vừa
hợp tác để bảo vệ phát triển lợi ích của mình.
+ Tổ chức quốc tế là công cụ để các quốc gia giải quyết các vấn đề cùng có mối
quan tâm chung nhằm thực hiện những lợi ích chung
Với khu vực và quốc tế:
+ Các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu
Âu có vai trò nhất định trong giữ gìn giữ hòa bình, an ninh khu vực và toàn thể
giới giúp ngăn ngừa giải quyết các cuộc xung đột bằng phương pháp hòa bình, lập
lại hòa bình ở nhiều khu vực trên thế giới
+ Tổ chức Quốc Tế tạo ra sự đối thoại, hợp tác và phát triển, tập hợp lực lượng,
góp phần làm tăng tính cùng phụ thuộc giữa các quốc gia, làm cho lợi ích giữa các
quốc gia ngày càng đan xen lẫn nhau
Tuy nhiên việc đánh giá vai trò của các tổ chức quốc tế, tính tích cực hay tiêu cực
của một tổ chức quốc tế cần được nhìn nhận trong từng trường hợp cụ thể trong
giai đoạn lịch sử cụ thể và dưới góc độ bảo vệ quyền lợi lợi ích quốc gia cụ thể
Nhóm 2: (phân tích, giải thích)
1. Khái niệm lợi ích quốc gia
Lợi ích quốc gia là: Lợi ích quốc gia là những lợi ích chủ yếu của quốc gia có chủ
quyền trong quan hệ với bên ngoài.
Lợi ích quốc gia bao gồm những lợi ích chung chủ yếu của quốc gia. Nó thường
được phản ánh trong mục đích và mục tiêu của chính sách đối ngoại quốc gia.
Phân tích khái niệm
Lợi ích quốc gia là hiện thực hóa 3 nhóm mục tiêu:
An ninh: an ninh lương thực, con người, quốc gia, năng lượng,…
Phát triển: kinh tế, giáo dục, con người,…
Ảnh hưởng
Đây là khái niệm thuộc phạm trù QHQT:
Thứ nhất, lợi ích quốc gia chỉ nảy sinh trong tương tác với các quốc gia khác, tức
là trong điều kiện QHQT.
Thứ hai, lợi ích quốc gia nằm trong mọi công đoạn của QHQT, là sự cụ thể hóa
động cơ tham gia QHQT của quốc gia, là sự hướng dẫn hành vi của quốc gia trong
QHQT và là kết quả mong đợi của sự tương tác giữa các quốc gia.
Nội dung cơ bản trong lợi ích quốc gia của các nước là giống nhau khi đều hướng
tới lợi ích an ninh và phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, cụ thể, lợi ích của các
quốc gia khá khác nhau khi phụ thuộc nhiều vào tình hình trong nước, bối cảnh
quốc tế, địa vị trong QHQT năng lực thực hiện lợi ích, quan niệm về lợi ích của
giới lãnh đạo, cách thức và phương tiện thực hiện lợi ích,...=> tạo nên sự đa dạng
và tính phức tạp trong QHQT.
2. Khái niệm sức mạnh quốc gia, những yếu tố tự nhiên cấu thành nên sức mạnh
quốc gia.
Sức mạnh quốc gia có thể hiểu theo 2 phương diện. Thứ nhất là khả năng vật chất
và tinh thân có thể được khai thác để thực hiện lợi ích quốc gia, khả năng hiện có
và tiềm năng. Thứ hai là khả năng của giới lãnh đạo phát huy hiệu quả các khả
năng đó trong hoạt động quốc tế , tạo ra hiệu quả cao nhất cho việc thực hiện mục
tiêu quốc gia
Sức mạnh quốc gia là: khả năng tổng hợp của quốc gia vô hình và hữu hình, nhân
tố tự nhiên và nhân tố xã hội, nhân tố dân số và nhân tố lãnh đạo nhằm tác động và
ảnh hưởng ra bên ngoài nhằm thực hiện các lợi ích quốc gia. Đó là tổng hợp các
khả năng quân sự, kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, tư tưởng và việc vận dụng
các khả năng đó trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia bao hàm cả khả năng
hiện tại và khả năng tiềm tàng.
Sức mạnh tổng hợp quốc gia là toàn bộ thực lực bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của một quốc gia, bao gồm các nhân tố vật chất (phần cứng: như tài nguyên,
dân số, kinh tế, quân sự), các nhân tố tinh thần (phần mềm: như chất lượng chính
phủ, thể chế chính trị) và sức mạnh ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế (chính sách
đối ngoại, vị trí trong các tổ chức quốc tế, vị trí trong khu vực và toàn cầu).
Sức mạnh là thuộc tính của quốc gia và là tổng cộng các khả năng của quốc
gia, bất kể được xem xét một cách biệt lập hay trong tương quan với các quốc gia
khác. Trong quan hệ chính trị quốc tế, cần phân biệt quyền lực quốc gia và sức
mạnh quốc gia. Quyền lực quốc gia là khả năng chi phối, kiểm soát tư duy và hành
động của người khác, tuỳ thuộc vào việc xác định mục tiêu trong hoạt động đối
ngoại. Mỗi xã hội có quan điểm về quyền lực khác nhau. Còn sức mạnh quốc gia là
các khả năng, công cụ thực hiện lợi ích quốc gia.
Những yếu tố tự nhiên cấu thành nên sức mạnh quốc gia là: Nhân tố tự nhiên bao
gồm vị trí địa lý, diện tích, địa hình, điều kiện khí hậu,tài nguyên thiên nhiên của
quốc gia.
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ đến lịch sử hình thành phát triển
của quốc gia. Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan vốn có được thiên nhiên tạo
lập con người khai thác sử dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có và bằng lao động của
mình cải tạo thế giới tự nhiên tùy theo từng giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau
tùy theo từng mục tiêu phát triển khác nhau mà điều kiện tự nhiên có thể tác động
tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của quốc gia.Trong quá trình phát triển của
mình các quốc gia thường khai thác triệt để những ưu thế về điều kiện địa lý và tài
nguyên thiên nhiên để phát triển đất nước và hạn chế những bất lợi do thiên nhiên
chi phối
- Vị trí địa lý điều kiện địa hình của quốc gia liên quan mật thiết đến khả năng phát
triển kinh tế và phòng thủ của quốc gia trong lịch sử quan hệ quốc tế quốc gia nào
có điều kiện tự nhiên gây trở ngại cho việc di chuyển của lực lượng viễn chinh thì
những chi phí cho việc phòng thủ sẽ bớt đi nhiều tuy nhiên khi có lợi cho phòng
thủ thì thường lợi cho phát triển việc giao lưu kinh tế
- Tài nguyên thiên nhiên luôn là cơ sở cho phát triển kinh tế của một quốc gia tuy
nhiên không phải quốc gia nào cũng giàu tài nguyên cũng là quốc gia mạnh và
ngược lại tài nguyên thiên nhiên có đem lại sức mạnh hay không còn phụ thuộc
vào khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên và trình độ kỹ thuật cơ cấu nền kinh
tế
- Sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên là những bất lợi về mặt chính trị đối với
những nước yếu thậm chí đối với những nước có tương quan kinh tế chính trị cân
bằng ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật tầm quan trọng của nhân tố
địa lý không còn mạnh mẽ được như trước nữa tuy nhiên địa lý vẫn là nhân tố quan
trọng trong mọi hoạt động chính sách đối ngoại. Nằm ở vị trí địa lý - chính trị quan
trọng có thể làm tăng sức mạnh quốc gia, tăng sự lựa chọn trong hoạt động đối
ngoại của quốc gia
3. Khái niệm chủ quyền quốc gia. Phân tích một ví dụ minh họa về việc
xâm phạm và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên thực tiễn hiện nay
Chủ quyền QG Là quyền làm chủ 1 cách độc lập, trọn vẹn trên mọi phương diện
KT, chính trị, quân sự, ngoại giao và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư
pháp của 1 QG trong phạm vi lãnh thổ QG đó. khái niệm mang tính chính trị, pháp
lý để xác định vị thế của một quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Theo luật pháp quốc tế hiện đại, chủ quyền quốc gia bao gồm các khía cạnh:
Mọi nhà nước đều bình đẳng về mặt pháp luật;
Mỗi nhà nước đều được hưởng mọi quyền được định sẵn bởi chủ quyền đầy đủ của
mình;
Mỗi nhà nước đều phải tôn trọng thực tế thực thể pháp lý của các nhà nước khác;
Tính toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của mỗi nhà nước là bất khả xâm phạm;
Mỗi nhà nước có quyền lựa chọn và phát triển các hệ thống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội của riêng mình;
Mỗi nhà nước phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình và chung sống
hòa bình với các nhà nước khác.
Ví dụ minh họa: Cuộc xung đột Nga - Ukraine. Ở đây Nga là nước có động thái tấn
công quân sự trước vào vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Ukraine. Như vậy Nga
đang xâm phạm chủ quyền Ukraine và Ukraine đã đáp trả bằng cách kêu gọi sự
ủng hộ của quốc tế lên án hành động của Nga đồng thời triển khai lực lượng phòng
thủ tại các khu vực trọng yếu gần biên giới với Nga, xin sự hỗ trợ từ các nước
phương tây trong lĩnh vực vũ khí, quân sự.
4. Những quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản của quốc gia trong quan hệ quốc tế
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia bao gồm:
Quyền: (7)
+ Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi
+ Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể
+ Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập
+ Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ
+ Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế.
+ Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của Luật quốc tế
+ Quyền được trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế phổ cập
Nghĩa vụ (8)
+ Tôn trọng chủ quyền các quốc gia
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
+ Hợp tác hữu nghị với các quốc gia khác nhằm duy trì hb và an ninh quốc
tế.
+ Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong qhqt
+ Tôn trọng quy phạm Jus cogens và những cam kết quốc tế.
+ Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình.
Nhóm 3: (Phân tích, giải thích qua các minh chứng thực tế)
1. Khái niệm các vấn đề toàn cầu. Lấy ví dụ thực tiễn minh họa
Những vấn đề toàn cầu dùng để chỉ tổng thể những vấn đề cấp bách mà từ nguyên
nhân nảy sinh, phát triển đến phạm vi, quy mô tác động và việc khắc phục những
hậu quả của nó liên quan trực tiếp đến tất cả các dân tộc, QG, nhân loại: chiến
tranh – hoà bình, ô nhiễm môi trường, dân số, dịch bệnh,…
Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề có tính toàn thế giới và tính toàn nhân loại,
có hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn đối với loài người và là
những vấn đề chỉ có thể dựa vào nỗ lực chung của toàn nhân loại mới giải quyết
được.
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng cần được
giải quyết. Vấn đề này mang tính toàn cầu vì biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến thời tiết
khắc nghiệt hơn, khủng hoảng với thực phẩm và tài nguyên, đồng thời làm tăng
khả năng lây lan của bệnh tật.
Liên Hợp Quốc đã ra báo cáo chi tiết về tác động của Trái Đất nóng lên. Khí hậu sẽ
khắc nghiệt hơn gấp 4 lần vào năm 2100 kể cả khi nhiệt độ bề mặt Trái Đất chỉ
tăng thêm 1,5 độ C. Nếu nhiệt độ Trái Đất tăng lên 2 độ C, số trận bão, lũ, hạn hán
và sóng nhiệt sẽ tăng gấp 5 lần. Hiện nay, ít nhất 3,3 tỷ người đang sống trong
vùng nguy hiểm do tác động của biến đổi khí hậu và có nguy cơ tử vong vì thời tiết
cực đoan cao hơn 15 lần. Ngày càng nhiều người tử vong trong các đợt sóng nhiệt,
dịch bệnh, thời tiết cực đoan, ô nhiễm không khí và nạn đói do tình trạng ấm lên
toàn cầu. Bên cạnh đó, IPCC cảnh báo các thành phố và khu tái định cư ven biển sẽ
đối mặt với thách thức lớn để bảo vệ tính mạng con người và tài sản trước các mối
đe dọa về triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng.
| 1/30

Preview text:

MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ
Nhóm 1: (Nêu, trình bày)
1. Khái niệm Quan hệ quốc tế và quan hệ chính trị quốc tế 1.1. QHQT
Quan hệ quốc tế là mối quan hệ trên phạm vi thế giới, phạm vi nhân loại giữa các
quốc gia, dân tộc, các tổ chức và phong trào quốc tế, các vùng, khu vực,… đó là
hình thức đặc biệt của quan hệ xã hội gồm nhiều mặt quan hệ như chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học,.. trong đó quan hệ chính trị là quan hệ cơ bản và quan trọng
nhất. QHQT bao gồm các lĩnh vực chủ yếu: quan hệ chính trị quốc tế, quan hệ kinh
tế quốc tế, quan hệ quốc tế về an ninh,… 1.2. QHCTQT
Chính trị quốc tế bao gồm toàn bộ các nội dung trên nhưng được triển khai trên
phạm vi nhân loại thông qua hoạt động của các chủ thể cơ bản của quan hệ chính
trị quốc tế( các quốc gia – dân tộc độc lập, các tổ chức quốc tế, các phong trào
chính trị - xã hội…) Chính trị còn gồm hệ tư tưởng đó là học thuyết chính trị, quan
điểm, chính sách pháp luật của nhà nước.
QHCTQT là mqh về mặt chính trị giữa các nước, giữa các quốc gia dân tộc độc lập
có chủ quyền, giữa các tổ chức quốc tế và phong trào chính trị - xã hội, giữa các
vùng, khu vực xoay quanh những vấn đề cấu thành và vận động của nền chính trị thế giới.
2. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Cơ sở hoạt động của
các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia
Đây là quy luật then chốt, mang tính tổng quát của quan hệ quốc tế.
- Các quốc gia khi tham gia vào đời sống chính trị quốc tế đều đặt lợi ích quốc gia
của mình lên trên hết và đều hướng tới việc bảo vệ, thỏa mãn, phát triển lợi ích quốc gia của mình.
- Các lợi ích khác: lợi ích cá nhân, tập thể, nhóm, các đảng phái,… đều được xem
xét dưới góc độ bảo vệ, phát triển lợi ích quốc gia và chỉ được thúc đẩy phát triển
khi nó hài hoà với lợi ích quốc gia.
- Lợi ích quốc gia là điểm cơ bản trong vạch định chiến lược phát triển, hoạch định
và thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia, là những mục tiêu,
nhu cầu mà 1 quốc gia theo đuổi thực hiện ở trong nước cũng như trong QHQT
- Xác định lợi ích quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có yếu tố chủ quan, khách
quan, trong nước, ngoài nước,…
- Lợi ích QG trong QHQT liên quan và được thể hiện trong tất cả lĩnh vực của đời
sống chính trị - xã hội, nhưng bất biến là củng cố, bảo vệ và phát triển an ninh, chủ
quyền quốc gia. Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và an ninh QG
bao gồm cả an ninh về chính trị, quân sự,…. Là những giá trị gắn với sự tồn tại và
phát triển của bất cứ QG nào
- Để thỏa mãn nhu cầu gìn giữ và phát triển lợi ích QG của mình, các nước trên TG
đều có 2 xu hướng lớn:
+ Xu hướng tăng cường tiềm lực quốc phòng: củng cố, hiện đại hoá quân đội, mua
sắm trang thiết bị,… Các QG nhỏ nghèo hợp tác quân sự, liên minh quân sự với
nhau và với các QG có tiềm lực lớn hơn, tạo thành thế cân bằng lực lượng tương đối.
+ Xu hướng phát triển kinh tế: lấy KT làm lĩnh vực trung tâm trong QHQT, là 1
yếu tố cấu thành sức mạnh, yếu tố của sự thịnh vượng, giàu mạnh và là lĩnh vực
hợp tác giữa các nước.
=> 2 xu hướng ưu tiên thực hiện nhằm bảo vệ, thỏa mãn và phát triển lợi ích QG trong QHQT.
VD: 1. Sự kiện VN tham gia ASEAN: Quá trình tham gia ASEAN mang lại cho
Việt Nam những lợi ích quan trọng và thiết thực, bao trùm là có được môi trường
hòa bình và ổn định thuận lợi cho an ninh và phát triển, nâng cao vị thế của đất
nước, hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước. Tham gia ASEAN cũng tạo điều kiện giúp Việt Nam đẩy mạnh hội nhập khu
vực và quốc tế sâu rộng hơn.
Gia nhập ASEAN giúp Việt Nam phá thế bị bao vây về kinh tế và cô lập về chính
trị khi đó; chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu ở khu vực, tạo dựng mối quan hệ
mới về chất giữa các nước Đông Nam Á theo chiều hướng hữu nghị, ổn định và lâu
dài, hợp tác toàn diện và chặt chẽ cả về đa phương và song phương.
Việt Nam có những điều kiện thuận lợi hơn để góp phần duy trì môi trường hòa
bình và ổn định khu vực; phối hợp lập trường và hợp tác với các nước trong việc
xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế phức tạp, hỗ trợ đáng kể trong việc bảo vệ chủ
quyền và lợi ích ở Biển Đông.
3. Các nội dung cơ bản của vấn đề mang tính quy luật: Mức độ cùng phụ
thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng
- Các tổ chức quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ liên tiếp ra đời và không
ngừng lớn mạnh => phụ thuộc hiện nay đang được đẩy mạnh
- Các QG ngày càng có nhiều lợi ích chung, bên cạnh lợi ích riêng, lợi ích đặc thù
của mỗi QG. Sự đan xen lợi ích giữa các QG thể hiện ngày càng rõ ràng, số lượng,
phạm vi những lợi ích chung ngày càng mở rộng.
- Vai trò của các thiết chế quốc tế được đẩy mạnh, mở rộng, nhiều tổ chức mới
được lập nên và quy tụ ngày càng nhiều thành viên. Sự hoạt động của các tổ chức
quốc tế này sẽ củng cố mối liên hệ, thúc đẩy mức độ quan hệ, mở rộng phạm vi,
lĩnh vực quan hệ giữa các quốc gia. Sự hiện diện và phát triển của các tổ chức quốc
tế làm tăng thêm sự cùng phụ thuộc giữa các quốc gia.
- TG đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi cần có sự phối hợp giữa các quốc
gia, tổ chức quốc tế để khắc phục và giải quyết: bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi
trường, bệnh tật hiểm nghèo, an ninh phi truyền thống,… => cần có sự hợp tác chặt
chẽ của các quốc gia và khu vực trên TG
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, quá trình toàn cầu hoá, tài chính,
thông tin…đang làm cho các quốc gia phụ thuộc vào nhau. Sự phát triển của mỗi
QG, đặc biệt là về kinh tế, đang phụ thuộc và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình,
diễn biến, các sự kiện trên thế giới, trước hết là từ tình hình của nền kinh tế toàn
cầu. Nền KT của mỗi QG đang trở thành 1 bộ phận của nền KT toàn cầu và những
biến động trong nền KT toàn cầu lập tức tác động, ảnh hưởng đến nền KT của các
QG = >Các giá trị chung về văn hoá, xã hội, chính trị đang phổ biến rộng rãi. =>
Đòi hỏi quá trình dân chủ hoá, nhân đạo hoá đời sống quốc tế phải được thúc đẩy,
làm cơ sở cho sự hợp tác bình đẳng, dân chủ giữa các QG.
VD: Nga mỏ dầu thô tg -> các nước phụ thuộc -> thiếu xăng
4. Khái niệm, phân loại, đặc trưng chủ thể quan hệ quốc tế
4.1. khái niệm chủ thể quan hệ quốc tế
+ chủ thể nói chung là người làm ra quan hệ và có khả năng làm thay đổi quan hệ.
Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể chính trị - xã hội và cá nhân có hoạt
động xuyên quốc gia, hoặc có các hoạt động có tác động, ảnh hưởng xuyên quốc
gia, làm nảy sinh và phát triển các mối quan hệ quốc tế.
4.2. Đặc trưng chủ thể QHQT
+ có mục đích khi tham gia QHQT, tức là có động cơ tham gia QHQT. Động cơ
được cụ thể hoá bằng các lợi ích trong QHT. Động cơ quyết định việc tham gia
quan hệ và sự theo đuổi của chủ thể trong QHQT. Không có mục đích, chủ thể sẽ
không tham gia QHQT và không còn là chủ thể QHQT.
+ Có tham gia vào QHQT, tức là tham gia vào quan hệ với nước ngoài và là 1 bên
trong quan hệ đó. Tham gia vào QHQT quy định tính “quan hệ quốc tế” của chủ
thể. Không tham gia vào quan hệ với nước ngoài, QHQT không hình thành và chủ
thể không trở thành chủ thể QHQT
+ có khả năng thực hiện QHQT, tức là phải có năng lực, sự độc lập hay sự tự trị
nhất định. Chủ thể không có năng lực thì không hình thành và thực hiện được
QHQT. Chủ thể không độc lập hoặc thiếu sự tự trị thì chỉ là công cụ của chủ thể
khác mà không phải là chủ thể QHQT thực sự.
+ Hành vi và quyết định có ảnh hưởng nhất định tới QHQT, tức là hành vi và quyết
định của nó phải có khả năng tác động đến chủ thể khác để hình thành hoặc làm
thay đổi quan hệ. đồng thời, việc có ảnh hưởng cũng khiến các chủ thể khác phải
tính đến nó trong chính sách đối ngoại của mình.
4.3. phân loại chủ thể quốc tế
Có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Phổ biến nhất là:
- Theo tiêu chí về khả năng thực hiện và gánh vác trách nhiệm, nghĩa vụ
quốc tế cũng như tác động và ảnh hưởng của các chủ thể vào sự phát triển của
quan hệ chính trị quốc tế, có thể phân biệt thành:
+ Quốc gia có chủ quyền: là chủ thể chính, đầy đủ nhất của quan hệ chính trị
quốc tế. Đó là những thực thể chính trị cao nhất có khả năng và trách nhiệm
trực tiếp thừa nhận nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong hệ thống pháp luật
quốc tế. Nó cũng được sự bảo vệ của cộng đồng quốc tế và pháp luật quốc tế.
Các quốc gia có chủ quyền hiện nay bao gồm các quốc gia xã hội chủ nghĩa,
các quốc gia tư bản chủ nghĩa và các nước đang phát triển.
+ Các tổ chức quốc tế và khu vực: một bộ phận không thể thiếu trong việc giao
lưu, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi quốc tế của các quốc gia.
+ Các tổ chức chính trị - xã hội: các đảng phái, các tổ chức nghề nghiệp, lứa
tuổi, tôn giáo, giới tính, sở thích,....
+ Các công ty xuyên quốc gia: các tập đoàn dầu lửa, tập đoàn viễn thông, máy
tính,.... có khả năng tác động lớn đến đời sống chính trị thế giới, có mức lợi
nhuận lớn hơn nhiều so với một quốc gia nhỏ.
+ Các cá nhân: các lãnh tụ của một quốc gia, các tổ chức quốc tế và các cá nhân
bình thường có ảnh hưởng đến đời sống chính trị thế giới.
5. Khái niệm Quốc gia
Quốc gia là là một phạm vi lãnh thổ có tính độc lập về phương diện đối ngoại,
trong đó hình thành các cơ cấu không thể tách rời là chính quyền, một cộng đồng
người có tính tập quán, thói quen, tín ngưỡng và các đoàn thể
Một thực thể được công nhận là một quốc gia khi đáp ứng được 4 tiêu chí: Có lãnh
thổ, dân cư thường xuyên, có nhà nước, có năng lực tham gia vào các quan hệ với
các thực thể, quốc gia khác.
Quốc gia phải hội đủ các dấu hiệu hình thức, bản chất và pháp lý quốc tế
Về hình thức, quốc gia phải có một lãnh thổ xác định, một tập hợp dân cư và một
nhà nước cai quản dân cư sống trên lãnh thổ đó. Một số dấu hiệu phụ khác như:
quốc kỳ, quốc ca và quốc huy,...
Về bản chất, dấu hiệu này được phản ánh trong chức năng đối nội và đối ngoại của
nhà nước. Về mặt đối nội, đó là quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình. Về
mặt đối ngoại, đó là sự độc lập tự chủ trong quan hệ với bên ngoài.
Về tư cách pháp lý, được thể hiện qua sự công nhận quốc gia của nước khác hoặc
là thành viên của Liên hợp quốc. Bao gồm công nhận minh thị (thể hiện rõ ràng, cụ
thể và minh bạch trong văn kiện chính thức của bên công nhận) và công nhận mặc
thị (sự công nhận trên thực tế nhưng không được thể hiện một cách rõ ràng, minh
bạch trong một văn kiện cụ thể.
6. Những nguyên nhân của xung đột quốc tế
Xung đột quốc tế là sự tương tác có tính cưỡng bức, được thể hiện rõ giữa các
cộng đồng có tính đối kháng với nhau.
4 đặc trưng cơ bản của xung đột quốc tế:
- Có 2 hoặc nhiều bên tham gia
- Họ bị lỗi cuốn vào các hoạt động đối kháng
- Họ có những hành động cưỡng bức nhằm làm tổn hại, gián đoạn, tiêu diệt hoặc
điều khiển theo cách khác đối thủ
- Sự tương tác (hay mối quan hệ đó) của họ được biểu hiện tương đối rõ ràng do
vậy những người ngoài dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của nó
Nguyên nhân của xung đột quốc tế:
6.1. Nguyên nhân bên ngoài: liên quan tới cấu trúc chính trị thế giới, bối cảnh
quốc tế và khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh trong quá trình quan hệ
giữa các quốc gia, các chủ thể của quan hệ quốc tế.
Một là, Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc hệ thống chính trị thế giới, bối cảnh quốc tế
và khu vực hiện nay, hình thành trật tự thế giới mới.
Hai là, Xuất phát từ sự mất cân bằng cấu trúc trong hệ thống thế giới, do sự xuất
hiện của các quốc gia “muốn thay đổi”
Ba là, Khi sụp đổ hoặc có sự biến đổi lớn trong tương quan lực lượng quốc tế, dẫn
đến các quốc gia này bị mất sự định vị rõ ràng của mình trong cấu trúc quan hệ
quốc tế, trong việc xác định hướng quan hệ, tập hợp lực lượng quốc tế và có xu
hướng kết thúc tình trạng đó.
VD: Sự tan rã của Liên Xô
6.2. Nguyên nhân bên trong: là nguyên nhân xuất hiện trong đời sống chính trị
của mỗi quốc gia, nảy sinh trong quá trình hoạt động giữa các chủ thể của
quan hệ quốc tế, trước hết là giữa các quốc gia, cộng đồng dân tộc và tôn giáo.
- Nguyên nhân lãnh thổ: biểu hiện qua các tranh cãi về biên giới, lãnh thổ; các cuộc
xâm chiếm lãnh thổ. Đây là nguyên nhân phổ biến và khó giải quyết nhất hiện nay
trên thế giới, bởi lãnh thổ, biên giới quốc gia liên quan đến không gian sinh tồn và
phát triển của đất nước và là yếu tố quan trọng nhất đối với mọi quốc gia. Đó cũng
là những vấn đề gắn với quá trình lịch sử lâu dài, phức tạp trong quan hệ giữa các
nước, cộng đồng dân tộc.
VD: Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông
- Nguyên nhân chính trị: biểu hiện qua các cuộc xung liên quan đến ở sự khác biệt
về hệ tư tưởng; qua sự hỗ trợ, can thiệp trực tiếp, gián tiếp vào công việc nội bộ
của các nước khác; phá hoại, xuyên tạc tình tình của các nước khác; ủng hộ, giúp
đỡ các nhóm đối lập; tiến hành lật đổ chính quyền, xây dựng chính quyền bù nhìn,... VD:
- Nguyên nhân tôn giáo: thể hiện qua sự xung đột giữa các cộng đồng tôn giáo; sự
va chạm giữa các giá trị tôn giáo; theo dõi vì tín ngưỡng; phân biệt, ngược đãi tín
ngưỡng. Ngoài ra, nhiều tổ chức vũ trang, khủng bố hiện nay đang có xu hướng
núp dưới vỏ bọc tôn giáo, lợi dụng các vấn đề tôn giáo để thực hiện các hoạt động
của mình. Các cuộc xung đột tôn giáo cũng rất phức tạp và khó giải quyết do liên
quan đến những chuẩn mực giá trị, đạo đức của các cộng đồng dân tộc, có lịch sử
lâu dài và thường liên quan đến nhiều quốc gia, ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
VD: Xung đột giữa các nhóm đạo hồi ở Iraq
- Nguyên nhân kinh tế: biểu hiện qua sự bao vây, cấm vận thương mại; phong tỏa
hàng hóa, thiết lập hàng rào thuế quan, bảo hộ hàng hóa; độc quyền sản xuất,
phương thức bán hàng…Các cuộc xung đột cũng thường xuyên xảy ra giữa các
trung tâm kinh tế, thương mại thế giới như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc,...
VD: Sự bao vây, cấm vận của Mỹ đối với Cuba
- Nguyên nhân tài nguyên, môi trường: biểu hiện qua việc tranh chấp tài nguyên
thiên nhiên, nhất là nguồn lợi hải sản, khai thác dầu lửa, khí đốt thềm lục địa; gây ô
nhiễm nguồn nước, xây dựng cầu cống , đập thủy lợi, thủy điện trên các dòng
sông; gây ô nhiễm không khí, nạn khói mù; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường
khắt khe nhằm vào các hàng hóa nhập khẩu,... VD:
Ngoài ra, xung đột quốc tế còn có các nguyên nhân và điều kiện phát triển ngay trong lòng mỗi quốc gia: Chất lượng chính phủ
Sắc tộc, dân tộc trong nội bộ quốc gia.
Sự khác nhau, khoảng cách về phát triển dựa các nhóm người, khu vực địa phương.
Sự thay đổi chính trị, kinh tế lớn, dẫn đến sự ra đời của các thế lực chính trị, kinh tế mới
Những khó khăn trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, những hạn chế các quyền
cơ bản của con người về tự do, dân chủ, tín ngưỡng,...
7. Khái niệm và các loại hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là: là việc phối hợp hoạt động giữa 2 hay nhiều chủ thể quan hệ
quốc tế nhằm thực hiện các lợi ích nhất định
Hợp tác thường diễn ra trên cơ sở tự nguyện của các bên và diễn ra trên nhiều lĩnh
vực, nhiều quy mô, nhiều mục tiêu và biện pháp khác nhau.
Các loại hợp tác quốc tế:
Hợp tác song phương: khi có 2 chủ thể tham gia
Hình thức hợp tác song phương quan trọng nhất là quan hệ giữa 2 quốc gia. Đây là
hình thức hợp tác phổ biến nhất trong quan hệ hợp tác quốc tế nói chung và có thể
được triển khai trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, quân
sự, văn hóa…) và giữa đối tác thuộc cơ cấu nhà nước của hai bên
Bên cạnh hình thức hợp tác song phương giữa hai quốc gia luôn phát triển hình
thức hợp tác giữa các chính đảng, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức nhân
dân giữa hai nước (bao gồm các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội,
hòa bình, từ thiện, nhân đạo, môi trường, các tổ chức phi chính phủ...). Các hình
thức hợp tác này có tác dụng tăng cường, thúc đẩy hợp tác nhà nước, nhiều khi
chúng vượt trước quan hệ nhà nước 
Hợp tác đa phương: khi có nhiều chủ thể tham gia
Hình thức hợp tác đa phương thường biểu hiện thông qua các tổ chức quốc tế, các
diễn đàn và hội nghị quốc tế.
Hợp tác đa phương có thể là giữa các quốc gia, các chính đảng hoặc các tổ chức
chính trị xã hội, có thể ở cấp độ khu vực, liên khu vực, châu lục và có thể ở lĩnh
vực kinh tế, quân sự, tôn giáo văn hóa...
Các hình thức hợp tác này được thể hiện qua sự hoạt động của các tổ chức đa
phương như nhóm các nước G7, G77, tổ chức các nước nói tiếng Pháp, Tiếng Anh,
Liên minh châu Âu, khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, tổ chức các nước xuất khẩu
dầu mỏ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Các tổ chức bảo vệ hòa bình, chống
mặt trái toàn cầu hóa, Bảo Vệ Môi Trường... 
Hợp tác toàn cầu: khi có tất cả hoặc hầu hết các chủ thể quan hệ quốc tế tham gia.
Cơ sở cho sự hợp tác quốc tế này là trùng hợp lợi ích giữa các quốc gia trong cộng
đồng thế giới trong việc giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà không một
quốc gia hay nhóm quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết nổi, cần có sự phối hợp
hợp tác của tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới đó là những vấn đề như bảo
vệ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân
số, chống bệnh tật hiểm nghèo, chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm quốc tế,
khai thác tài nguyên thiên nhiên...
Các quốc gia đang thực hiện hợp tác toàn cầu trong các tổ chức toàn cầu như Liên
Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới...
8. Những đặc trưng, vai trò của tổ chức quốc tế
Tổ chức quốc tế là: thực thể có cấu trúc tổ chức xác định gồm các thành viên là
các quốc gia hoặc thuộc nhiều quốc gia được thành lập và hoạt động trên cơ sở các
thỏa thuận giữa các thành viên đàm theo đuổi những mục tiêu chung
Đặc trưng của tổ chức quốc tế: Tổ chức quốc tế có những đặc trưng cơ bản sau:
- Tổ chức quốc tế được thành lập vì những mục đích chung nhất định mục đích này
được các thành viên thỏa thuận và thường được ghi nhận trong các điều ước thành
lập tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung các thành viên của tổ chức sẽ thỏa
thuận nguyên tắc hoạt động và thành lập cơ cấu tổ chức thích hợp để đạt được mục đích đó
- Tổ chức quốc tế được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các thành viên thỏa
thuận này được thể hiện bằng văn bản và được gọi bằng các tên khác nhau như
hiến chương (hiến chương Liên Hợp Quốc), quy chế (quy chế của tổ chức Y tế Thế
Giới) , Hiệp ước (Hiệp ước Marrakesh về thành lập chức Thương mại thế giới)
hoặc điều lệ của tổ chức… Các văn bản này quy định, mục đích, nhiệm vụ, nguyên
tắc, cơ cấu tổ chức và là cơ sở pháp lý cho các hoạt động của tổ chức.
- Thành viên của các tổ chức quốc tế có thể là các quốc gia độc lập có chủ quyền -
đó là các tổ chức quốc tế liên quốc gia nhưng cũng có thể là các tổ chức hoặc cá
nhân mang các quốc tịch khác nhau - đó là các tổ chức quốc tế phi chính phủ hoặc
là hình thức đan xen giữa hai hình thức trên.
-Tổ chức quốc tế liên quốc gia hoạt động trên hai nguyên tắc cơ bản:
+ Nguyên tắc bình đẳng tức là các thành viên bình đẳng với nhau và có quyền
ngang nhau trong việc nêu ý kiến thảo luận và đưa ra các quyết định cũng như thực
hiện các nghĩa vụ của mình.
+ Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên
đây là nguyên tắc thể hiện tính chất chủ quyền về lãnh thổ và khả năng của mỗi
quốc gia trong việc thực hiện công việc nội bộ của mình trừ các trường hợp đã
được ghi nhận trong quy chế điều lệ thành lập của tổ chức ví dụ quy chế cưỡng chế
được quy định trong hiến chương Liên Hợp Quốc.Trong trường hợp ngoại lệ việc
trao thêm quyền hoặc nghĩa vụ cho 1 thành viên ngoài những quyền và nghĩa vụ
thông thường phải được sự đồng ý của các thành viên khác ví dụ trao thêm quyền
đặc biệt cho các thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
- Các thành viên tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế đối với các thành viên là các
quốc gia đều này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan
hệ quốc tế xuất phát từ sự tự nguyện tham gia các thành viên có thể rút ra khỏi tổ
chức quốc tế theo điều lệ của tổ chức đó đồng thời các quyết định nghị quyết của
tổ chức quốc tế mang tính chất khuyến nghị. Ngoại trừ những vấn đề đã được ghi
trong điều lệ về hoạt động nội bộ mang tính bắt buộc đã được các thành viên thỏa thuận
Vai trò của tổ chức quốc tế: Các tổ chức quốc tế có vai trò rất lớn với đời sống
chính trị trong và ngoài quốc gia  Với các quốc gia:
+ Các quốc gia thông qua các tổ chức quốc tế để thực hiện chiến lược đối ngoại
của mình: các mục tiêu chính trị,, an ninh quốc phòng, kinh tế, xã hội…
+ Tổ chức quốc tế là diễn đàn để các quốc gia bày tỏ quan điểm tập hợp lực lượng,
tranh thủ dư luận, tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia khác và là nơi để đấu tranh
chống các quan điểm không có lợi cho mình đây là các quốc gia vừa đấu tranh vừa
hợp tác để bảo vệ phát triển lợi ích của mình.
+ Tổ chức quốc tế là công cụ để các quốc gia giải quyết các vấn đề cùng có mối
quan tâm chung nhằm thực hiện những lợi ích chung 
Với khu vực và quốc tế:
+ Các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu
Âu có vai trò nhất định trong giữ gìn giữ hòa bình, an ninh khu vực và toàn thể
giới giúp ngăn ngừa giải quyết các cuộc xung đột bằng phương pháp hòa bình, lập
lại hòa bình ở nhiều khu vực trên thế giới
+ Tổ chức Quốc Tế tạo ra sự đối thoại, hợp tác và phát triển, tập hợp lực lượng,
góp phần làm tăng tính cùng phụ thuộc giữa các quốc gia, làm cho lợi ích giữa các
quốc gia ngày càng đan xen lẫn nhau
Tuy nhiên việc đánh giá vai trò của các tổ chức quốc tế, tính tích cực hay tiêu cực
của một tổ chức quốc tế cần được nhìn nhận trong từng trường hợp cụ thể trong
giai đoạn lịch sử cụ thể và dưới góc độ bảo vệ quyền lợi lợi ích quốc gia cụ thể
Nhóm 2: (phân tích, giải thích)
1. Khái niệm lợi ích quốc gia
Lợi ích quốc gia là: Lợi ích quốc gia là những lợi ích chủ yếu của quốc gia có chủ
quyền trong quan hệ với bên ngoài.
Lợi ích quốc gia bao gồm những lợi ích chung chủ yếu của quốc gia. Nó thường
được phản ánh trong mục đích và mục tiêu của chính sách đối ngoại quốc gia.
Phân tích khái niệm
Lợi ích quốc gia là hiện thực hóa 3 nhóm mục tiêu:
An ninh: an ninh lương thực, con người, quốc gia, năng lượng,…
Phát triển: kinh tế, giáo dục, con người,… Ảnh hưởng
Đây là khái niệm thuộc phạm trù QHQT:
Thứ nhất, lợi ích quốc gia chỉ nảy sinh trong tương tác với các quốc gia khác, tức là trong điều kiện QHQT.
Thứ hai, lợi ích quốc gia nằm trong mọi công đoạn của QHQT, là sự cụ thể hóa
động cơ tham gia QHQT của quốc gia, là sự hướng dẫn hành vi của quốc gia trong
QHQT và là kết quả mong đợi của sự tương tác giữa các quốc gia.
Nội dung cơ bản trong lợi ích quốc gia của các nước là giống nhau khi đều hướng
tới lợi ích an ninh và phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, cụ thể, lợi ích của các
quốc gia khá khác nhau khi phụ thuộc nhiều vào tình hình trong nước, bối cảnh
quốc tế, địa vị trong QHQT năng lực thực hiện lợi ích, quan niệm về lợi ích của
giới lãnh đạo, cách thức và phương tiện thực hiện lợi ích,...=> tạo nên sự đa dạng
và tính phức tạp trong QHQT.
2. Khái niệm sức mạnh quốc gia, những yếu tố tự nhiên cấu thành nên sức mạnh quốc gia.
Sức mạnh quốc gia có thể hiểu theo 2 phương diện. Thứ nhất là khả năng vật chất
và tinh thân có thể được khai thác để thực hiện lợi ích quốc gia, khả năng hiện có
và tiềm năng. Thứ hai là khả năng của giới lãnh đạo phát huy hiệu quả các khả
năng đó trong hoạt động quốc tế , tạo ra hiệu quả cao nhất cho việc thực hiện mục tiêu quốc gia
Sức mạnh quốc gia là: khả năng tổng hợp của quốc gia vô hình và hữu hình, nhân
tố tự nhiên và nhân tố xã hội, nhân tố dân số và nhân tố lãnh đạo nhằm tác động và
ảnh hưởng ra bên ngoài nhằm thực hiện các lợi ích quốc gia. Đó là tổng hợp các
khả năng quân sự, kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, tư tưởng và việc vận dụng
các khả năng đó trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia bao hàm cả khả năng
hiện tại và khả năng tiềm tàng.
Sức mạnh tổng hợp quốc gia là toàn bộ thực lực bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của một quốc gia, bao gồm các nhân tố vật chất (phần cứng: như tài nguyên,
dân số, kinh tế, quân sự), các nhân tố tinh thần (phần mềm: như chất lượng chính
phủ, thể chế chính trị) và sức mạnh ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế (chính sách
đối ngoại, vị trí trong các tổ chức quốc tế, vị trí trong khu vực và toàn cầu).
Sức mạnh là thuộc tính của quốc gia và là tổng cộng các khả năng của quốc
gia, bất kể được xem xét một cách biệt lập hay trong tương quan với các quốc gia
khác. Trong quan hệ chính trị quốc tế, cần phân biệt quyền lực quốc gia và sức
mạnh quốc gia. Quyền lực quốc gia là khả năng chi phối, kiểm soát tư duy và hành
động của người khác, tuỳ thuộc vào việc xác định mục tiêu trong hoạt động đối
ngoại. Mỗi xã hội có quan điểm về quyền lực khác nhau. Còn sức mạnh quốc gia là
các khả năng, công cụ thực hiện lợi ích quốc gia.
Những yếu tố tự nhiên cấu thành nên sức mạnh quốc gia là: Nhân tố tự nhiên bao
gồm vị trí địa lý, diện tích, địa hình, điều kiện khí hậu,tài nguyên thiên nhiên của quốc gia.
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ đến lịch sử hình thành phát triển
của quốc gia. Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan vốn có được thiên nhiên tạo
lập con người khai thác sử dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có và bằng lao động của
mình cải tạo thế giới tự nhiên tùy theo từng giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau
tùy theo từng mục tiêu phát triển khác nhau mà điều kiện tự nhiên có thể tác động
tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của quốc gia.Trong quá trình phát triển của
mình các quốc gia thường khai thác triệt để những ưu thế về điều kiện địa lý và tài
nguyên thiên nhiên để phát triển đất nước và hạn chế những bất lợi do thiên nhiên chi phối
- Vị trí địa lý điều kiện địa hình của quốc gia liên quan mật thiết đến khả năng phát
triển kinh tế và phòng thủ của quốc gia trong lịch sử quan hệ quốc tế quốc gia nào
có điều kiện tự nhiên gây trở ngại cho việc di chuyển của lực lượng viễn chinh thì
những chi phí cho việc phòng thủ sẽ bớt đi nhiều tuy nhiên khi có lợi cho phòng
thủ thì thường lợi cho phát triển việc giao lưu kinh tế
- Tài nguyên thiên nhiên luôn là cơ sở cho phát triển kinh tế của một quốc gia tuy
nhiên không phải quốc gia nào cũng giàu tài nguyên cũng là quốc gia mạnh và
ngược lại tài nguyên thiên nhiên có đem lại sức mạnh hay không còn phụ thuộc
vào khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên và trình độ kỹ thuật cơ cấu nền kinh tế
- Sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên là những bất lợi về mặt chính trị đối với
những nước yếu thậm chí đối với những nước có tương quan kinh tế chính trị cân
bằng ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật tầm quan trọng của nhân tố
địa lý không còn mạnh mẽ được như trước nữa tuy nhiên địa lý vẫn là nhân tố quan
trọng trong mọi hoạt động chính sách đối ngoại. Nằm ở vị trí địa lý - chính trị quan
trọng có thể làm tăng sức mạnh quốc gia, tăng sự lựa chọn trong hoạt động đối ngoại của quốc gia
3. Khái niệm chủ quyền quốc gia. Phân tích một ví dụ minh họa về việc
xâm phạm và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên thực tiễn hiện nay
Chủ quyền QG Là quyền làm chủ 1 cách độc lập, trọn vẹn trên mọi phương diện
KT, chính trị, quân sự, ngoại giao và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư
pháp của 1 QG trong phạm vi lãnh thổ QG đó. khái niệm mang tính chính trị, pháp
lý để xác định vị thế của một quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Theo luật pháp quốc tế hiện đại, chủ quyền quốc gia bao gồm các khía cạnh:
Mọi nhà nước đều bình đẳng về mặt pháp luật;
Mỗi nhà nước đều được hưởng mọi quyền được định sẵn bởi chủ quyền đầy đủ của mình;
Mỗi nhà nước đều phải tôn trọng thực tế thực thể pháp lý của các nhà nước khác;
Tính toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của mỗi nhà nước là bất khả xâm phạm;
Mỗi nhà nước có quyền lựa chọn và phát triển các hệ thống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội của riêng mình;
Mỗi nhà nước phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình và chung sống
hòa bình với các nhà nước khác.
Ví dụ minh họa: Cuộc xung đột Nga - Ukraine. Ở đây Nga là nước có động thái tấn
công quân sự trước vào vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Ukraine. Như vậy Nga
đang xâm phạm chủ quyền Ukraine và Ukraine đã đáp trả bằng cách kêu gọi sự
ủng hộ của quốc tế lên án hành động của Nga đồng thời triển khai lực lượng phòng
thủ tại các khu vực trọng yếu gần biên giới với Nga, xin sự hỗ trợ từ các nước
phương tây trong lĩnh vực vũ khí, quân sự.
4. Những quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản của quốc gia trong quan hệ quốc tế
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia bao gồm: Quyền: (7)
+ Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi
+ Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể
+ Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập
+ Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ
+ Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế.
+ Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của Luật quốc tế
+ Quyền được trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế phổ cập Nghĩa vụ (8)
+ Tôn trọng chủ quyền các quốc gia
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
+ Hợp tác hữu nghị với các quốc gia khác nhằm duy trì hb và an ninh quốc tế.
+ Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong qhqt
+ Tôn trọng quy phạm Jus cogens và những cam kết quốc tế.
+ Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình.
Nhóm 3: (Phân tích, giải thích qua các minh chứng thực tế)
1. Khái niệm các vấn đề toàn cầu. Lấy ví dụ thực tiễn minh họa
Những vấn đề toàn cầu dùng để chỉ tổng thể những vấn đề cấp bách mà từ nguyên
nhân nảy sinh, phát triển đến phạm vi, quy mô tác động và việc khắc phục những
hậu quả của nó liên quan trực tiếp đến tất cả các dân tộc, QG, nhân loại: chiến
tranh – hoà bình, ô nhiễm môi trường, dân số, dịch bệnh,…
Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề có tính toàn thế giới và tính toàn nhân loại,
có hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn đối với loài người và là
những vấn đề chỉ có thể dựa vào nỗ lực chung của toàn nhân loại mới giải quyết được.
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng cần được
giải quyết. Vấn đề này mang tính toàn cầu vì biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến thời tiết
khắc nghiệt hơn, khủng hoảng với thực phẩm và tài nguyên, đồng thời làm tăng
khả năng lây lan của bệnh tật.
Liên Hợp Quốc đã ra báo cáo chi tiết về tác động của Trái Đất nóng lên. Khí hậu sẽ
khắc nghiệt hơn gấp 4 lần vào năm 2100 kể cả khi nhiệt độ bề mặt Trái Đất chỉ
tăng thêm 1,5 độ C. Nếu nhiệt độ Trái Đất tăng lên 2 độ C, số trận bão, lũ, hạn hán
và sóng nhiệt sẽ tăng gấp 5 lần. Hiện nay, ít nhất 3,3 tỷ người đang sống trong
vùng nguy hiểm do tác động của biến đổi khí hậu và có nguy cơ tử vong vì thời tiết
cực đoan cao hơn 15 lần. Ngày càng nhiều người tử vong trong các đợt sóng nhiệt,
dịch bệnh, thời tiết cực đoan, ô nhiễm không khí và nạn đói do tình trạng ấm lên
toàn cầu. Bên cạnh đó, IPCC cảnh báo các thành phố và khu tái định cư ven biển sẽ
đối mặt với thách thức lớn để bảo vệ tính mạng con người và tài sản trước các mối
đe dọa về triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng.