






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2024– 2025 (Phần dành cho sinh viên/ học viên) Bài thi
học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtSố báo danh: 70 Nam Mã số SV/HV: 22D280044 Mã số đề thi: 21 Lớp: 242_HCMI0131_16
Ngày thi: 12/06/2025 Tổng số trang: 6 Họ và tên: Nguyễn Ánh Ngọc Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không
Câu 1 (5 điểm): Phân tích đặc điểm của cách mạng Việt Nam được được viết nêu vào cột này)
ra trong Đại hội IV (1976) của Đảng. Theo Anh (Chị) đặc điểm nào lớn nhất? Tại sao? Điểm từng câu, diểm thưởng
1. Đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới được nêu ra
(nếu có) và điểm trong đại hội IV (1976) của Đảng toàn bài
Sau thắng lợi vang dội của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
1975, đất nước ta được hoàn toàn thống nhất và bước vào thời kỳ mới, GVchấm cả 1:
nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều Câu1:……… điểm
thuận lợi lẫn thách thức, Đại hội IV của Đảng (12/1976) được triệu tập nhằm Câu2:……… điểm
tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, khẳng định thắng lợi lịch sử ………………….
của dân tộc mang tầm vóc quốc tế và thời đại sâu sắc đồng thời xác định rõ
nhiệm vụ chiến lược cho giai đoạn mới. Đại hội cũng chỉ ra ba đặc điểm lớn ………………….
có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ nà: Cộng …… điểm
“Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn ph
biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn GVchấm phát 2:
triển tư bản chủ nghĩa”. Tính chất sản xuất nhỏ thể hiện rõ nét ở cơ sở vật Câu1:……… điểm
chất – kỹ thuật lạc hậu, lao động chủ yếu thủ công, năng suất thấp, phân côn Câu2:……… điểm
lao động chưa phát triển, công nghiệp nặng còn yếu và phân tán và chưa đủ ………………….
sức cải tạo các ngành kinh tế. Hàng tiêu dùng phần lớn do tiểu thủ công
nghiệp làm ra. Sau 2 thập kỉ xây dựng CNXH ở miền Bắc, tuy đã xóa bỏ gia ………………….
cấp bóc lột, xác lập quan hệ sản xuất mới và nâng cao đời sống nhân dân, Cộng …… điểm
nhưng sản xuất nhỏ vẫn là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền
Nam sau giải phóng, về cơ bản cũng vẫn là nền kinh tế sản xuất nhỏ.
“Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với
nhiều thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 1/6
chủ nghĩa thực dân mới gây ra”. Sau 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ hòa bình, độc lập, thốn
nhất và quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cả nước, với thuận lợi lớn là tinh thần cách mạng d
cao và uy tín quốc tế được củng cố. Tuy nhiên, đất nước cũng phải đối mặt với nhiều khó khă
như hậu quả chiến tranh nặng nề, nền kinh tế lạc hậu, trình độ phát triển không đồng đều giữ
hai miền cùng với sự bao vây cấm vận và chống phá quyết liệt từ các thế lực thù địch. Trong bố
cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước để đảm
bảo sự lãnh đạo tập trung và triển khai hiệu quả con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
“Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận l
song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế
giới còn gay go, quyết liệt”. Từ sau 1975, cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế
thuận lợi khi phong trào đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc phát triển mạnh, được thúc
đẩy bởi thắng lợi của ta và sự ủng hộ từ các nước XHCN. Liên Xô cùng các nước XHCN đạ
nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học và quốc phòng, góp phần củng cố vị thế của hệ thống
XHCN. Tuy nhiên, từ thập niên 1970, các nước này bắt đầu xuất hiện dấu hiệu trì trệ do duy
cơ chế bao cấp, khép kín và chậm đổi mới, trong khi chủ nghĩa tư bản lại linh hoạt điều chỉnh
đẩy mạnh cách mạng khoa học – công nghệ và cải cách kinh tế, tạo thế cạnh tranh lớn trên t cầu.
Ba đặc điểm đó đã chỉ ra, Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ ngh
hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải phá
huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng. Từ 3 đặc điểm đó, Đ
ta đã xác định và phân tích những điều kiện thuận lợi lẫn khó khăn để xây dựng thành công C
nghĩa xã hội. Và từ đó có thể khẳng định đó chính là chiến lược cách mạng Việt Nam bỏ qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là đặc điểm lớn nhất của Việt Nam để đi lên xây dựng nghĩa xã hội.
2. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam
Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm lớn nhất là đặc điểm đầu tiên: “Nước ta đang ở trong quá
trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã h
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” vì nó phản ánh thực chất của quá trình cách m
XHCN ở nước ta và quy định nội dung, hình thức, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa
nước ta. Điều này đã được khẳng định trong cương lĩnh đầu tiên của chủ tịch Hồ Chí Minh, đế
sau này các văn kiện của Đảng đều khẳng định nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua gia
đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa.
Đất nước ta đi lên từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tran
trong khi thế giới đang phát triển mạnh mẽ nhờ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Trướ
thực tiễn đó, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa được
định là tất yếu và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Việc bỏ qua chế độ Tư
bản chủ nghĩa, về cơ bản, chính là: “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất v
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loạ
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”
Quá trình tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một đặc điểm
lớn của Đại hội IV, bởi nó cho thấy Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng Mác-Lênin trong
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 2/6
việc xác định phương hướng phát triển của đất nước, giúp chúng ta rút ngắn quá trình và có thể
đuổi kịp các nước khác. Đó chính là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Hơn nữa, việc bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội còn phù hợ
với ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đất nước được thống nhất, nhưng đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, mỗi người dân ai cũ
đều mong muốn có thể cải thiện điều đó. Chính vì vậy, việc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
nền kinh tế nước ta nhanh chóng được khôi phục và cải thiện, mở rộng quan hệ hợp tác với các
nước khác giúp chúng ta có nhiều cơ hội hơn để khắc phục kinh tế. Từ đó, cuộc sống của nhân
dân bớt đi lầm than, đầy đủ và ấm no.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng chính đáng của nhân dân, là sự lựa chọn đúng
đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển củ
lịch sử. Đây là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và lâu dài, đòi hỏi phải vượt qua
đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới trên tất cả các lĩnh vực. Quá trình này diễn ra với
nhiều bước chuyển tiếp, nhiều hình thức tổ chức kinh tế – xã hội đan xen. Việc bỏ qua giai đ
phát triển tư bản chủ nghĩa để quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp v
điều kiện thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước.
Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài ng
đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kin
tri thức. Do đó, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật khách quan
Bối cảnh, điều kiện quốc tế mới nêu trên đã tạo khả năng để Việt Nam chúng ta thực hiện qu
độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa. Nước ta đã giành được độc lập dân
tộc, có chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt N lãnh đạo.
Có thể khẳng định, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là
đặc điểm lớn nhất được xác định tại Đại hội IV và cũng là nét nổi bật của cách mạng Việt N
Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng, khẳng định sự lựa
chọn đúng đắn, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển vững mạnh.
Câu 2 (5 điểm): Anh (Chị) hãy làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc khác với các chí sĩ yêu nước trước đó như thế nào?
1. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
* Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam – con đường Cách mạng Vô sản.
Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong thời kỳ đất nước bị thực dân xâm lược, nhân dân lầm than, các
cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại, để lại nỗi đau và mất mát lớn. Các phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản trước khi có Đảng không thể giành thắng lợ
khiến cách mạng rơi vào khủng hoảng về đường lối và phương hướng. Trước thực trạng đó,
việc tìm kiếm một con đường cứu nước mới trở nên cấp thiết, và Nguyễn Ái Quốc đã quyết
định ra đi tìm đường cứu nước theo một hướng đi khác, phù hợp hơn với yêu cầu của lịch sử dân tộc.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 3/6
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước trên th
giới, xem người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình. Qua quá trình thâm nhập thực ti
cách mạng, qua nghiên cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa, đồng thời tham
gia vào các phong trào của các giai cấp và nhân dân lao động các nước; Người đã nhận ra các
cuộc cách mạng tư sản của Mỹ và Pháp là các cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để
chưa đem lại tự do và ấm no cho nhân dân lao động. Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng th
Mười Nga đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức của Người.
Đến năm 1919, sau khi chiến tranh Thế giới thứ Nhất kết thúc, các nước tư bản đã tiến hành
nghị Véc-xây để phân chia quyền lợi, chia lại thị trường thuộc địa. Thời điểm đó, Nguyễn Ái
Quốc đã gửi bản yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam đến hội nghị Véc-xây, nhưng khô
được chấp nhận. Từ đó, Người đã rút ra được muốn giành được độc lập phải dựa vào sức mìn là chính.
Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Những nội dung trong bản luận cương này đã hoàn
toàn đáp ứng được những khát vọng, trăn trở mà Người ấp ủ trong suốt quá trình tìm đường cứu
nước, đặc biệt là con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đó, Người đã tin tưởng vào ch
nghĩa Mác - Lênin và xác định rõ con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc là con đường C
mạng Vô sản. Đến tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Người chính thức biến niềm
tin đó thành hành động khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và gia nhập Quốc tế Cộng
sản. Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên của Việt
Nam, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong hành trình hoạt động cách mạng của Người.
Nguyễn Ái Quốc ra đi cứu nước với lòng yêu nước chân chính, nhưng từ khi đọc “Luận cươn
về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, tư tưởng của Người đã có bước chuyển biến sâu s
Từ một người yêu nước, Người trở thành chiến sĩ cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước đến với ch
nghĩa Mác - Lênin. Việc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành đảng viên cộng
sản đầu tiên của Việt Nam đánh dấu sự thay đổi về chất trong nhận thức. Người khẳng định:
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường Cách mạng Vô sản”
* Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
Hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ với khoảng 90% dân số là mù chữ thì việc truyền bá chủ ng
Mác-Lênin tới người dân không thể thực hiện ngay được mà đó là một quá trình lâu dài, từ từ
thấm nhuần. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn truyền bá tới tầng lớp tiến bộ nhất là tầng
tri thức rồi sau đó vào các tầng lớp khác. Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức ch sự ra đời của Đảng:
Về tư tưởng: Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam bằng cách viết và gửi
sách báo, tài liệu về Việt Nam qua con đường theo chân các thủy thủ nhằm chuyển biến nhận
thức của quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin từng bướ
chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước theo lập
trường của giai cấp công nhân. Từ năm 1921, tại Pháp, Người thành lập Hội Liên hiệp thuộc
sáng lập báo Người cùng khổ, và năm 1922 được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông
Dương, Người tích cực lên án tội ác của thực dân Pháp, khơi dậy lòng yêu nước, thức tỉnh tin
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 4/6
thần dân tộc. Năm 1927, Người khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, tron
Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy.”
Về chính trị:Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải
phóng dân tộc. Người khẳng định rằng con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là gi
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới
giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây dựng nhà nước mang
lại quyền và lợi ích cho nhân dân. Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nư
thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định:
“Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng,
ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Năm 1928, phong trào “V
sản hóa” do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên phát động đã góp phần truy
bá tư tưởng vô sản, rèn luyện cán bộ và xây dựng phát triển tổ chức của công nhân.
Về tổ chức:Cùng với việc truyền bá lý luận chính trị để chuẩn bị cho sự ra đời của một
chính đảng, Người đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức. Tháng 11/1924, Người đến Quảng
Châu (Trung Quốc) để đào tạo cán bộ, xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng s
Tháng 2/1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng
sản đoàn. Đến tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên,
để vừa chuẩn bị cán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921 đến năm 1927, các
tác phẩm của Người được tập hợp và xuất bản thành cuốn Đường Cách mệnh. Hội Việt Nam
Cách mạng thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản, nhưng quá trình hoạt động, chương
trình hành động đã thể hiện quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân, là tổ chức tiền thâ
dẫn tới ra đời các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam. Hội là tổ chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập
chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Phong trào công nhân cũng phát triển từ tự phát sang tự giác.
Chỉ trong nửa cuối năm 1929, phong trào cách mạng Việt Nam chứng kiến sự ra đời liên tiếp
của ba tổ chức cộng sản. Tháng 3, tại Bắc Kỳ, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập;
tháng 9, Trung Kỳ xuất hiện Đông Dương Cộng sản Liên đoàn; và tháng 11, An Nam Cộng s
Đảng ra đời ở Nam Kỳ. Đây là sự phân hóa tích cực, khẳng định bước phát triển về chất của
phong trào yêu nước Việt Nam. Tuy nhiên, do cùng tồn tại và đều muốn khẳng định vị thế, cá
tổ chức này đã cạnh tranh ảnh hưởng, gây nên sự phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất v
tổ chức trên cả nước. Điều này, đã đề ra nhu cầu cấp bách thành lập một chính đảng có đủ kh
năng tập hợp lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
* Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản Đảng, Người đứng
ra chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ ngày 6/1/1930 đến ngày 7/2/1930, hội nghị thành lập Đảng được tiến hành tại Hương Cảng
Trung Quốc. Sau hơn một tháng làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã
quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhấ
Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; cử ra ban chấp hành trung ưng lâm thời; thông
qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đản
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 5/6
Đến ngày 24-2-1930, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất được
hoàn thành. Từ đây, cả ba tổ chức cộng sản Việt Nam đã thống nhất trọn vẹn vào một Đảng
cộng sản duy nhất. Đặc biệt Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt còn được coi là Cương l
chính trị đầu tiên của Đảng, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt sau này trong việc định hướng
cho cách mạng Việt Nam khi tiến hành giải phóng dân tộc.
Có thể thấy, vai trò lớn lao, cao cả của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam được thể hiện ở việc Người đã sáng suốt, nhạy bén, tìm ra con đường đúng đắn ch
cách mạng dân tộc và ngay sau đó đã khẩn trương, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin v
cách mạng Việt Nam; tích cực chuẩn bị mọi mặt từ tư tưởng, chính trị, đến các tổ chức để dẫn
tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Người còn nắm bắt nhanh chóng được tình
hình cách mạng trong nước để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính
đảng duy nhất của Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng ta chín
là nhờ vào công lao to lớn của Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc khác với cá nhà chí sĩ yêu nước
Nguyễn Ái Quốc sớm nhận ra những hạn chế căn bản của các nhà yêu nước đi trước trong vi
xác định rõ ràng mục tiêu, đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng, cũng như những thiếu sót
trong phương pháp đấu tranh và nhận thức về “bạn - thù” trong cuộc cách mạng dân tộc, dân
chủ ở Việt Nam. Những hạn chế đó trở thành bài học quý giá, là cơ sở để Người đưa ra lựa c
đúng đắn trong hành trình tìm con đường cứu nước. Người thấy rõ rằng các phong trào yêu
nước trước đó chưa đáp ứng được yêu cầu lịch sử, còn hạn chế về tư tưởng và thiếu lí luận soi
đường đi đúng đắn. Điều nhất quán, xuyên suốt trong cuộc hành trình của Nguyễn Ái Quốc là
phải tìm ra con đường không chỉ giành lại độc lập dân tộc mà còn mang lại tự do, hạnh phúc
cho nhân dân. Chính mục tiêu này tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa Nguyễn Tất Thành và các
yêu nước đương thời, thể hiện trong tư duy, cách hành động và lựa chọn con đường cách mạn cho dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ đi trước, nhưng không đồng
tình với đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Theo Người, chủ trương cầu viện Pháp để c
lương của Phan Chu Trinh chẳng khác nào "đi xin giặc rủ lòng thương", còn việc dựa vào Nh
để chống Pháp của Phan Bội Châu lại giống như "rước hổ cửa trước, rước beo cửa sau". Từ đ
Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước phải do chính dân tộc mình tự tìm ra, không p
thuộc hay trông chờ vào sự giúp đỡ của bất kỳ cường quốc nào. Chính vì vậy, Người quyết tâ
sang phương Tây, cụ thể là nước Pháp hay kẻ thù của dân tộc, nơi nêu cao khẩu hiệu “Tự do –
Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu gốc rễ sức mạnh của họ, từ đó tìm ra con đường đúng đắn
nhằm giải phóng dân tộc và mang lại hạnh phúc cho nhân dân.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu sâu sắc các cuộc cách mạng
điển hình trên thế giới. Người đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con
người của các cuộc cách mạng tư sản nhưng Người cũng nhận thức rõ và phê phán bản chất
không triệt để của các cuộc cách mạng tư sản. Đây cũng là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc khẳng
định một cách dứt khoát rằng: Con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạn
phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 6/6
Mục đích của cuộc ra đi của Nguyễn Ái Quốc khác với các bậc tiền bối. Nếu như phần lớn
những người Việt Nam đi ra nước ngoài lúc bấy giờ là để tìm sự giúp đỡ của bên ngoài, cầu
ngoại viện để đánh Pháp, thì Nguyễn Ái Quốc ra đi là để tìm con đường, cách thức đánh đuổi
thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào.
Một điểm khác biệt nữa trong hướng đi Người đó là đã chọn Pháp là điểm đến. Người đã bị hấp
dẫn bởi những truyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của Pháp. Đi sang Pháp
tìm hiểu tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí
phù hợp đánh đuổi chúng.
Cách Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước rất khác biệt so với các bậc tiền bối. Người đã
ra đi với hai bàn tay trắng, làm tất cả mọi việc như phụ bếp, cào tuyết, làm vườn... Chính sự gắn
bó với cuộc sống của người lao động đã giúp Người thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ, khát vọng và sức
mạnh tiềm tàng của họ, từ đó hình thành sự đồng cảm sâu sắc. Qua quá trình lao động và trải
nghiệm thực tiễn cùng nhân dân các nước, Nguyễn Ái Quốc không chỉ mở rộng hiểu biết, mà
còn hình thành tư duy chính trị vững chắc, nhìn nhận thế giới và thời đại bằng lập trường của
người cách mạng. Khác với các nhà yêu nước đương thời, Người đã xác định đúng kẻ thù chung
của các dân tộc bị áp bức là chủ nghĩa thực dân, đế quốc, đồng thời nhận rõ vai trò quyết định
của quần chúng lao động trong sự nghiệp cách mạng toàn cầu.
Một điểm khác nữa là Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận ra điểm sáng từ Cách mạng Tháng Mười
Nga. Người đặc biệt quan tâm tới cuộc cách mạng này; liên hệ giữa cách mạng Nga năm 1917
với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ
có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái
hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa
Pháp khoe khoang bên An Nam...Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng: Chỉ có cách mạng vô
sản do công - nông lãnh đạo mới có thể mang lại tự do, bình đẳng thực sự cho nhân dân.
Nguyễn Ái Quốc khẳng định, để cách mạng thành công phải có quần chúng làm gốc, có một
đảng cách mạng vững mạnh, tinh thần kiên trì, hy sinh và thống nhất lực lượng; và con đường
đúng đắn nhất là đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Sau khi Bản yêu sách tám điểm của Người với bút danh Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị hòa
bình ở Vécxây - Pháp (1919) không được xem xét, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ bộ mặt thật của chủ
nghĩa đế quốc; muốn được giải phóng các dân tộc thuộc địa không có con đường nào khác
ngoài con đường đấu tranh; và các dân tộc chỉ có thể dựa vào lực lượng của bản thân mình, vào
chính thực lực của bản nhân dân mình.
Hành trình tìm đường cứu nước và thành lập Đảng của Nguyễn Ái Quốc là chặng đường đầy
gian nan, thử thách nhưng thấm đẫm tinh thần yêu nước và nghị lực phi thường. Chặng đường
30 năm hoạt động cách mạng của Bác gặp rất nhiều khó khăn, vất vả; Bác đã phải nhiều lần đổi
tên, hai lần vào tù, hai lần giả chết; vậy mà Bác vẫn kiên trì lập trường với lòng yêu nước,
thương dân sâu sắc để giúp đất nước ta được độc lập, được giải phóng; nhân dân ta được tự do,
hạnh phúc. Tấm gương của Người nhắc nhở mỗi chúng ta cần không ngừng nỗ lực học tập, rèn
luyện để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với công lao của Bác và các anh hùng dân tộc. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Nguyễn Ánh Ngọc - Mã LHP: 242_HCMI0131_16 Trang 7/6