Họ tên: Hoàng Thị Thanh Huyền STT: 24. MSSV: 030138220151
BÀI TẬP VỀ HỆ THỐNG TIỀN TỆ BRETTON WOODS
Đề bài: phân tích tập trung vào chế vận hành của hệ thống để kiểm soát tỷ giá, từ đó tác
động như thế nào đến hệ thống tài chính toàn cầu.
1. Giới thiệu hệ thống Brettom Woods
Nhằm khôi phục lại nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, cải tổ hệ thống tiền
tệ tránh những sai lầm trước đây, tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan ra các mối
quan hệ tiền tệ quốc tế, hệ thống này được ra đời sau Hội nghị quốc tế họp tại Bretton Woods
(tại Mĩ) năm 1944. Tại hội nghị Bretton Woods (1946-1971), các quốc gia thành viên thống nhất
tế IMF Ngân hàng Thế giới World Bank. Với quan điểm chủ đạo ổn định tỷ giá, đảm bảo
khả năng thanh toán của đồng tiền dự trữ, thúc đẩy tự do kinh tế toàn cầu.
2. chế vận hành của hệ thống Brettom Woods
Hệ thống Bretton Woods, được thiết lập sau Thế chiến II, đóng vai trò quan trọng trong việc ổn
định kinh tế toàn cầu thông qua chế tỷ giá hối đoái cố định. Hệ thống này vận hành dựa trên
các nguyên tắc sau:
1. Tỷ giá hối đoái cố định: Mỗi quốc gia tham gia hệ thống Bretton Woods buộc phải gắn tỷ giá
hối đoái của đồng tiền mình với giá vàng. Đồng USD được sử dụng làm tiêu chuẩn để các đồng
tiền khác neo giá vào. Giá vàng được cố định mức 35 USD/ounce.
2. Vai trò của Mỹ
Mỹ đảm bảo khả năng chuyển đổi USD ra vàng tỷ lệ cố định. Để thực hiện điều này, Mỹ
phải lữu trữ đủ vàng để đáp ứng nhu cầu đổi USD lấy vàng của các quốc gia khác.
Mỹ đảm bảo nguồn cung USD theo nhu cầu thanh khoản dự trữ của các nước khác trên
thế giới. Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đóng vai trò trung tâm trong việc điều
chỉnh cung ứng tiền tệ can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá hối đoái. Họ
làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu đồng tiền của một nước
quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đó cần phải bán tiền của mình
để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một
nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của
đồng tiền đó lên.
3. Vai trò của các quốc gia khác:
Các quốc gia tham gia hệ thống Bretton Woods phải thiết lập một tỷ giá trung tâm giữa
bản tệ với USD phải duy trì tỷ giá thị trường dao động trong biên độ +/-1% so với tỷ
giá trung tâm bằng cách mua bán USD trên thị trường ngoại hối. Để làm được điều này,
các quốc gia thành viên phải duy trì một lượng dự trữ bằng USD. USD trở thành phương
tiện thanh toán dự trữ quốc tế chủ yếu.
Khi một quốc gia bị mất quân bình bản, họ thể phá giá hay nâng giá tiền tệ trong
khoảng 10%. Nếu mức điều chỉnh tỷ giá vượt quá tỷ lệ này phải được sự chấp thuận của
IMF.
Ngoài ra, với mục tiêu phát triển thương mại toàn cầu, BWS yêu cầu các thành viên phải
tự do chuyển đổi bản tệ với ngoại tệ trong các giao dịch vãng lai. Các quốc gia khác gắn
đồng tiền của mình với USD theo tỷ giá cố định trong ngắn hạn điều chỉnh trong dài
hạn. thể hiểu rằng hệ thống Bretton Woods qui định các quốc gia ấn định tỷ giá trung
tâm của đồng nội tệ với USD, đồng thời các quốc gia cũng phải đồng ý không hạn chế
việc đổi đồng nội tệ ra USD ngược lại tại mức tỷ giá đã ấn định.
4. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF):
IMF được thành lập cùng với hệ thống Bretton Woods để cung cấp hỗ trợ tài chính giúp
các quốc gia khắc phục trạng thái mất cân bằng đối ngoại tạm thời. Khi gặp các bất cân
đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán quốc tế, các quốc gia thể thay đổi tỷ giá
trung tâm nhưng đặt dưới sự quản của IMF, khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm biện
pháp cuối cùng giúp cân bằng cán cân thanh toán đây được coi một đặc điểm bản
của hệ thống này. IMF cho phép các quốc gia vay USD để can thiệp vào thị trường ngoại
hối đắp thâm hụt cán cân thanh toán.
Hoạt động:
Lập quỹ dự trữ quốc tế do IMF quản lí, do các nước thành viên đóng góp bằng vàng, ngoại tệ
mạnh nội tệ, tất cả được qui đổi thành đơn vị chung SDR (Quyền rút vốn đặc biệt). Các quốc
gia thành viên sẽ đóng góp vào quỹ của IMF với tỉ lệ ¼ bằng vàng ¾ bằng bản tệ để
hình thành nên quý tiễn tệ của IMF. Căn cứ vào tỷ trọng góp vốn của các quốc gia, IMF cung
cấp cho mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng. Khi một quốc gia thành viên gặp vấn đề thâm hụt
cán cân thanh toán họ sẽ được rút lần đầu 25% hạn mức tín dụng đó, sau đó, quốc gia nào chấp
nhận những chính sách kinh tế do IMF đưa ra sẽ được rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần 25% hạn
mức tín dụng. Giá trị của SDR được tính bằng số bình quân của giá trị 16 đồng tiền của những
nước lượng hàng hóa xuất khẩu vượt mức 1% kim ngạch thương mại quốc tế. Đến năm 1981,
giá trị SDR đã được đơn giản hóa, chỉ tính theo giá trị của 5 đồng tiền chủ chốt USD, Franc
Pháp, Bảng Anh, Mac Đức, Yên Nhật.
3. Vận hành thực tế
- Các nước: Cố định tỷ giá nội tệ theo USD, sử dụng USD như tài sản dự trữ quốc tế. Dự trữ
USD tại các nước tăng nhanh theo dòng tài trợ USD ạt để i thiết kinh tế thời kỳ hậu chiến
đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của các nước suốt 2 thập niên 50-60.
-Mỹ: nguồn cung ứng USD duy nhất cho cả thế giới, thâm hụt BOP liên tục cạn kiệt nguồn
dự trữ.
-IMF: Thụ động trong vai trò cứu trợ tài chính mất cân bằng BOP của các nước do lệ thuộc
Mỹ. Hệ thống BW vận hành tốt cho đến khi phát sinh trạng thái mất cân đối nghiêm trọng giữa
các nền kinh tế các cường quốc từ cuối thập niên 50. Từ 1970, các giới kinh doanh tiền tệ hoài
nghi khả năng tiếp tục duy trì hệ thống BW, cho rằng Mỹ tất yếu sẽ phải phá giá USD và/hoặc
đình chỉ khả năng chuyển đổi USD ra vàng. Các cuộc tấn công đầu tiền tệ liên tục nhắm vào
U.S. Dollar buộc Mỹ phải đình chỉ khả năng chuyển đổi Dollar ra Vàng (1971) phá giá USD.
Hệ quả:. thể thấy hệ quả bản của hệ thống này đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ
quốc tế quyền lực tập trung trong tay nước quốc gia duy nhất quyền phát hành đồng
USD. Đồng thời cũng thấy quốc gia duy nhất sử dụng hệ thống bản vị vàng trong khi c
nước khác theo chế độ bán vị hối đoái vàng dựa theo USB hay chế độ bán vị USD.
Phải mất gần 15 năm hệ thống Bretton Woods mới hoạt động hoàn chỉnh. Khi phát triển thành
bản vị đô la vàng, ba vấn đề lớn của bản vị trao đổi vàng giữa các cuộc chiến lại xuất hiện: vấn
đề điều chỉnh, niềm tin thanh khoản.
Vấn đề điều chỉnh trong Bretton Woods phản ánh tính cứng nhắc đi xuống của tiền lương giá
cả đã ngăn cản việc điều chỉnh giá thông thường của chế dòng tiền tiêu chuẩn vàng hoạt động.
Do đó, thâm hụt thanh toán sẽ gắn liền với tình trạng thất nghiệp gia tăng suy thoái kinh tế.
Đối với các nước thặng dư, áp lực lạm phát sẽ đảm bảo họ sẽ cố gắng ngăn chặn bằng cách
hiệu hóa kiểm soát vốn. Thứ hai sự điều chỉnh bất cân xứng giữa Mỹ phần còn lại của
thế giới. Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, Mỹ đóng vai trò quốc gia dự trữ trung tâm
không phải điều chỉnh thâm hụt cán cân thanh toán.
Thứ ba vấn đề niềm tin . Khi các khoản nợ chính thức bằng đô la được giữ nước ngoài gắn
liền với tình trạng thâm hụt liên tiếp, khả năng tăng lên số đô la này sẽ được chuyển đổi thành
vàng lượng vàng dự trữ tiền tệ của Mỹ cuối cùng sẽ đạt đến mức đủ thấp để gây ra một đợt
tháo chạy. Thực tế, đến năm 1959, dự trữ vàng tiền tệ của Mỹ đã bằng tổng nợ phải trả bằng
đồng đô la bên ngoài, trữ lượng vàng tiền tệ của phần còn lại của thế giới đã vượt quá trữ
lượng vàng của Mỹ.
Mối lo ngại thứ ba vai trò của đồng đô la trong việc cung cấp thanh khoản cho phần còn lại
của thế giới. Việc loại bỏ thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ (như người Pháp người Đức
rất nhiều mối lo ngại về cách cung cấp tính thanh khoản này.
Giải pháp của Triffin tạo ra một dạng thanh khoản toàn cầu giống như
bancor của Keynes (1943) để hoạt động như một vật thay thế cho đồng đô
la Mỹ trong dự trữ quốc tế.
4. Tác động của hệ thống Bretton Woods đến hệ thống tài chính toàn cầu
Hệ thống Bretton Woods, được thiết lập sau Thế chiến II, đã những c động to lớn lâu dài
đến hệ thống tài chính toàn cầu. Một số tác động chính bao gồm:
Tích cực:
bản vị vàng cứng nhắc trong khi tạo ra ít biến động hơn một hệ thống tiền tệ không tiêu chuẩn
nào. Đặc biệt, các quốc gia thành viên vẫn khả năng thay đổi giá trị tiền tệ của mình khi cần
thiết để điều chỉnh tình trạng mất cân bằng của tài khoản vãng lai. Hthống tiền tệ mới này đã
tác động tích cực đến sự ổn định của tỷ giá hối đoái, góp phần cải thiện nền kinh tế thế giới nói
chung thương mại quốc tế nói riêng. Hệ thống hối đoái này cho phép các nước thành viên tiết
kiệm được vàng họ thể dùng vàng hoặc ngoại hối làm phương tiện thanh toán quốc tế.
-Hệ thống này còn cho phép các nước thành viên hưởng thu nhập trong việc nắm giữ ngoại hối,
trong khi cất trữ vàng không đem lại thu nhập. Ngoài ra các nước còn giảm được chi phí giao
dịch do việc chuyển dịch vàng giữa các nước với nhau. Dự trữ tiền tquốc tế được cung ứng dồi
dào khi tỷ giá hối đoái ổn định tạo thuận lợi cho đầu mậu dịch quốc tế suốt những năm 50
60.
- Hình thành các tổ chức tài chính quốc tế: Hệ thống Bretton Woods dẫn đến sự ra đời của hai tổ
chức tài chính quốc tế quan trọng: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Ngân hàng Thế giới (WB) .
IMF được thành lập để cung cấp hỗ trợ tài chính cho các quốc gia gặp khó khăn trong việc duy
trì tỷ giá hối đoái thúc đẩy thương mại quốc tế.
Tiêu cực:
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định hạn chế khả năng của các quốc gia trong việc điều chỉnh chính
sách tiền tệ để đáp ứng các điều kiện kinh tế trong nước. Điều này dẫn đến sự bất ổn định kinh tế
trong một số trường hợp.
-Hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970 do một số yếu tố, bao gồm sự gia
tăng thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ, sự gia tăng đầu vào vàng sự phát triển của
thị trường tài chính toàn cầu. Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods dẫn đến sự biến động lớn
trong tỷ giá hối đoái sự gia tăng lạm phát trong những năm 1970.
Tuy nhiên, hệ thống Bretton Woods đã đặt nền móng cho hệ thống tài chính toàn cầu hiện đại.
Các nguyên tắc tổ chức được thành lập trong thời kỳ này vẫn đóng vai trò quan trọng trong
việc duy trì sự ổn định thịnh vượng kinh tế toàn cầu.

Preview text:

Họ và tên: Hoàng Thị Thanh Huyền STT: 24. MSSV: 030138220151
BÀI TẬP VỀ HỆ THỐNG TIỀN TỆ BRETTON WOODS
Đề bài: phân tích tập trung vào cơ chế vận hành của hệ thống để kiểm soát tỷ giá, từ đó tác
động như thế nào đến hệ thống tài chính toàn cầu.
1. Giới thiệu hệ thống Brettom Woods
Nhằm khôi phục lại nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, cải tổ hệ thống tiền
tệ tránh những sai lầm trước đây, tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan ra các mối
quan hệ tiền tệ quốc tế, hệ thống này được ra đời sau Hội nghị quốc tế họp tại Bretton – Woods
(tại Mĩ) năm 1944. Tại hội nghị Bretton Woods (1946-1971), các quốc gia thành viên thống nhất
thiết lập một hệ thống tiền tệ, Hội nghị BW cũng thiết lập hai định chế hỗ trợ: Quỹ Tiền tệ Quốc
tế IMF và Ngân hàng Thế giới World Bank. Với quan điểm chủ đạo là ổn định tỷ giá, đảm bảo
khả năng thanh toán của đồng tiền dự trữ, và thúc đẩy tự do kinh tế toàn cầu.
2. Cơ chế vận hành của hệ thống Brettom Woods
Hệ thống Bretton Woods, được thiết lập sau Thế chiến II, đóng vai trò quan trọng trong việc ổn
định kinh tế toàn cầu thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái cố định. Hệ thống này vận hành dựa trên các nguyên tắc sau:
1. Tỷ giá hối đoái cố định: Mỗi quốc gia tham gia hệ thống Bretton Woods buộc phải gắn tỷ giá
hối đoái của đồng tiền mình với giá vàng. Đồng USD được sử dụng làm tiêu chuẩn để các đồng
tiền khác neo giá vào. Giá vàng được cố định ở mức 35 USD/ounce. 2. Vai trò của Mỹ 
Mỹ đảm bảo khả năng chuyển đổi USD ra vàng ở tỷ lệ cố định. Để thực hiện điều này, Mỹ
phải lữu trữ đủ vàng để đáp ứng nhu cầu đổi USD lấy vàng của các quốc gia khác. 
Mỹ đảm bảo nguồn cung USD theo nhu cầu thanh khoản và dự trữ của các nước khác trên
thế giới. Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đóng vai trò trung tâm trong việc điều
chỉnh cung ứng tiền tệ và can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá hối đoái. Họ
làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu đồng tiền của một nước
quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đó cần phải bán tiền của mình
để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một
nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên.
3. Vai trò của các quốc gia khác: 
Các quốc gia tham gia hệ thống Bretton Woods phải thiết lập một tỷ giá trung tâm giữa
bản tệ với USD và phải duy trì tỷ giá thị trường dao động trong biên độ +/-1% so với tỷ
giá trung tâm bằng cách mua bán USD trên thị trường ngoại hối. Để làm được điều này,
các quốc gia thành viên phải duy trì một lượng dự trữ bằng USD. USD trở thành phương
tiện thanh toán và dự trữ quốc tế chủ yếu. 
Khi một quốc gia bị mất quân bình cơ bản, họ có thể phá giá hay nâng giá tiền tệ trong
khoảng 10%. Nếu mức điều chỉnh tỷ giá vượt quá tỷ lệ này phải được sự chấp thuận của IMF. 
Ngoài ra, với mục tiêu phát triển thương mại toàn cầu, BWS yêu cầu các thành viên phải
tự do chuyển đổi bản tệ với ngoại tệ trong các giao dịch vãng lai. Các quốc gia khác gắn
đồng tiền của mình với USD theo tỷ giá cố định trong ngắn hạn và có điều chỉnh trong dài
hạn. Có thể hiểu rằng hệ thống Bretton – Woods qui định các quốc gia ấn định tỷ giá trung
tâm của đồng nội tệ với USD, đồng thời các quốc gia cũng phải đồng ý không hạn chế
việc đổi đồng nội tệ ra USD và ngược lại tại mức tỷ giá đã ấn định.
4. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): 
IMF được thành lập cùng với hệ thống Bretton Woods để cung cấp hỗ trợ tài chính giúp
các quốc gia khắc phục trạng thái mất cân bằng đối ngoại tạm thời. Khi gặp các bất cân
đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán quốc tế, các quốc gia có thể thay đổi tỷ giá
trung tâm nhưng đặt dưới sự quản lí của IMF, khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là biện
pháp cuối cùng giúp cân bằng cán cân thanh toán và đây được coi là một đặc điểm cơ bản
của hệ thống này. IMF cho phép các quốc gia vay USD để can thiệp vào thị trường ngoại
hối và bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán. Hoạt động:
Lập quỹ dự trữ quốc tế do IMF quản lí, do các nước thành viên đóng góp bằng vàng, ngoại tệ
mạnh và nội tệ, tất cả được qui đổi thành đơn vị chung SDR (Quyền rút vốn đặc biệt). Các quốc
gia thành viên sẽ đóng góp vào quỹ của IMF với tỉ lệ là ¼ là bằng vàng và ¾ là bằng bản tệ để
hình thành nên quý tiễn tệ của IMF. Căn cứ vào tỷ trọng góp vốn của các quốc gia, IMF cung
cấp cho mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng. Khi một quốc gia thành viên gặp vấn đề thâm hụt
cán cân thanh toán họ sẽ được rút lần đầu là 25% hạn mức tín dụng đó, sau đó, quốc gia nào chấp
nhận những chính sách kinh tế do IMF đưa ra sẽ được rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần là 25% hạn
mức tín dụng. Giá trị của SDR được tính bằng số bình quân của giá trị 16 đồng tiền của những
nước có lượng hàng hóa xuất khẩu vượt mức 1% kim ngạch thương mại quốc tế. Đến năm 1981,
giá trị SDR đã được đơn giản hóa, chỉ tính theo giá trị của 5 đồng tiền chủ chốt là USD, Franc
Pháp, Bảng Anh, Mac Đức, Yên Nhật.
3. Vận hành thực tế
- Các nước: Cố định tỷ giá nội tệ theo USD, sử dụng USD như tài sản dự trữ quốc tế. Dự trữ
USD tại các nước tăng nhanh theo dòng tài trợ USD ồ ạt để tái thiết kinh tế thời kỳ hậu chiến và
đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của các nước suốt 2 thập niên 50-60.
-Mỹ: là nguồn cung ứng USD duy nhất cho cả thế giới, thâm hụt BOP liên tục và cạn kiệt nguồn dự trữ.
-IMF: Thụ động trong vai trò cứu trợ tài chính và mất cân bằng BOP của các nước do lệ thuộc
Mỹ. Hệ thống BW vận hành tốt cho đến khi phát sinh trạng thái mất cân đối nghiêm trọng giữa
các nền kinh tế các cường quốc từ cuối thập niên 50. Từ 1970, các giới kinh doanh tiền tệ hoài
nghi khả năng tiếp tục duy trì hệ thống BW, cho rằng Mỹ tất yếu sẽ phải phá giá USD và/hoặc
đình chỉ khả năng chuyển đổi USD ra vàng. Các cuộc tấn công đầu cơ tiền tệ liên tục nhắm vào
U.S. Dollar buộc Mỹ phải đình chỉ khả năng chuyển đổi Dollar ra Vàng (1971) và phá giá USD.
Hệ quả:. Có thể thấy hệ quả cơ bản của hệ thống này là đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ
quốc tế và quyền lực tập trung trong tay nước Mĩ – quốc gia duy nhất có quyền phát hành đồng
USD. Đồng thời cũng thấy Mĩ là quốc gia duy nhất sử dụng hệ thống bản vị vàng trong khi các
nước khác theo chế độ bán vị hối đoái vàng dựa theo USB hay chế độ bán vị USD.
Phải mất gần 15 năm hệ thống Bretton Woods mới hoạt động hoàn chỉnh. Khi nó phát triển thành
bản vị đô la vàng, ba vấn đề lớn của bản vị trao đổi vàng giữa các cuộc chiến lại xuất hiện: vấn
đề điều chỉnh, niềm tin và thanh khoản.
Vấn đề điều chỉnh trong Bretton Woods phản ánh tính cứng nhắc đi xuống của tiền lương và giá
cả đã ngăn cản việc điều chỉnh giá thông thường của cơ chế dòng tiền tiêu chuẩn vàng hoạt động.
Do đó, thâm hụt thanh toán sẽ gắn liền với tình trạng thất nghiệp gia tăng và suy thoái kinh tế.
Đối với các nước thặng dư, áp lực lạm phát sẽ đảm bảo và họ sẽ cố gắng ngăn chặn bằng cách vô
hiệu hóa và kiểm soát vốn. Thứ hai là sự điều chỉnh bất cân xứng giữa Mỹ và phần còn lại của
thế giới. Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, Mỹ đóng vai trò là quốc gia dự trữ trung tâm và
không phải điều chỉnh thâm hụt cán cân thanh toán.
Thứ ba là vấn đề niềm tin . Khi các khoản nợ chính thức bằng đô la được giữ ở nước ngoài gắn
liền với tình trạng thâm hụt liên tiếp, khả năng tăng lên là số đô la này sẽ được chuyển đổi thành
vàng và lượng vàng dự trữ tiền tệ của Mỹ cuối cùng sẽ đạt đến mức đủ thấp để gây ra một đợt
tháo chạy. Thực tế, đến năm 1959, dự trữ vàng tiền tệ của Mỹ đã bằng tổng nợ phải trả bằng
đồng đô la bên ngoài, và trữ lượng vàng tiền tệ của phần còn lại của thế giới đã vượt quá trữ lượng vàng của Mỹ.
Mối lo ngại thứ ba là vai trò của đồng đô la trong việc cung cấp thanh khoản cho phần còn lại
của thế giới. Việc loại bỏ thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ (như người Pháp và người Đức
đang thúc giục) có thể tạo ra tình trạng thiếu thanh khoản toàn cầu. Trong suốt những năm 1960,
có rất nhiều mối lo ngại về cách cung cấp tính thanh khoản này.
 Giải pháp của Triffin là tạo ra một dạng thanh khoản toàn cầu giống như
bancor của Keynes (1943) để hoạt động như một vật thay thế cho đồng đô
la Mỹ trong dự trữ quốc tế.
4. Tác động của hệ thống Bretton Woods đến hệ thống tài chính toàn cầu
Hệ thống Bretton Woods, được thiết lập sau Thế chiến II, đã có những tác động to lớn và lâu dài
đến hệ thống tài chính toàn cầu. Một số tác động chính bao gồm: Tích cực:
-Sự ra đời của hệ thống Bretton Woods mang lại cho các quốc gia sự linh hoạt hơn so với chế độ
bản vị vàng cứng nhắc trong khi tạo ra ít biến động hơn một hệ thống tiền tệ không có tiêu chuẩn
nào. Đặc biệt, các quốc gia thành viên vẫn có khả năng thay đổi giá trị tiền tệ của mình khi cần
thiết để điều chỉnh tình trạng mất cân bằng của tài khoản vãng lai. Hệ thống tiền tệ mới này đã có
tác động tích cực đến sự ổn định của tỷ giá hối đoái, góp phần cải thiện nền kinh tế thế giới nói
chung và thương mại quốc tế nói riêng. Hệ thống hối đoái này cho phép các nước thành viên tiết
kiệm được vàng vì họ có thể dùng vàng hoặc ngoại hối làm phương tiện thanh toán quốc tế.
-Hệ thống này còn cho phép các nước thành viên hưởng thu nhập trong việc nắm giữ ngoại hối,
trong khi cất trữ vàng không đem lại thu nhập. Ngoài ra các nước còn giảm được chi phí giao
dịch do việc chuyển dịch vàng giữa các nước với nhau. Dự trữ tiền tệ quốc tế được cung ứng dồi
dào khi tỷ giá hối đoái ổn định tạo thuận lợi cho đầu tư và mậu dịch quốc tế suốt những năm 50 và 60.
- Hình thành các tổ chức tài chính quốc tế: Hệ thống Bretton Woods dẫn đến sự ra đời của hai tổ
chức tài chính quốc tế quan trọng: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).
IMF được thành lập để cung cấp hỗ trợ tài chính cho các quốc gia gặp khó khăn trong việc duy
trì tỷ giá hối đoái và thúc đẩy thương mại quốc tế. Tiêu cực:
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định hạn chế khả năng của các quốc gia trong việc điều chỉnh chính
sách tiền tệ để đáp ứng các điều kiện kinh tế trong nước. Điều này dẫn đến sự bất ổn định kinh tế
trong một số trường hợp.
-Hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970 do một số yếu tố, bao gồm sự gia
tăng thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ, sự gia tăng đầu cơ vào vàng và sự phát triển của
thị trường tài chính toàn cầu. Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods dẫn đến sự biến động lớn
trong tỷ giá hối đoái và sự gia tăng lạm phát trong những năm 1970.
Tuy nhiên, hệ thống Bretton Woods đã đặt nền móng cho hệ thống tài chính toàn cầu hiện đại.
Các nguyên tắc và tổ chức được thành lập trong thời kỳ này vẫn đóng vai trò quan trọng trong
việc duy trì sự ổn định và thịnh vượng kinh tế toàn cầu.