-
Thông tin
-
Quiz
Bài thi cuối kỳ - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng
Đề: Cách mạng công nghiệp là gì? Tại sao một quốc gia phải tiến hành công nghiệphóa? Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra cơ hội và thách thức gì cho Việt Nam?Phân tích nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Kinh tế chính trị (THM2) 261 tài liệu
Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Bài thi cuối kỳ - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng
Đề: Cách mạng công nghiệp là gì? Tại sao một quốc gia phải tiến hành công nghiệphóa? Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra cơ hội và thách thức gì cho Việt Nam?Phân tích nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Kinh tế chính trị (THM2) 261 tài liệu
Trường: Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:







Tài liệu khác của Đại học Tôn Đức Thắng
Preview text:
1
PHẦN DÀNH CHO CÁN BỘ CHẤM THI
Họ và tên cán bộ chấm thi:
Điểm đã chấm thành phần theo từng câu: Câu 1: … điểm Câu 2: … điểm …..
Tổng điểm toàn bài: … điểm (Điểm bằng chữ: ) …
Nhận xét chung nếu có: ……………………………………….……………….……
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN DÀNH CHO SINH VIÊN LÀM BÀI
(Sinh viên điền thông tin phía dưới và lưu ý không được đặt tên File bài làm có dấu, nhớ
thường xuyên lưu file và cuối giờ nộp bài trên hệ thống LMS.
Cú pháp đặt tên File: MSSV-HOVATEN, Ví dụ đặt tên file: 1556010001- NGUYENVANBINH)
Họ và tên sinh viên: Đoàn Thị Kim Chi
Mã số sinh viên: 2057060103
Môn thi: Kinh tế Chính trị Mác Lê-nin Mã đề thi nếu có: BÀI LÀM
(Sinh viên gõ, đánh máy trực tiếp phần trả lời bằng tiếng Việt có dấu, cỡ chữ 13 ở phía dưới)
Đề: Cách mạng công nghiệp là gì? Tại sao một quốc gia phải tiến hành công nghiệp
hóa? Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra cơ hội và thách thức gì cho Việt Nam?
Phân tích nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? Bài làm:
a. Cách mạng công nghiệp là gì ?
Theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị Mác - Lênin có thể hiểu: Cách mạng công
nghiệp được hiểu đó là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu
lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá
trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về trình độ phân công lao
động xã hội cũng như tạo bước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp
dụng một cách phổ biến những tính năng mới trong kỹ thuật - công nghệ đó vào đời sống xã hội.
Cách mạng công nghiệp theo nghĩa hẹp: là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất,
tạo ra sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật, xuất phát từ
nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới.
Cách mạng công nghiệp theo nghĩa rộng: là những cuộc cách mạng diễn ra ngày càng
sâu rộng trong lĩnh vực sản xuất, dẫn đến những thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - 2
xã hội, văn hoá và kỹ thuật của xã hội loài người với mức độ ngày càng cao. Như vậy,
theo nghĩa rộng thì “cách mạng công nghiệp” bao quát tất cả các cuộc cách mạng công
nghiệp diễn ra trên thế giới.
Về mặt lịch sử, cho đến nay, loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng công
nghiệp và đang bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) -
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất: Sử dụng năng lượng nước và hơi nước,
để cơ khí hoá sản xuất. Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ nhất là chuyển từ lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, thực
hiện cơ giới hóa sản xuất bằng việc sử dụng năng lượng nước và hơi nước. -
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai: Sử dụng năng lượng điện và động cơ
điện, để tạo ra dây truyền sản xuất hàng loạt. Nội dung của cách mạng công
nghiệp lần thứ hai được thể hiện ở việc sử dụng năng lượng điện và động cơ
điện, để tạo ra các dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hoá cao, chuyển
nền sản xuất cơ khí sang nền sản xuất điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động
hóa cục bộ trong sản xuất. -
Cách mạng công nghiệp lần thứ ba: Sử dụng công nghệ thông tin và máy tính,
để tự động hoá sản xuất. Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này là sử dụng
công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất. Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ ba đã chuyển từ công nghiệp điện tử - cơ khí, sang công nghệ số. Sản phẩm
được sản xuất hàng loạt với sự chuyên môn hóa cao, cùng với sự phát triển của
mạng Internet, máy tính điện tử, điện thoại di động -
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Liên kết giữa thế giới thực và ảo, để thực
hiện công việc thông minh và hiệu quả nhất. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
được hình thành trên cơ sở cuộc cách mạng số, gắn với sự phát triển và phổ
biến của Internet kết nối vạn vật với nhau. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
được phát triển ở ba lĩnh vực chính là vật lý, công nghệ số và sinh học. Biểu
hiện đặc trưng là sự xuất hiện các công nghệ mới có tính đột phá về chất so với
các công nghệ truyền thống.
b. Tại sao một quốc gia phải tiến hành công nghiệp hóa?
Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện có những nội dung cốt lõi về tư
liệu lao động. Sự phát triển của tư liệu lao động đã thúc đẩy sự phát triển của văn
minh nhân loại. Theo nghĩa đó, vai trò của cách mạng công nghiệp có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong thúc đẩy phát triển của một quốc gia. Vì vậy, vai trò của cách
mạng công nghiệp đối với phát triển của quốc gia là:
Một là, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất. -
Các cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sự
phát triển lực lượng sản xuất của các quốc gia. Từ chỗ máy móc ra đời thay thế
cho lao động chân tay cho đến sự ra đời của máy tính điện tử, chuyển nền sản
xuất sang giai đoạn tự động hóa, tác động tới quá trình điều chỉnh cấu trúc và
vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội, tài sản cố định thường
xuyên được đổi mới, quá trình tập trung hóa sản xuất được đẩy nhanh. 3 -
Cách mạng công nghiệp có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực, nó
vừa đặt ra những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao nhưng
mặt khác lại tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực. -
Cách mạng công nghiệp đã đưa sản xuất của con người vượt quá những giới
hạn về tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phụ thuộc của sản xuất vào các
nguồn năng lượng truyền thống. -
Cách mạng công nghiệp tạo cơ hội cho các nước đang và kém phát triển tiếp
cận với những thành tựu mới của khoa học công nghệ, tận dụng lợi thế của
những nước đi sau; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để bứt phá, rút
ngắn khoảng cách về trình độ phát triển với các nước đi trước. -
Cách mạng công nghiệp tạo cơ hội cho các nước phát triển nhiều ngành kinh tế
và những ngành mới thông qua mở rộng ứng dụng những thành tựu về công
nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển, công nghệ sinh học. Cách
mạng công nghiệp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành cơ cấu kinh
tế mới theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế và hiệu quả cao. -
Tạo điều kiện cho người dân được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với nhiều sản
phẩm và dịch vụ mới có chất lượng cao với chi phí thấp hơn.
Hai là, thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất -
Các cuộc cách mạng công nghiệp tất yếu dẫn đến quá trình điều chỉnh, phát
triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội. Trước hết là sự biến đổi về sở hữu
tư liệu sản xuất. Nền sản xuất lớn ra đời thay thế dần cho sản xuất nhỏ, khép
kín, phân tán. Công ty cổ phần ra đời và sự phát triển của loại hình công ty này
cho phép mở rộng chủ thể sở hữu tư bản ra các thành phần khác của xã hội.
Đồng thời, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản chuyển biến từ giai đoạn tự do cạnh tranh
sang giai đoạn độc quyền. -
Cách mạng công nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và trao đổi
thành tựu khoa học công nghệ giữa các nước. -
Cách mạng công nghiệp làm cho lĩnh vực tổ chức, quản lý kinh doanh cũng có
sự thay đổi to lớn. Việc quản lý quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trở
nên dễ dàng hơn, thông qua ứng dụng các công nghệ như internet, trí tuệ nhân
tạo, mô phỏng, robot… từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng nguồn
nguyên liệu và năng lượng mới hiệu quả giúp nâng cao năng suất lao động và
định hướng lại tiêu dùng. -
Trong lĩnh vực phân phối, cách mạng công nghiệp mà nhất là cách mạng công
nghiệp 4.0 đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, làm giảm chi phí sản xuất,
nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân. -
Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm tổ
chức, quản lý kinh tế - xã hội giữa các nước. Thông qua đó, các nước lạc hậu
có thể rút ra những bài học kinh nghiệm của các nước đi trước để hạn chế
những sai lầm, thất bại trong quá trình phát triển.
Ba là, thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển 4 -
Tạo điều kiện để chuyển biến các nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri
thức. Hàm lượng tri thức tăng lên trong sản phẩm và dịch vụ, khoảng cách thời
gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào thực tiễn ngày càng được rút ngắn. -
Phương thức quản trị, điều hành của chính phủ cũng có sự thay đổi nhanh
chóng để thích ứng với sự phát triển của công nghệ mới, hình thành hệ thống
tin học hóa trong quản lý và “chính phủ điện tử”. Việc quản trị và điều hành
của nhà nước phải được thực hiện thông qua hạ tầng số và internet. Kỷ nguyên
số với các công nghệ mới, nền tảng điều hành mới liên tục thay đổi cho phép
người dân được tham gia rộng rãi hơn vào việc hoạch định chính sách. -
Làm thay đổi thể chế quản lý kinh doanh trong các doanh nghiệp với việc sử
dụng công nghệ cao để cải tiến quản lý sản xuất, thay đổi hình thức tổ chức
doanh nghiệp. Sự thay đổi của công nghệ sản xuất dựa trên ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất làm cho các doanh nghiệp phải thay đổi cách thức thiết
kế, tiếp thị và cung ứng hàng hóa dịch vụ theo cách mới, bắt nhịp với không gian số.
c. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra cơ hội và thách thức gì cho Việt Nam?
Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tất cả các nước đều chịu sự
tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là thách thức, đồng thời
cũng là cơ hội đối với tất cả các nước, đặc biệt là các nước còn kém phát triển. - Thuận lợi:
+ Nước ta có cơ hội tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ
thông tin hiện đại. Điều này góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
+ Nhờ sự hiện đại hóa và tự động hóa của máy móc, năng suất lao động được nâng cao.
+ Tạo cơ hội để Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư khi
chuyển giao công nghệ và xây dựng các công xưởng sản xuất mới.
+ Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai
cấp công nhân ngày càng được cải thiện.
+ Công nhân trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà
nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp xúc với máy móc, thiết bị tiên
tiến, làm việc với các chuyên gia nước ngoài nên được nâng cao tay nghề, kỹ
năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp, phương pháp làm việc tiên tiến.
+ Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu,
có trình độ học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại,
sẽ là lực lượng lao động chủ đạo, có tác động tích cực đến sản xuất công
nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong tương lai… - Khó khăn: 5
+ Đào tạo lại nguồn lao động có khả năng thích ứng với những đổi mới của xã hội.
+ Máy móc và công nghệ thay thế hầu hết các các phân đoạn sản xuất bằng tự
động hóa. Điều này dẫn đến nguy cơ gia tăng số lượng người thất nghiệp ở Việt Nam. + Năng lực trình đô x công nghê x
của nền kinh tế còn thấp.
+ Lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo vê x
môi trường chưa có nhiều đột phá, hiệu quả chưa cao.
+ Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị. Chưa thực
sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững.
+ Môi trường văn hóa xã hội tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tê x nạn xã hội, tham
nhũng, tiêu cực. Chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng còn lớn.
+ Sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hộ
d. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Phát triển lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở những thành tựu khoa học, công
nghệ mới, hiện đại -
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình chuyển từ lao động thủ
công, kỹ thuật lạc hậu lên lao động sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện
đại, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ngày càng hiện đại cho nền sản xuất, thông
qua thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá. -
Đối với những nước còn kém phát triển, nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện cơ
khí hoá để nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, khi điều kiện và khả năng
có thể ứng dụng ngay những thành tựu khoa học, công nghệ mới hiện đại để
rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. -
Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất (sản xuất
máy cái), vì đây là ngành có vị trí quan trọng quyết định cho sự phát triển của
các ngành khác, tăng tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. -
Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi phải ứng dụng
những thành tựu khoa học công nghệ mới hiện đại vào tất cả các ngành, các
vùng, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, cần phải có sự lựa chọn cho phù
hợp với khả năng, trình độ và điều kiện thực. -
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đòi hỏi phải phát triển các
ngành công nghiệp bao gồm: công nghiệp nhẹ, công nghiệp hàng tiêu dùng,
công nghiệp thực phẩm…, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới vào
sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. -
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay phải gắn liền với phát triển
kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ
cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế,
tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong nền kinh tế tri thức,
những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa 6
vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới của khoa học, công nghệ. Qua thực
tế phát triển, có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu của kinh tế tri thức như sau:
+ Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là
vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế
có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng; trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri
thức ngày càng tăng và chiếm đa số.
+ Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong
mọi lĩnh vực và thiết lập được các mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước,
nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan
trọng nhất của nền kinh tế. 106 - Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực nhanh
chóng được tri thức hoá; sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường
xuyên đối với mọi người và phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
+ Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn
cầu hoá kinh tế, có tác động tích cực hoặc tiêu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời
sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Những đặc điểm trên đòi hỏi
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, nhất thiết phải tranh thủ
ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu
công nghệ hiện đại và tri thức mới; công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn với kinh tế tri thức.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả.
Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng và các thành phần
kinh tế. Cơ cấu kinh tế cũng chính là tổng thể cơ cấu các ngành, cơ cấu các vùng và cơ
cấu các thành phần kinh tế. -
Trong hệ thống các cơ cấu kinh tế, thì cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp -
nông nghiệp - dịch vụ) giữ vị trí quan trọng nhất. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải gắn liền với sự phát triển
của phân công lao động trong và ngoài nước, từng bước hình thành các ngành,
các vùng chuyên môn hoá sản xuất, để khai thác thế mạnh, nâng cao năng xuất
lao động, đồng thời phát huy nguồn lực của các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế. -
Cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Thứ nhất, khai thác, phân bổ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước,
thu hút có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội. Thứ
hai, cho phép ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiện đại
vào các ngành, các vùng và các lĩnh vực của nền kinh tế. Thứ ba, phù hợp xu
thế phát triển chung của nền kinh tế và yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. -
Chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng và thành phần kinh tế theo hướng hiện đại,
hợp lý và hiệu quả cần gắn liền với phát triển các lĩnh vực khác như công nghệ 7
thông tin, năng lượng, viễn thông, giao thông vận tải… Đồng thời, phải được
đặt trong chiến lược phát triển tổng thể của nền kinh tế, có tính đến các mối
quan hệ trong và ngoài nước; quan hệ giữa trung ương với địa phương; quan hệ
giữa phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, quốc phòng; quan hệ giữa tích luỹ với tiêu dùng.
Tăng cường và củng cố quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất -
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là nhằm xây dựng
CNXH, vì vậy phải củng cố và tăng cường địa vị chủ đạo của quan hệ sản xuất
XHCN mà nền tảng là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, tiến
tới xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất XHCN trong toàn bộ nền kinh tế. -
Phát triển lực lượng sản xuất phải đảm bảo sự phù hợp với quan hệ sản xuất
trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất là: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan
hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối, trao đổi. -
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải coi thực hiện chế độ phân phối theo lao
động và phân phối qua các quỹ phúc lợi xã hội là chủ yếu.