TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2022 – 2023
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Mã số đề thi: 10
Ngày thi: Tổng số trang 31/5/2025 : 8
Số báo danh: 73
Mã số SV/HV:
Lớp:
Họ và tên:
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Bài làm
Câu 1:
Pháp xâm lược Việt Nam
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành
chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam hội tiếp
xúc bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Đồng thời, đó cũng cái c
cho Pháp xâm lược Việt Nam (với danh nghĩa "khai hóa văn minh").
Tháng 8/1858, thực dân Pháp nổ súng cửa biển Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm
lược nước ta. Sáu tháng sau, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh thành Gia
Định. Triều đình nhà Nguyễn không thấu hiểu thời cuộc, ít biết về đối
phương, không tiềm lực về kinh tế, quân sự, ngày càng thỏa hiệp với thực
dân Pháp.
Từ 1859 - 1862, các cuộc kháng chiến của nhân dân diễn ra sôi nổi: nghĩa
quân Trương Định, Trần Thị Chính, Huy lập nhiều chiến công. Ngày
10/12/1861, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu chiến Étperăng
của Pháp trên sông Vàm Cỏ. Song, ngày 5/6/1862, triều đình hiệp ước
Nhâm Tuất, dâng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên
Hòa) và đảo Côn Lôn.
Từ 1862 - 1864, triều đình tiếp tục 4 hiệp ước đầu hàng, dâng tiếp 3 tỉnh
miền Tây Nam Kỳ. Ngày 15/3/1874, tại Sài Gòn, hòa ước với nhiều điều
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 1/…..
SV/HV không
được viết vào
cột này)
Điểm từng câu,
diểm thưởng
(nếu có) và điểm
toàn bài
GV chm 1:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
GV chm 2:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
khoản có lợi hơn nữa cho Pháp. Đến ngày 25/8/1883 (hiệp ước Harmand) và 6/6/1884 (hiệp ước
Patơnot), triều đình hoàn toàn đầu hàng Pháp, thừa nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ
Việt Nam.
Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Việt Nam
Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp Đông Dương. Chúng dùng
bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù để thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống
đối. Áp dụng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác
nhau. Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để
áp bức chính trị bóc lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước, trở thành lệ, bị đàn áp, bóc lột,
cuộc sống vô cùng khổ cực.
Về kinh tế: Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa lớn ở Đông Dương:
Lần thứ nhất (1897 - 1914)
Lần thứ hai (1919 - 1929)
Trong đó, Việt Nam là trọng điểm. Tư bản Pháp đầu tư mạnh vào nông nghiệp (lập đồn điền cao
su, cà phê, chè...) và khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng...) để thu lợi nhuận nhanh. Chúng
xây dựng giao thông vận tải, đường bộ, đường sắt, phát triển công nghiệp chế biến, độc quyền
ngoại thương.
Ngân hàng Đông Dương độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm loại thuế, tàn ác nhất thuế
thân. Thực hiện chính sách cho vay nặng lãi rộng rãi. Kết quả, kinh tế nước ta có phát triển mức
độ nhất định theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng là nền kinh tế thuộc địa, lệ thuộc, mất cân đối,
chỉ phục vụ lợi ích của Pháp.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách dịch văn hóa. Xoá bỏ hệ thống giáo dục
phong kiến, thay bằng giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhiều nhà tù, trại giam hơn trường
học; khuyến khích tín dị đoan, tệ nạn hội như cờ bạc, rượu chè; hạn chế xuất bản sách
báo tiến bộ, gây tâm lý tự ti dân tộc. Hậu quả là hơn 90% nhân dân ta mù chữ, bị bưng bít thông
tin.
Bộ mặt thật của thực dân Pháp
Pháp tự nhận mình người "văn minh", từng thực hiện cách mạng sản 1789, lật đổ chế độ
phong kiến lỗi thời. Đáng ra, khi sang Việt Nam, họ phải xóa bỏ chế độ phong kiến lạc hậu,
thiết lập một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn. Nhưng thực tế, họ không loại bỏ phong kiến,
dựa vào phong kiến để thống trị, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân dân.
Các cuộc khai thác thuộc địa đã làm cho hội Việt Nam phân hóa sâu sắc, tạo tiền đề bên
trong cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX. Xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn:
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 2/…..
1. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp.
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với quan lại phong kiến.
3. Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và tư sản Pháp.
Phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến dân chủ sản đều thất bại. Các cuộc
khởi nghĩa trang dưới khẩu hiệu Cần Vương, do văn thân, sĩ phu lãnh đạo, thể hiện tinh thần
yêu nước nhưng đều không thành công. Cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường
lối cứu nước.
Một số phong trào yêu nước tiêu biểu:
1. Phong trào Đông Du Phan Bội Châu do khởi xướng (1905):
Sang Nhật xin viện trợ, nhưng Nhật chỉ đồng ý đào tạo cán bộ, không viện trợ vũ khí.
Phan Bội Châu đưa thanh niên sang Nhật học tập, chuẩn bị lực lượng đánh Pháp.
Pháp lo ngại, thỏa thuận với Nhật: Nhật trục xuất các nhà yêu nước Việt.
Tháng 3/1909, Phan Bội Châu bị trục xuất, phong trào Đông Du chấm dứt.
2. Phong trào Duy Tân Phan Châu Trinh do chủ trương:
Chủ trương: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Phản đối bạo động vũ trang, muốn cải cách ôn hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Vận động thay đổi lối sống, trang phục, giáo dục... Hưởng ứng mạnh mẽ Huế miền
Trung.
Sự phân hóa trong giai cấp tư sản:
Tư sản mại bản: có lợi ích gắn với Pháp, trở thành tay sai.
sản dân tộc: kinh tế nhỏ bé, bị sản Pháp Hoa chèn ép, tinh thần yêu nước
nhất định.
Hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam giai đoạn này:
1. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược phong kiến
phản động.
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân (chủ yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 3/…..
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam
Sau Thế chiến I, để đắp tổn thất, Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 2 (1919 - 1929). Số
lượng công nhân tăng nhanh, đời sống cực khổ:
Làm việc 9 - 12 giờ/ngày, lương rẻ mạt, không bảo hiểm, bị đánh đập, bỏ tù.
Nhiều nơi công nhân phải sống như nô lệ, bị ép làm việc trong điều kiện tồi tệ.
Ban đầu, phong trào còn rời rạc, tự phát, mục tiêu chủ yếu tăng lương, giảm giờ làm. Đấu
tranh dưới nhiều hình thức: bỏ trốn, đập máy, bãi công...
Từ năm 1922, phong trào có chuyển biến:
1922: 600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn bãi công.
1924: nhiều cuộc bãi công ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương...
1925: đỉnh cao cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son (Sài Gòn) ngăn tàu Pháp đi
đàn áp Trung Quốc.
Vai trò Tôn Đức Thắng: Sau khi tham gia binh biến ở Hắc Hải (Nga), về nước làm công nhân
Sài Gòn, lập tổ chức “Công hội” đầu tiên cho công nhân Việt Nam.
Ý nghĩa:
Cuộc bãi công Ba Son đánh dấu bước chuyển từ đấu tranh kinh tế sang chính trị, từ tự
phát sang tự giác.
Phong trào công nhân yêu nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, góp phần chuẩn bị về chính trị, lý luận cho việc thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam và hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Câu 2:
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Đảng ta luôn xác định
rõ con người chính là yếu tố trung tâm, là động lực trực tiếp, đồng thời cũng là mục tiêu cuối
cùng của mọi chiến lược phát triển. Đây là một quan điểm mang tính nền tảng và xuyên suốt
trong đường lối phát triển đất nước, xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng: mọi tiến bộ về khoa
học – công nghệ, mọi thành tựu kinh tế, mọi cải cách xã hội hay mọi giá trị văn hóa đều do con
người tạo ra, vận hành và phát triển. Nếu không chú trọng phát triển con người, đặc biệt là về trí
tuệ, đạo đức, thể chất và kỹ năng nghề nghiệp, thì sẽ không thể tạo ra nội lực đủ mạnh để thúc
đẩy quá trình CNH, HĐH theo hướng bền vững.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, kinh tế số, vai trò của con người – đặc biệt là nguồn nhân lực
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 4/…..
chất lượng cao – càng trở nên then chốt. Máy móc, công nghệ có thể hỗ trợ quy trình sản xuất,
nhưng chỉ con người mới có khả năng sáng tạo, đổi mới và thích ứng với sự thay đổi không
ngừng của môi trường kinh tế - xã hội. Do đó, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho sự
phát triển trước mắt, mà còn là chiến lược cho sự phát triển lâu dài, vững chắc của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng hiện nay, có thể thấy rằng nguồn nhân lực Việt Nam vẫn chưa
thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH. Một mặt, chúng ta ghi
nhận những tiến bộ đáng kể như: tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên theo từng năm; số lượng kỹ
sư, cử nhân tốt nghiệp các ngành kỹ thuật, công nghệ, y tế, giáo dục ngày càng nhiều; lực lượng
lao động trẻ, năng động, có khát vọng vươn lên. Thế nhưng, những hạn chế cũng rất rõ ràng: t
lệ lao động có trình độ cao còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực; kỹ năng mềm, khả
năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, trình độ ngoại ngữ và tin học chưa cao; sự thiếu gắn kết
giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”; chất
lượng lao động chưa đồng đều giữa các vùng, miền, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi.
Ngoài ra, hệ thống giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình đổi mới,
chưa theo kịp xu thế của thời đại. Phương pháp giảng dạy còn nặng lý thuyết, ít thực hành; đội
ngũ giáo viên, giảng viên chưa được đào tạo bài bản theo chuẩn quốc tế; thiếu sự liên kết giữa
nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong quy hoạch và sử dụng nguồn nhân
lực. Những điều này khiến nguồn nhân lực Việt Nam chưa thật sự là động lực mạnh mẽ cho sự
phát triển nhanh và bền vững.
Vì vậy, để nguồn nhân lực thực sự trở thành yếu tố cơ bản, quyết định thành công của quá trình
CNH, HĐH, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: đẩy mạnh cải cách giáo dục theo
hướng hiện đại, thực tiễn, hội nhập; tăng cường đào tạo kỹ năng nghề, kỹ năng số và ngoại ngữ
cho người lao động; xây dựng hệ thống tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài minh bạch,
công bằng; khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, đổi mới sáng tạo trong mọi tầng lớp nhân
dân. Đồng thời, cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng sâu, vùng xa, để đảm bảo sự
phát triển đồng đều và bao trùm trên toàn quốc.
Tóm lại, con người là yếu tố quyết định thành công của mọi chiến lược phát triển. Việc Đảng ta
xác định con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững trong sự nghiệp CNH,
HĐH là một chủ trương đúng đắn, hợp lý và mang tính chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, để hiện
thực hóa mục tiêu đó, đòi hỏi phải có những cải cách sâu rộng, mạnh mẽ trong lĩnh vực phát
triển nguồn nhân lực, nhằm tạo ra một lực lượng lao động thực sự chất lượng, thích ứng với sự
phát triển của thời đại mới.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 5/…..

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2022 – 2023
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN Số báo danh: 73 VIỆT NAM Mã số SV/HV: Mã số đề thi: 10 Lớp:
Ngày thi: 31/5/2025 Tổng số trang: 8 Họ và tên: Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào Câu 1: cột này)
Pháp xâm lược Việt Nam Điểm từng câu, diểm thưởng
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành (nếu có) và điểm
chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp toàn bài
xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Đồng thời, đó cũng là cái cớ
cho Pháp xâm lược Việt Nam (với danh nghĩa "khai hóa văn minh"). GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm
Tháng 8/1858, thực dân Pháp nổ súng ở cửa biển Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm Câu 2: ……… điểm
lược nước ta. Sáu tháng sau, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh thành Gia ………………….
Định. Triều đình nhà Nguyễn không thấu hiểu thời cuộc, ít biết về đối ………………….
phương, không có tiềm lực về kinh tế, quân sự, ngày càng thỏa hiệp với thực Cộng …… điểm dân Pháp.
Từ 1859 - 1862, các cuộc kháng chiến của nhân dân diễn ra sôi nổi: nghĩa GV chấm 2:
quân Trương Định, Trần Thị Chính, Lê Huy lập nhiều chiến công. Ngày Câu 1: ……… điểm
10/12/1861, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu chiến Étperăng Câu 2: ……… điểm
của Pháp trên sông Vàm Cỏ. Song, ngày 5/6/1862, triều đình ký hiệp ước ………………….
Nhâm Tuất, dâng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên …………………. Hòa) và đảo Côn Lôn. Cộng …… điểm
Từ 1862 - 1864, triều đình tiếp tục ký 4 hiệp ước đầu hàng, dâng tiếp 3 tỉnh
miền Tây Nam Kỳ. Ngày 15/3/1874, tại Sài Gòn, ký hòa ước với nhiều điều
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP:
…………………… Trang 1/…..
khoản có lợi hơn nữa cho Pháp. Đến ngày 25/8/1883 (hiệp ước Harmand) và 6/6/1884 (hiệp ước
Patơnot), triều đình hoàn toàn đầu hàng Pháp, thừa nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Việt Nam
Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương. Chúng dùng
bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù để thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống
đối. Áp dụng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác
nhau. Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để
áp bức chính trị và bóc lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước, trở thành nô lệ, bị đàn áp, bóc lột,
cuộc sống vô cùng khổ cực.
Về kinh tế: Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa lớn ở Đông Dương:
Lần thứ nhất (1897 - 1914)
Lần thứ hai (1919 - 1929)
Trong đó, Việt Nam là trọng điểm. Tư bản Pháp đầu tư mạnh vào nông nghiệp (lập đồn điền cao
su, cà phê, chè...) và khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng...) để thu lợi nhuận nhanh. Chúng
xây dựng giao thông vận tải, đường bộ, đường sắt, phát triển công nghiệp chế biến, độc quyền ngoại thương.
Ngân hàng Đông Dương độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm loại thuế, tàn ác nhất là thuế
thân. Thực hiện chính sách cho vay nặng lãi rộng rãi. Kết quả, kinh tế nước ta có phát triển mức
độ nhất định theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng là nền kinh tế thuộc địa, lệ thuộc, mất cân đối,
chỉ phục vụ lợi ích của Pháp.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hóa. Xoá bỏ hệ thống giáo dục
phong kiến, thay bằng giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhiều nhà tù, trại giam hơn trường
học; khuyến khích mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè; hạn chế xuất bản sách
báo tiến bộ, gây tâm lý tự ti dân tộc. Hậu quả là hơn 90% nhân dân ta mù chữ, bị bưng bít thông tin.
Bộ mặt thật của thực dân Pháp
Pháp tự nhận mình là người "văn minh", từng thực hiện cách mạng tư sản 1789, lật đổ chế độ
phong kiến lỗi thời. Đáng lý ra, khi sang Việt Nam, họ phải xóa bỏ chế độ phong kiến lạc hậu,
thiết lập một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn. Nhưng thực tế, họ không loại bỏ phong kiến, mà
dựa vào phong kiến để thống trị, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân dân.
Các cuộc khai thác thuộc địa đã làm cho xã hội Việt Nam phân hóa sâu sắc, tạo tiền đề bên
trong cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX. Xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn:
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP:
…………………… Trang 2/…..
1. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp.
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với quan lại phong kiến.
3. Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và tư sản Pháp.
Phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản đều thất bại. Các cuộc
khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu Cần Vương, do văn thân, sĩ phu lãnh đạo, thể hiện tinh thần
yêu nước nhưng đều không thành công. Cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cứu nước.
Một số phong trào yêu nước tiêu biểu:
1. Phong trào Đông Du Phan Bội Châu do khởi xướng (1905):
Sang Nhật xin viện trợ, nhưng Nhật chỉ đồng ý đào tạo cán bộ, không viện trợ vũ khí.
Phan Bội Châu đưa thanh niên sang Nhật học tập, chuẩn bị lực lượng đánh Pháp.
Pháp lo ngại, thỏa thuận với Nhật: Nhật trục xuất các nhà yêu nước Việt.
Tháng 3/1909, Phan Bội Châu bị trục xuất, phong trào Đông Du chấm dứt. 2. Phong trào Duy Tân Phan Châu Trinh do chủ trương:
Chủ trương: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Phản đối bạo động vũ trang, muốn cải cách ôn hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Vận động thay đổi lối sống, trang phục, giáo dục... Hưởng ứng mạnh mẽ ở Huế và miền Trung.
Sự phân hóa trong giai cấp tư sản:
Tư sản mại bản: có lợi ích gắn với Pháp, trở thành tay sai.
Tư sản dân tộc: kinh tế nhỏ bé, bị tư sản Pháp và Hoa chèn ép, có tinh thần yêu nước nhất định.
Hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam giai đoạn này:
1. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và phong kiến phản động.
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân (chủ yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP:
…………………… Trang 3/…..
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam
Sau Thế chiến I, để bù đắp tổn thất, Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 2 (1919 - 1929). Số
lượng công nhân tăng nhanh, đời sống cực khổ:
Làm việc 9 - 12 giờ/ngày, lương rẻ mạt, không bảo hiểm, bị đánh đập, bỏ tù.
Nhiều nơi công nhân phải sống như nô lệ, bị ép làm việc trong điều kiện tồi tệ.
Ban đầu, phong trào còn rời rạc, tự phát, mục tiêu chủ yếu là tăng lương, giảm giờ làm. Đấu
tranh dưới nhiều hình thức: bỏ trốn, đập máy, bãi công...
Từ năm 1922, phong trào có chuyển biến:
1922: 600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn bãi công.
1924: nhiều cuộc bãi công ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương...
1925: đỉnh cao là cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son (Sài Gòn) ngăn tàu Pháp đi đàn áp Trung Quốc.
Vai trò Tôn Đức Thắng: Sau khi tham gia binh biến ở Hắc Hải (Nga), về nước làm công nhân
Sài Gòn, lập tổ chức “Công hội” đầu tiên cho công nhân Việt Nam. Ý nghĩa:
Cuộc bãi công Ba Son đánh dấu bước chuyển từ đấu tranh kinh tế sang chính trị, từ tự phát sang tự giác.
Phong trào công nhân và yêu nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, góp phần chuẩn bị về chính trị, lý luận cho việc thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam và hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Câu 2:
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Đảng ta luôn xác định
rõ con người chính là yếu tố trung tâm, là động lực trực tiếp, đồng thời cũng là mục tiêu cuối
cùng của mọi chiến lược phát triển. Đây là một quan điểm mang tính nền tảng và xuyên suốt
trong đường lối phát triển đất nước, xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng: mọi tiến bộ về khoa
học – công nghệ, mọi thành tựu kinh tế, mọi cải cách xã hội hay mọi giá trị văn hóa đều do con
người tạo ra, vận hành và phát triển. Nếu không chú trọng phát triển con người, đặc biệt là về trí
tuệ, đạo đức, thể chất và kỹ năng nghề nghiệp, thì sẽ không thể tạo ra nội lực đủ mạnh để thúc
đẩy quá trình CNH, HĐH theo hướng bền vững.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, kinh tế số, vai trò của con người – đặc biệt là nguồn nhân lực
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP:
…………………… Trang 4/…..
chất lượng cao – càng trở nên then chốt. Máy móc, công nghệ có thể hỗ trợ quy trình sản xuất,
nhưng chỉ con người mới có khả năng sáng tạo, đổi mới và thích ứng với sự thay đổi không
ngừng của môi trường kinh tế - xã hội. Do đó, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho sự
phát triển trước mắt, mà còn là chiến lược cho sự phát triển lâu dài, vững chắc của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng hiện nay, có thể thấy rằng nguồn nhân lực Việt Nam vẫn chưa
thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH. Một mặt, chúng ta ghi
nhận những tiến bộ đáng kể như: tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên theo từng năm; số lượng kỹ
sư, cử nhân tốt nghiệp các ngành kỹ thuật, công nghệ, y tế, giáo dục ngày càng nhiều; lực lượng
lao động trẻ, năng động, có khát vọng vươn lên. Thế nhưng, những hạn chế cũng rất rõ ràng: tỷ
lệ lao động có trình độ cao còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực; kỹ năng mềm, khả
năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, trình độ ngoại ngữ và tin học chưa cao; sự thiếu gắn kết
giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”; chất
lượng lao động chưa đồng đều giữa các vùng, miền, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi.
Ngoài ra, hệ thống giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình đổi mới,
chưa theo kịp xu thế của thời đại. Phương pháp giảng dạy còn nặng lý thuyết, ít thực hành; đội
ngũ giáo viên, giảng viên chưa được đào tạo bài bản theo chuẩn quốc tế; thiếu sự liên kết giữa
nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong quy hoạch và sử dụng nguồn nhân
lực. Những điều này khiến nguồn nhân lực Việt Nam chưa thật sự là động lực mạnh mẽ cho sự
phát triển nhanh và bền vững.
Vì vậy, để nguồn nhân lực thực sự trở thành yếu tố cơ bản, quyết định thành công của quá trình
CNH, HĐH, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: đẩy mạnh cải cách giáo dục theo
hướng hiện đại, thực tiễn, hội nhập; tăng cường đào tạo kỹ năng nghề, kỹ năng số và ngoại ngữ
cho người lao động; xây dựng hệ thống tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài minh bạch,
công bằng; khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, đổi mới sáng tạo trong mọi tầng lớp nhân
dân. Đồng thời, cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng sâu, vùng xa, để đảm bảo sự
phát triển đồng đều và bao trùm trên toàn quốc.
Tóm lại, con người là yếu tố quyết định thành công của mọi chiến lược phát triển. Việc Đảng ta
xác định con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững trong sự nghiệp CNH,
HĐH là một chủ trương đúng đắn, hợp lý và mang tính chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, để hiện
thực hóa mục tiêu đó, đòi hỏi phải có những cải cách sâu rộng, mạnh mẽ trong lĩnh vực phát
triển nguồn nhân lực, nhằm tạo ra một lực lượng lao động thực sự chất lượng, thích ứng với sự
phát triển của thời đại mới.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 5/…..