















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG ----- ----- BÀI THẢO LUẬN
MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Đề tài:
Những thách thức đối với gia đình Việt Nam trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Vũ Thị Thu Hiền Nhóm thực hiện: Nhóm F
Lớp học phần: 231PLT09A02 Mục Lục
Lời mở đầu ..................................................................................................................... 3
I. Vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội ............................................. 3
Vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội ............................................ 3
Những thành tựu đã góp phần vào sự phát triển của xã hội ................................. 7
II. Những tách thức trong quá trình xây dựng gia đình Việt Nam .......................... 9
2.1. Thực trạng ............................................................................................................ 9
2.2. Nguyên nhân ...................................................................................................... 11
III. Một số giải pháp nhằm xây dựng gia đình Việt Nam thích ứng với biến đổi 12
xã hội của hiện tại ....................................................................................................... 12
Kết luận ........................................................................................................................ 15
Tài liệu tham khảo: ....................................................................................................... 16 Lời mở đầu
Gia đình là môi trường quen thuộc đối với tất cả mọi người khi bất cứ cá nhân nào
cũng đều trực tiếp tham gia vào quá trình tạo lập, xây dựng gia đình. Mỗi một gia đình
được coi là một tế bào của xã hội, bao gồm nhiều lĩnh vực phong phú nhưng cũng rất
phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động. Do đó, gia đình là vấn đề trọng yếu mà các dân
tộc trong mọi thời đại đều dành sự quan tâm sâu sắc đến. Đất nước ta đang trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà
thực chất là chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp
vụ và quản lý kinh tế xã hội. Và cùng với sự phát triển về các mặt khác của xã hội, các
vấn đề mới cũng đã nảy sinh, trong đó vấn đề gia đình với nhiều biến đổi phức tạp,
bên cạnh những biến đổi tích cực thì gia đình Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt
với nhiều vấn đề mang tính tiêu cực do chịu sự chi phối lớn từ nền kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội của đất nước.
Xuất phát từ bối cảnh trên đặt ra câu hỏi: Những thách thức của gia đình Việt Nam
trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội như thế nào?
Đề tài thảo luận với mục đích làm sáng tỏ những thách thức của gia đình trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu làm rõ, đầy đủ những lý luận chung về vấn đề gia
đình và những cơ sở lý luận xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ
nghĩa. Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích, nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân những
thách thức của gia đình và thực trạng một số vấn đề gia đình ở Việt Nam, từ đó đề
xuất giải pháp phù hợp cho quá trình xây dựng gia đình hiện nay. I.
Vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội
Vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và
củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
Đối với sự phát triển của xã hội trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào, sự vững vàng
bền bỉ của nền tảng gia đình cũng sẽ là yếu tố quyết định đến sự giàu mạnh, thịnh
vượng của đất nước. Cho nên, việc quan tâm coi trọng đến yếu tố gia đình chính là
hướng đi đúng đắn cho việc tạo dựng một xã hội phát triển ổn định và bền vững. Điều
này càng thấy rõ khi chúng ta nhìn nhận đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng của gia đình trong xã hội hiện nay.
- Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình với xã hội. - Gia đình là tổ
ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con người.
- Gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Gia đình là nơi nuôi dưỡng, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
=> Có thể thấy rằng, trong sự phát triển chung của xã hội hiện nay, gia đình luôn đóng
một vai trò quan trọng. Không thể có một xã hội giàu mạnh, văn minh nếu như không
dựa trên cơ sở xây dựng những gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, xây dựng
và phát triển gia đình với những giá trị tốt đẹp trong xã hội hiện đại là một trong những
yếu tố cốt lõi trong mục tiêu chung của xây dựng nền văn hóa mới XHCN. * Những
thành tựu trong xây dựng gia đình Việt nam hiện nay.
1. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình.
+ Theo Ngân hàng Thế giới, những thành tựu sau hơn 35 năm qua đã thúc đẩy phát
triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo trên thế
giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Từ năm 2002 đến năm 2018, GDP
đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát
nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá).
+ Trong bối cảnh đó, kinh tế hộ gia đình thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc
duy trì sự tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân hằng năm. Phong trào xây dựng đời
sống văn hóa mới ở cơ sở phát triển. Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa, khu phố
văn hóa, làng văn hóa, cụm dân cư văn hóa, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho hàng triệu
gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống.
2. Hệ thống pháp luật, chính sách về gia đình và liên quan đến gia đình ngày càng hoàn thiện.
+ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho các gia đình nghèo, đặc biệt khó
khăn, gia đình có công với cách mạng, gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã đạt
được những thành tích đáng kể, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội ngày
càng ổn định và phát triển.
+ Tạo ra những giá trị nhân văn mới, tiêu biểu là bình đẳng giới và quyền trẻ em.
Nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.
Những năm qua, việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 286
hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam đã khẳng định vai trò của gia đình đối với sự
phát triển xã hội và sự quan tâm của xã hội đối với gia đình trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Sự phát triển dân số là quá trình hạt nhân hóa gia đình
+ Trong xu thế phát triển hiện nay, cùng với những vận động và biến đổi của xã hội,
gia đình Việt Nam chịu những tác động không nhỏ mà ở đó gia đình hạt nhân là xu
hướng lựa chọn phổ biến không chỉ với giới trẻ. Gia đình hạt nhân tồn tại như một
đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã
hội.Mang tính tất yếu và không thể đảo ngược.
+ Tốc độ gia tăng về tỷ lệ hộ gia đình qua các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở các
năm 1989, 1999 và 2019 cho thấy, số hộ gia đình vào ngày 1/4/1989 là 12.927.297,
tăng 3,1% so với đợt tổng điều tra ngày 1/10/1979. Đến ngày 1/4/1999, số lượng hộ
gia đình cả nước là 16.661.666, tăng 2,5% so với ngày 1/4/1989. Tiếp đó, đến ngày
1/4/2009, Việt Nam có 22.444.322 hộ gia đình, tăng 3,0% so với ngày 1/4/1999. Và
đến ngày 1/4/2019, cả nước có 26.870.079 hộ gia đình, tăng 4,4 triệu hộ so với cùng
thời điểm năm 2009, tỷ lệ tăng là 1,8%(1). Như vậy, sau 30 năm, số lượng hộ gia đình
nước ta năm 2019 tăng gấp 2,07 lần so với năm 1989.
+ Việc thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội về gia đình cùng với nhận thức của
người dân được nâng cao đã tạo nên xu hướng gia đình hạt nhân có quy mô nhỏ. Quá
trình hạt nhân hóa gia đình, bên cạnh những ưu điểm của gia đình hai thế hệ (cha mẹ
con cái), cùng với sự hình thành và phát triển của loại hình gia đình mới (gia đình độc
thân, gia đình cha/mẹ đơn thân, sống chung không kết hôn), thì cũng có những khó khăn
nhất định trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, chuyển đổi nghề nghiệp và di cư hiện nay.
4. Độ tuổi kết hôn tăng dần trong ba thập niên qua.
+ Vào tháng 4 năm 2020, Tổng cục Thống kê Việt Nam đã cho ra mắt cuốn sách “Kết
quả chủ yếu Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Tại đây, những số
liệu về độ tuổi kết hôn trung bình đã được thống kê đầy đủ và chi tiết.
Trong Điều tra biến động dân số 2020, thông tin về tình trạng hôn nhân được thu thập
cho tất cả những người từ 15 tuổi trở lên.
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) thường được tính riêng cho từng giới. Trong
báo cáo này, số liệu SMAM được ước lượng gián tiếp thông qua tỷ trọng dân số từ 15
tuổi trở lên "chưa từng kết hôn" của các nhóm tuổi từ 15-19 đến nhóm tuổi 50-54. +
Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy tuổi kết hôn trung bình đã tăng lên theo từng năm.
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu có xu hướng tăng lên cho cả nam và nữ trong giai đoạn
1989-2020. Tuy nhiên, mức tăng của nam là cao hơn nữ và điều này đã kéo rộng thêm khác biệt giới.
Năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của nam giới là 26,2 và của nữ là
22,8, chênh lệch 3,4 năm. Năm 2019 cho thấy, tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 25,2
tuổi, tăng 0,7 tuổi so với năm 2009. Trong đó, tuổi kết hôn trung bình của nam giới cao
hơn nữ giới 4,1 tuổi (tương ứng là 27,2 tuổi và 23,1 tuổi). Năm 2020, chênh lệch tuổi
kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ là 4,5 năm. Sau 21 năm kể từ 1999, tuổi kết
hôn trung bình lần đầu của nam đã tăng thêm 2,5 năm trong khi của nữ chỉ tăng 0,6
năm. Điều này chứng tỏ nam giới ngày càng có xu hướng kết hôn muộn hơn so với nữ giới.
=> Như vậy, sau 10 năm, độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ đều tăng:
trong đó nam tăng 1,0 tuổi và nữ tăng 0,3 tuổi. Điều này cho thấy sự khác biệt giới trong
độ tuổi kết hôn và khác về mức độ gia tăng độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ.
5. Các chức năng cơ bản của gia đình có sự biến đổi.
+ Trong thời kỳ đổi mới, sự biến đổi cấu trúc và quy mô gia đình kéo theo sự biến đổi
về cách thức thực hiện các chức năng gia đình. Sự biến đổi chức năng gia đình trong
thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa có những điểm khác biệt so với giai đoạn trước đổi
mới. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế
cùng tồn tại là cơ sở để đa dạng cách thức thực hiện chức năng kinh tế của gia đình.
6. Cơ cấu loại hình gia đình có sự biến đổi.
+ Sự biến đổi thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình cũng ảnh hưởng đến sự biến
đổi quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Mối quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình, đặc biệt là mối quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ và con cái ngày càng dân
chủ hơn, vợ chồng tôn trọng nhau, cha mẹ lắng nghe con cái, giảm bớt tính gia trưởng, độc đoán.
7. Hình thành những chuẩn mực gia đình mới.
+ Biến đổi xã hội cũng có nghĩa là sự mất đi của một số giá trị, chuẩn mực không còn
thích hợp và hình thành nên những giá trị, chuẩn mực xã hội mới, cùng với quá trình
giao lưu và tiếp biến văn hóa, đã làm giàu thêm các giá trị, chuẩn mực của văn hóa Việt
Nam. Điều này tác động tích cực đến đời sống văn hóa gia đình, đời sống văn hóa tinh
thần đa dạng, phong phú, các thành viên trong gia đình có nhiều lựa chọn và thụ hưởng văn hóa.
8. Những thành tựu của khoa học và công nghệ nói chung và trong lĩnh vực y học
nói riêng tạo nên những tiến bộ trong công tác gia đình.
+ Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng về khoa học
và công nghệ trong y học, có một số thành công sánh ngang các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới. Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu có con của
những cặp vợ chồng hiếm muộn, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe các tầng lớp
dân cư, nâng cao tuổi thọ của người dân, giảm tỷ lệ tử vong của người mẹ và con, đem
lại niềm vui, hạnh phúc cho hàng triệu gia đình.
Những thành tựu đã góp phần vào sự phát triển của xã hội
- Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành
tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho mọi gia đình
+ Theo Ngân hàng Thế giới, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo trên
thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp (Từ năm 2002 đến năm 2018, GDP
đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo)
+ Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa, khu phố văn hóa, làng văn hóa, cụm dân cư văn hóa
=> Góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
- Hệ thống pháp luật, chính sách về gia đình và liên quan đến gia đình ngày càng hoànthiện.
+ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho các gia đình nghèo, đặc biệt
khó khăn, gia đình có công với cách mạng, gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
+ Bình đẳng giới và quyền trẻ em, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã
hội ngày càng được đề cao.
- Cùng với sự phát triển dân số là quá trình hạt nhân hóa gia đình
+ Đề cao lối sống cá nhân, nơi mỗi cá nhân được nuôi dưỡng, giáo dục phát triển
nhằm phát huy năng lực, sở trường của mình.
+ Gia đình hạt nhân (gia đình 2 thế hệ cha mẹ-con cái) dễ dịch chuyển và thích
nghi với môi trường sống nhanh.
- Độ tuổi kết hôn tăng dần trong ba thập niên qua
+ Năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của nam giới là 26,2 và của
nữ là 22,8, chênh lệch 3,4 năm.
+ Sau 10 năm, độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ đều tăng: trong
đó nam tăng 1,0 tuổi và nữ tăng 0,3 tuổi
=> Sự khác biệt giới trong độ tuổi kết hôn và khác về mức độ gia tăng độ tuổi kết hôn
trung bình lần đầu của nam và nữ.
- Cơ cấu loại hình gia đình có sự biến đổi
+ Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là mối quan hệ vợ chồng,
quan hệ cha mẹ và con cái ngày càng dân chủ hơn, vợ chồng tôn trọng nhau, cha mẹ
lắng nghe con cái, giảm bớt tính gia trưởng, độc đoán.
- Hình thành những chuẩn mực gia đình mới
+ Biến đổi xã hội cũng có nghĩa là sự mất đi của một số giá trị, chuẩn mực không
còn thích hợp và hình thành nên những giá trị, chuẩn mực xã hội mới
+ Cùng với quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, đã làm giàu thêm các giá trị,
chuẩn mực của văn hóa Việt Nam.
=> Tác động tích cực đến đời sống văn hóa gia đình, đời sống văn hóa tinh thần đa dạng,
phong phú, các thành viên trong gia đình có nhiều lựa chọn và thụ hưởng văn hóa.
- Những thành tựu của khoa học và công nghệ nói chung và trong lĩnh vực y học
nóiriêng tạo nên những tiến bộ trong công tác gia đình
+ Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu có con của những cặp vợ chồng hiếm muộn
+ Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe các tầng lớp dân cư
+ Nâng cao tuổi thọ của người dân
+ Giảm tỷ lệ tử vong của người mẹ và con, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho hàng triệu gia đình. II.
Những tách thức trong quá trình xây dựng gia đình Việt Nam 2.1. Thực trạng
- Gia đình là môi trường để nuôi dưỡng và hình thành nhân cách cá nhân, cũng là
nơiđể thể hiện tình yêu thương, sự hy sinh của các cá nhân với nhau cho sự phát triển
của mỗi người. Gia đình lành mạnh sẽ giúp cho xã hội phát triển tốt hơn. Thế nhưng
hiện nay, đứng trước sự phát triển của xã hội và sống trong thời đại mới các gia đình ở
Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức như :
- Sự chia sẻ vợ chồng ở nhiều gia đình, người vợ vẫn đảm nhiệm chủ yếu các công
việc nội trợ, bên cạnh hoạt động kiếm thu nhập mà gánh nặng các công việc gia đình ấy
chưa được người chồng đánh giá đúng mức. Điều đó khiến cho nhiều phụ nữ giảm sút
sức khoẻ, không có thời gian dành cho hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, từ đó hạn chế sự
phát triển của phụ nữ cũng như làm giảm chất lượng mối quan hệ vợ-chồng.
- Một vấn đề quan trọng thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng là quyền quyết định
trong gia đình do người chồng giữ vai trò quyết định vẫn là một thứ chuẩn mực ít thay
đổi. Bạo lực của người chồng đối với vợ cũng còn rất nghiêm trọng ở Việt Nam. Đáng
lưu ý là mức độ phổ biến của các hình thức bạo lực không hề giảm đi. Bạo lực gia đình,
đặc biệt là bạo lực của chồng đối với vợ đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc nghiêm trọng
về sức khoẻ thể chất và tinh thần cho phụ nữ và trẻ em, đồng thời đầu độc bầu không
khí gia đình, gây tổn thất kinh tế gia đình.
- Gắn với tình trạng bạo lực gia đình là vấn đề ly hôn. Số vụ ly hôn tăng lên nhanh
qua các năm, đặc biệt là tại các thành phố lớn. Tỷ lệ ở góa, ly hôn, ly thân là 2,7% đối
với nam và 13% đối với nữ. Các nguyên nhân dẫn đến ly hôn là mâu thuẫn về kinh tế,
mất tích, một bên ở nước ngoài, hoặc bị xử lý hình sự, hoặc có vợ lẽ, hoặc không có
con, hoặc bị lừa dối...
- Hậu quả lớn của các cuộc ly hôn chính là sự phát triển thiếu toàn diện của con cái
cũng như sự thiếu tôn trọng của con cái đối với cha mẹ sau này. Một bộ phận các bậc
cha mẹ dành rất ít thời gian cho con hoặc biết ít về các hoạt động của con. Sự thiếu quan
tâm của cha mẹ đối với con cái có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực cả về mối liên hệ
tình cảm cha mẹ - con cái hoặc tăng thêm nguy cơ đối với các hành vi lệch chuẩn trong
cuộc sống, có thể đem đến nhiều hệ luỵ cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Hàng triệu cuộc hôn nhân không đăng ký: Chưa đăng ký kết hôn có nghĩa là cuộchôn
nhân đó không có tính pháp lý. Hiện tượng sống chung đang là một hiện tượng xã hội
xuất hiện trong khu vực sinh viên, công nhân ở các khu công nghiệp tập trung, và ở các
đô thị. Nhóm hôn nhân nào mà sự chung sống của họ được họ hàng, cộng đồng thừa
nhận thì được gọi là hôn nhân thực tế. Nhóm hôn nhân nào chưa được họ hàng, cộng
đồng thừa nhận thì gọi là chung sống trước hôn nhân.
- Điều không rõ ràng này là một thực tế sẽ còn tồn tại khá dài và cũng chưa thể nóingay
rằng nó sẽ vận động như thế nào trong tương lai. Ðó là vấn đề thứ hai của gia đình Việt
Nam hiện đại. Nó liên quan đến vấn đề thứ ba là quan hệ tình dục trước hôn nhân. Vấn
đề này liên quan đến sức khỏe và lối sống vị thành niên.
- Hiện tượng chung sống trước hôn nhân xuất hiện nhiều ở giới trẻ sống xa gia
đình.Hiện tượng này đang gia tăng cho thấy gia đình đang mất dần chức năng kiểm soát
tình dục. Việt Nam là một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới. Hàng năm có chừng 1,4 triệu ca.
- Một điều tra cho biết: 22,2% thanh niên chưa lập gia đình đã có quan hệ tình
dục,21,5% nam thanh niên đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm; 30% ca nạo phá
thai là nữ chưa lập gia đình.
- Công cuộc công nghiệp hoá cùng với quá trình già hoá dân số mạnh mẽ đang diễn
ra ở Việt Nam đã phần nào làm cho việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình Việt
Nam gặp nhiều thách thức. Trước đây, người cao tuổi thường sống chung với con cháu
trong gia đình mở rộng để thuận tiện cho con cháu chăm sóc. Tuy nhiên, xu thế hạt nhân
hoá gia đình và di cư mạnh mẽ tìm kiếm việc làm gây ra những khó khăn cho việc chăm
sóc cha mẹ cao tuổi. Tỷ lệ con cái sống chung với cha mẹ sau khi kết hôn giảm đi làm
cho việc chăm sóc của con cái đối với cha mẹ sẽ ít thường xuyên hơn. Số con trong gia
đình ít đi sẽ làm giảm nguồn hỗ trợ cho cha mẹ khi tuổi già. Tình trạng ly hôn, ly thân
và nhiều người trong độ tuổi lao động di cư tìm kiếm việc làm khiến cho người cao tuổi
càng cô đơn và thiếu nơi nương tựa.
- Nhiều người cao tuổi sẽ phải sống một mình và tự chăm sóc cho bản thân, phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn về tài chính và bệnh tật, thậm chí còn là người chăm sóc
chính các cháu do bố mẹ chúng đi làm xa. Một bộ phận đáng kể người cao tuổi ở Việt
Nam không có sổ hưu cũng như các nguồn tích lũy khác. Những khó khăn này làm cho
các cụ bị đẩy vào tình trạng phụ thuộc vào gia đình và con cháu mà không có một sự
lựa chọn nào khác khi các dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi còn hạn chế như hiện nay.
- Một thách thức đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ đề cập trên là sự
hoà thuận và chia sẻ giữa anh chị em ruột đã trưởng thành. Nhiều người còn giữ quan
điểm "anh em kiến giả nhất phận", thiếu quan tâm đến những anh chị em của mình. Đặc
biệt, thừa kế tài sản từ bố mẹ vẫn là một trong những vấn đề nhạy cảm, dễ gây ra xung
đột trong quan hệ anh chị em ruột hiện nay.
- Gần đây, tệ nạn xã hội thâm nhập vào gia đình và tội phạm trẻ em có nguyên nhân
từgia đình đang tăng mạnh. Sự giảm sút vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ em,
truyền thống, kỷ cương nền nếp trong gia đình buông lỏng, đã làm cho chức năng kiểm
soát trẻ em mất hiệu lực. Tình trạng trẻ em hư, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội có
chiều hướng gia tăng ở nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn, đang là nỗi lo của mỗi gia
đình và toàn xã hội. Số trẻ em phải đưa vào trường giáo dưỡng hằng năm cũng gia tăng.
- Trong số trẻ em làm trái pháp luật, 30% ở trong gia đình có bố mẹ nghiện ma túy,
ham mê cờ bạc, 21% trong gia đình làm ăn phi pháp, 8% có anh chị em có tiền án, tiền
sự, 10,2% mồ côi cả cha lẫn mẹ, 32% mồ côi bố hoặc mẹ, 7,3% có bố mẹ ly hôn, 49%
bị gia đình chửi mắng đánh đập, 21% được nuông chiều quá, 71% không được gia đình
quản lý chăm sóc đúng mức (Nguyễn Quang Vinh).
- Một số nét về thực trạng gia đình Việt Nam được đề cập trên đây cho thấy gia đình
Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi cũng như khó khăn thách thức do sự biến
đổi của đơn vị gia đình đặt ra. Với tư cách là một tế bào, đơn vị cơ sở và thiết chế cơ
bản của xã hội, những vấn đề của gia đình cũng chính là mối quan tâm của toàn xã hội.
Nhận thức được điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh của Nhà
nước đối với sự biến đổi của gia đình, thông qua chiến lược phát triển gia đình, sao cho
gia đình Việt Nam vừa tiếp thu được những giá trị mới của nền văn minh công nghiệp
lại vừa giữ vững và phát huy được những di sản, giá trị tốt đẹp của gia đình truyền
thống, giữ vững sự ổn định, tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 2.2. Nguyên nhân
- Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cùng với sự
bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra các điều kiện, cơ hội
thuận lợi để các gia đình tiếp cận kiến thức, giá trị tốt đẹp của các dân tộc, các nền
văn hóa khác, kỹ năng tổ chức cuộc sống trong xã hội hiện đại, song cũng tiềm ẩn nhiều thách thức.
- Nguyên nhân của các thách thức đó là:
Xã hội ngày nay phát triển, mỗi người đều bị cuốn theo công việc của riêng
mình, thời gian dành cho gia đình cũng vì vậy mà ngày càng ít đi. Các thành
viên ít quan tâm lo lắng đến nhau và giao tiếp với nhau hơn, làm cho mối quan
hệ gia đình trở nên rời rạc, lỏng lẻo trong mối quan hệ ứng xử giữa các thành
viên gia đình, dẫn đến gia đình thiếu ổn định, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của xã hội.
Các gia đình ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình phát
triển như chất lượng sống của người dân chưa cao vẫn còn nhiều những hộ gia
đình khó khăn trong kinh tế
Có sự phân tầng sâu sắc giữa các nhóm xã hội, vùng, miền; chất lượng giáo
dục còn thấp so với yêu cầu, nạn dốt vẫn còn tồn tại ở một số vùng sâu vùng xa
Chất lượng dân số thấp và cơ cấu chưa hợp lý. Tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi
sinh cao, tốc độ già hoá dân số tăng nhanh, tỷ lệ dân số bị khuyết tật, dị tật bẩm sinh có xu hướng tăng.
Còn nhiều tệ nạn xã hội diễn ra như nghiện ma tuý, mại dâm, cờ bạc, mê tín dị
đoan,... gây ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nói chung cũng như gia đình nói riêng
Tư tưởng “Trọng nam khinh nữ”, nạn Tảo hôn vẫn còn tồn tại ở nhiều gia đình.
III. Một số giải pháp nhằm xây dựng gia đình Việt Nam thích ứng với biến đổi xã
hội của hiện tại
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra một trong những nhiệm vụ quan trọng về công
tác gia đình, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị
quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá
trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng
và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào
dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp
nhân dân, nhất là thanh niên”. “Thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam
ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng,
giáo dục thế hệ trẻ”.
Để cụ thể hóa những nhiệm vụ này, cần tập trung thực hiện các nội dung sau:
1. Nhận thức rõ tầm quan trọng của gia đình và nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân :
- Phổ cập cho người dân ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của gia đình
đối với sự hình thành nhân cách con người và sự ổn định phát triển của quốc gia, dân tộc.
- Nâng cao nhận thức tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân
dân trong việc gìn giữ, phát triển hệ giá trị tốt đẹp của gia đình.
2. Tăng cường, mở rộng, phát triển và nâng cao công tác truyền thông:
- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình; về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của từng thành viên.
- Đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức truyền thông về xây dựng gia đình, phòng
chống bạo lực gia đình, đề cao tinh thần bình đẳng giới. Nêu gương người tốt, việc
tốt; phê phán những biểu hiện không tốt. Chú trọng ngăn ngừa thông tin, văn hóa phẩm độc hại.
3. Khơi dậy tinh thần yêu nước, tính cộng đồng, ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát
vọng vươn lên đối với mỗi gia đình:
- Nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với
cộng đồng; trách nhiệm thực hiện nếp sống văn minh, quy chế dân chủ cơ sở.
- Tăng cường, bổ sung nguồn nhân lực làm công tác gia đình, trẻ em, đồng hành với các
gia đình trong giải quyết các vấn đề xã hội.
- Mở rộng giao lưu, hợp tác, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, gia tăng sức mạnh và
khả năng thích ứng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình trước những biến động của thời đại.
4. Tiếp tục kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình, của dòng họ;
tiếp thu các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội hiện đại:
- Mọi người trong gia đình không chỉ có trách nhiệm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau mà
còn phải xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp, sẻ chia với những người chung quanh.
Xây dựng tình làng nghĩa xóm đoàn kết, giúp đỡ, nhắc nhở, động viên nhau thực hiện
tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Tăng cường lồng ghép kiến thức xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, phòng,
chống bạo lực gia đình vào các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu
của từng ngành học, cấp học.
5. Tăng cường chương trình giáo dục kiến thức, kỹ năng về gia đình cho thanh niên
trước khi kết hôn; đồng thời trang bị kiến thức nền tảng về văn hóa gia đình cho trẻ
nhỏ trong các nhà trường nhằm hướng đến xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc,
phồn thịnh, là thiết chế quan trọng của các quá trình kinh tế – xã hội.
6. Xây dựng chính sách và dịch vụ xã hội bảo đảm sự tiếp cận công bằng, bình đẳng
giữa các hình thức gia đình hiện nay, như chung sống không kết hôn, gia đình đơn
thân, gia đình đồng tính, gia đình có hôn nhân với người nước ngoài, gia đình ly hôn/ly thân...
7. Phổ biến kết quả nghiên cứu về các giá trị gia đình mà người dân Việt Nam đang ủng
hộ tới các nhà lập pháp, hoạch định chính sách, quản lý nhà nước về gia đình để nắm
rõ thực tế các giá trị của gia đình hiện nay.
8. Chuyển mục tiêu từ “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào
lành mạnh của xã hội” sang “xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, phồn thịnh, là
thiết chế quan trọng của các quá trình kinh tế - xã hôi và nguồn nhân lực ổn định, ̣
chất lượng” để tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của gia đình trong sự phát triển của xã hội.
Căn cứ đặc điểm của gia đình Việt Nam, cũng như đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội
hiện nay, các giá trị gia đình nên quan tâm xây dựng trong giai đoạn hiện nay, là an
toàn, trách nhiệm, thịnh vượng và bình đẳng, để đạt được mục tiêu bao trùm mà Đảng
và Nhà nước đề ra, là xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Thứ nhất:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của xã hội về xây dựng và phát triển gia đình.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các cấp uỷ, chính quyền, các tổ chức đoàn
thể từ Trung ương đến cơ sở nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của gia đình.
Cấp uỷ chính quyền các cấp phải đưa nội dung mục tiêu của công tác xây dựng và
phát triển gia đình vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chương trình kế hoạch
công tác hằng năm của các bộ, ngành, địa phương. Thứ hai:
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, kinh tế hộ gia đình.
Xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế xã hội để góp phần củng cố, ổn
định và phát triển kinh tế gia đình.
Có chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình cho các gia đình thương binh
liệt sĩ bệnh binh gia đình các dân tộc ít người…
Tích cực khai thác tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình vay vốn ngắn hạn và
dài hạn nhằm xoá đói giảm nghèo chuyển dịch cơ cấu sản xuất mở rộng phát triển kinh tế. Thứ ba:
Kế thừa những giá trị của gia đình truyền thống đồng thời tiếp thu những tiến bộ của
nhân loại về gia đình trong xây dựng gia đình VN hiện nay.
Tìm ra những hạn chế và tiến tới khắc phục những hủ tục của gia đình cũ. Thứ tư:
Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hoá
Cần tránh xu hướng chạy theo thành tích, phản ánh không thực chất phong trào và
chất lượng gia đình văn hoá.
Các tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá phải phù hợp và có ý nghĩa thiết thực với đời sống của nhân dân. Kết luận
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan: sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước về gia đình..., gia đình Việt Nam đã vượt qua những khăn, thách
thức trước thời đại và thể hiện được vai trò của mình trong quá trình quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Ngược lại,những thách thức của gia đình cũng tạo ra động lực mới thúc
đẩy sự phát triển của xã hội.
Quy mô gia đình Việt Nam ngày nay tồn tại xu hướng thu nhỏ hơn so với trước kia, số
thành viên trong gia đình ít đi, đáp ứng nhu cầu và điều kiện mới của thời đại mới đặt
ra. tuy nhiên, trong quá trình đó cũng gây ra những phản chức năng. Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội chức năng của gia đình có sự biến đổi về các mặt: tái sản xuất
ra con người, kinh tế và tổ chức tiêu dùng, giáo dục (xã hội hoá) và thoả mãn nhu cầu
tâm sinh lý, duy trì tình cảm. bên cạnh đó, các mối quan hệ trong gia đình cũng có sự
biến đổi lớn. Từ những sự thay đổi ấy Đảng và nhà nước ta đã có những phương
hướng cơ bản để xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tài liệu tham khảo:
https://l.facebook.com/l.php?u=https%3A%2F%2Fnhandan.vn%2Fthach-
thucdoi-voi-gia-dinh-viet-nam-post584511.html%3Ffbclid
%3DIwAR3fekfc_eeMQrgqXNLwFQUVAkKkRbOPXWoip_LsHAJC8sX1Mg
q6nKr8Xks&h=AT0fBaY3e076mnKTUd06lDN7hN_R8hcyafIG5ZHaCpWjKx
0fv5wahCzMTpTrltym4A5p9LnQaXgg1p3iCY3jJKghHB9Q gLAUWuLND-
yMrG1-dqlf2eqat94VNou6_yX2yTq817UTm0R3LV_Ekl88g
https://kinhtedothi.vn/thach-thuc-doi-voi-gia-dinh-viet-trong-thoi-ky-moi.html