






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Số báo danh: 40 Nam
Mã số SV/HV: 22D252088 Mã số đề thi: 10 Lớp: K58B3LN
Ngày thi: 28/12/2024 Tổng số trang: 07
Họ và tên: Đinh Trần Bảo Long Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào Câu 1: cột này)
1.Hoàn cảnh Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Điểm từng câu,
* Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước diểm thưởng (nếu có) và điểm
thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến toàn bài
thành thuộc địa nửa phong kiến. GV chấm 1:
- Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước Câu 1: ……… điểm
bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Câu 2: ……… điểm
Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và …………………. ………………….
thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với Cộng …… điểm
giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam. GV chấm 2:
- Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt Câu 1: ……… điểm
ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một Câu 2: ……… điểm ………………….
số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ ………………….
chính sách khai thác thuộc địa. Cộng …… điểm
- Về văn hoá: Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô
dịch, gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 1/7
hoạt động yêu nước của Nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và
ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành
chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
* Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.
- Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân,
xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ câu kết với thực
dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt
Nam lúc này có sự phân hoá. Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ
thực dân đã tham gia đấu tranh chống thực dân Pháp dưới các hình thức và mức độ khác
nhau. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân
và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông
dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý
chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai
cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân
Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp
nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản
Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị
nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư
sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp
bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân,
có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
- Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đều mang thân phận người
dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy,
trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa Nhân dân, chủ yếu là nông dân với
giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày
càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể Nhân dân Việt Nam
với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa
phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược,
giành độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân; hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 2/7
quyền dân chủ cho Nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế
quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
* Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của Nhân dân ta chống
thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào
Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến
lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm
1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu
nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám
kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào
bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.
- Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống
yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Nhưng do
thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã
lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
2. Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam giai đoạn này.
Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp là
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, bởi vì chính
quyền thực dân áp bức và bóc lột mọi tầng lớp trong xã hội. Thực dân Pháp chiếm đoạt
tài nguyên, đất đai, áp dụng chính sách khai thác thuộc địa tàn bạo, làm cho nông dân bị
tước đoạt đất đai, trở thành tá điền hoặc lao động khổ sai. Tầng lớp tư sản dân tộc bị cạnh
tranh và chèn ép, tiểu tư sản trí thức bị áp bức chính trị, không có tự do ngôn luận, trong
khi công nhân bị bóc lột nặng nề trong các nhà máy, hầm mỏ. Các mâu thuẫn giai cấp
như giữa nông dân với địa chủ, công nhân với tư sản đều có nguồn gốc từ sự thống trị
của thực dân Pháp. Vì vậy, giải quyết mâu thuẫn dân tộc trở thành yêu cầu cấp thiết nhất,
thúc đẩy sự ra đời của các phong trào đấu tranh giành độc lập, nhằm chống lại sự thống
trị của thực dân Pháp và giành lại quyền tự do, độc lập cho dân tộc.
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 3/7 Câu 2:
*Lý do Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định phải dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý kinh
tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp tại Đại hội VI (1986)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, diễn ra vào tháng
12 năm 1986, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Một trong những quyết định trọng yếu mà Đại hội đưa ra là việc phải dứt khoát xóa bỏ
cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp. Quyết định này không
chỉ phản ánh tình hình thực tế của nền kinh tế Việt Nam vào thời điểm đó mà còn là sự
khẳng định một bước chuyển hướng mạnh mẽ trong chính sách và mô hình phát triển
kinh tế của đất nước.
- Kinh tế trì trệ và thiếu hiệu quả dưới cơ chế cũ
Trước Đại hội VI, nền kinh tế Việt Nam gặp khó khăn lớn với cơ chế quản lý kinh tế
tập trung, quan liêu và bao cấp. Sự can thiệp sâu của nhà nước vào tất cả các lĩnh vực
khiến nền kinh tế thiếu linh hoạt và không đáp ứng được nhu cầu xã hội. Các quyết định
kinh tế tập trung từ trung ương không phù hợp với thực tế địa phương, dẫn đến phân bổ
tài nguyên không hiệu quả. Các doanh nghiệp nhà nước thiếu động lực cải tiến, khiến
nền kinh tế không thể phát triển bền vững.
- Sự thất bại của cơ chế bao cấp
Hệ thống bao cấp, nơi nhà nước cấp phát nguồn lực cho doanh nghiệp và các đối
tượng, đã khiến cơ chế kinh tế cũ trở nên lỗi thời. Mặc dù nhằm bảo vệ người lao động
và ổn định xã hội, nhưng thực tế đã tạo ra nhiều hậu quả tiêu cực. Các doanh nghiệp nhà
nước thiếu động lực cải tiến vì không phải chịu trách nhiệm về lợi nhuận, dẫn đến chất
lượng sản phẩm giảm sút và thiếu hụt hàng hóa thiết yếu. Các doanh nghiệp tư nhân bị
hạn chế quyền lợi và khả năng cạnh tranh, khiến nền kinh tế không phát triển đồng đều và bền vững.
- Khủng hoảng phân phối và lạm phát cao
Cơ chế quản lý kinh tế tập trung cũng dẫn đến khủng hoảng phân phối và lưu thông
hàng hóa. Các biện pháp phân phối theo cơ chế bao cấp thiếu linh hoạt, gây ra tình trạng
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 4/7
thiếu thốn hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Lạm phát gia tăng,
đồng tiền mất giá nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân. Việc phân phối
không hiệu quả không chỉ làm suy yếu nền kinh tế mà còn gây bất ổn xã hội, khiến nhân
dân mất niềm tin vào các chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Cần phải hội nhập với nền kinh tế thế giới
Cuối những năm 1980, nền kinh tế thế giới chuyển mình mạnh mẽ theo xu hướng toàn
cầu hóa và hội nhập, với nhiều quốc gia chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do hóa và
cạnh tranh. Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì cơ chế quản lý kinh tế tập trung, khiến
đất nước tụt hậu và không thể hòa nhập vào xu thế phát triển chung. Để không bị bỏ lại
phía sau, Việt Nam cần phải chuyển đổi mô hình kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho
doanh nghiệp phát triển, khuyến khích sáng kiến và cải tiến trong sản xuất.
- Cơ chế mới cần thiết cho sự phát triển bền vững
Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng xác định cần dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý
kinh tế tập trung, quan liêu và bao cấp. Quyết định này không chỉ phản ánh yêu cầu thực
tiễn mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong cải cách nền kinh tế. Đại hội đề
ra đường lối đổi mới, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, với vai trò của nhà nước là
điều tiết vĩ mô và hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh
việc kết hợp kế hoạch với thị trường, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân và các
thành phần kinh tế khác đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất và phân phối hàng hóa.
Việc xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp là một
quyết định chiến lược quan trọng của Đại hội VI của Đảng. Quyết định này không chỉ
xuất phát từ nhu cầu cải cách nền kinh tế nội tại mà còn là bước đi cần thiết để Việt Nam
hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo động lực phát triển
lâu dài. Những thay đổi này đã mở ra thời kỳ Đổi mới, giúp đất nước vượt qua khủng
hoảng kinh tế, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội.
*Tàn dư của cơ chế quản lý cũ cho đến nay
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 5/7
Dù Việt Nam đã trải qua hơn ba thập kỷ đổi mới kể từ Đại hội VI (1986), một số tàn
dư của cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp vẫn còn tồn tại
trong một số lĩnh vực nhất định. Điều này có thể giải thích qua một số yếu tố sau:
- Tàn dư trong quản lý nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước
Mặc dù Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nhưng vai trò của nhà
nước trong quản lý kinh tế và sở hữu doanh nghiệp vẫn còn khá lớn. Một số doanh
nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn hoạt động theo cơ chế quản lý cũ, với sự can thiệp trực
tiếp từ nhà nước về chỉ tiêu sản xuất, phân phối và giá cả. Các DNNN này vẫn được
hưởng nhiều ưu đãi, bảo trợ từ nhà nước như vốn vay ưu đãi, bảo lãnh nợ hoặc các chính
sách hỗ trợ khác. Sự can thiệp này đôi khi dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong sản
xuất, thất thoát tài sản và lãng phí tài nguyên.
- Cơ chế bao cấp trong một số lĩnh vực
Mặc dù cơ chế bao cấp đã được xóa bỏ ở nhiều lĩnh vực, nhưng trong một số ngành
chiến lược như năng lượng, giao thông vận tải, hay một số mặt hàng thiết yếu như điện,
xăng dầu, vẫn có sự can thiệp của nhà nước về giá cả và phân phối. Việc điều chỉnh giá
cả và cung cấp hàng hóa thông qua các cơ chế hành chính vẫn là một thực tế tồn tại ở
nhiều nơi, đôi khi gây ra tình trạng thiếu hụt hoặc lãng phí tài nguyên.
- Cơ chế xin - cho và thủ tục hành chính rườm rà
Một trong những tàn dư của cơ chế quản lý tập trung là hệ thống thủ tục hành chính
còn rườm rà và thiếu minh bạch. Mặc dù đã có những nỗ lực cải cách hành chính, nhưng
các thủ tục hành chính phức tạp, tình trạng "xin - cho" và tham nhũng vẫn còn tồn tại,
khiến nền kinh tế không hoàn toàn vận hành theo cơ chế thị trường. Điều này cũng dẫn
đến sự phân bổ tài nguyên không hiệu quả và tạo ra rào cản lớn đối với việc phát triển
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Tính hình thức trong quản lý kinh tế
Mặc dù đã có sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nhưng trong một số trường hợp,
quản lý kinh tế vẫn mang tính hình thức, với nhiều chỉ tiêu và kế hoạch hành chính được
áp dụng mà không thực sự dựa trên cơ chế thị trường. Các quyết định kinh tế vẫn có sự
can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước, trong khi lẽ ra, các doanh nghiệp nên tự do
quyết định dựa trên nhu cầu thị trường và khả năng cạnh tranh.
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 6/7
- Sự chậm đổi mới trong các khu vực công
Mặc dù Việt Nam đã thực hiện các cải cách trong khu vực tư nhân và doanh nghiệp
nhà nước, khu vực công, đặc biệt là trong các dịch vụ công như giáo dục, y tế, vẫn còn
tồn tại nhiều yếu tố của cơ chế quản lý cũ. Các dịch vụ công này vẫn chủ yếu được cung
cấp theo cách thức hành chính, thiếu sự linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả mà cơ chế thị
trường có thể mang lại.
*Lý do tồn tại tàn dư của cơ chế quản lý cũ
+ Quá trình chuyển đổi không đồng bộ: Mặc dù đã có những nỗ lực cải cách mạnh mẽ,
nhưng quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường chưa
đồng bộ và không thể thực hiện đồng loạt ở mọi lĩnh vực, dẫn đến sự tồn tại song song
của nhiều cơ chế khác nhau trong nền kinh tế.
+ Chưa hoàn thiện thể chế và chính sách: Các thể chế và chính sách cần thiết để hỗ trợ
nền kinh tế thị trường và xóa bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý tập trung vẫn chưa hoàn thiện.
Điều này dẫn đến tình trạng các tàn dư của cơ chế cũ vẫn tồn tại trong một số lĩnh vực và khu vực.
+ Lợi ích nhóm và sức ép từ các nhóm lợi ích: Các nhóm lợi ích, đặc biệt là những nhóm
có mối quan hệ với doanh nghiệp nhà nước, có thể có sự chống đối hoặc trì hoãn các cải
cách, vì việc duy trì cơ chế quản lý cũ mang lại lợi ích cho họ, làm chậm quá trình
chuyển đổi và xóa bỏ các tàn dư của cơ chế bao cấp.
+ Chưa có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy quản lý: Một số người làm công tác quản lý
vẫn duy trì thói quen tư duy tập trung, thiếu linh hoạt và không dựa trên cơ chế thị
trường. Điều này khiến cho việc thực thi các cải cách chưa thực sự hiệu quả trong tất cả các lĩnh vực. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Đinh Trần Bảo Long - Mã LHP: 241_HCMI0131_08 Trang 7/7