- Mã LHP: 241HCMI0111-03
Họ tên SV: Cao Thùy Linh Trang 1/7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2022 – 2023
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt
Nam
Mã số đề thi: 13
Ngày thi: 28/12/2024 Tổng số trang: 07
Số báo danh: 56
Mã số SV/HV: 22D100165
Lớp: 241HCMI01111-03
Họ và tên: Cao Ty Linh
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Bài làm
Câu 1: Anh (chị) hãy làm nguyên nhân Đảng phải đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986? Tại sao Đảng ta phải
xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
a. Nguyên nhân Đảng phải đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất
nước vào năm 1986.
Tình hình trong nước:
Những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, sau khi
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước rất
nhiều thách thức chưa từng có. Chiến tranh biên giới Tây Nam và phía
Bắc chưa kết thúc cuộc bao vây cấm vận của Mỹ một thách thức
khắc nghiệt, càng đẩy nền kinh tế nước ta o tình thế cùng khó
khăn.
Nông nghiệp, vẫn còn mang tính lạc hậu phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện tự nhiên, không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho cả
nước, tình trạng thiếu lương thực thường xuyên diễn ra trở thành một
vấn đề nghiêm trọng. Đầu thập niên 1980, nạn đói xảy ra nhiều nơi,
đặc biệt miền Bắc miền Trung. Trong bối cảnh các nguồn lực
sản xuất như máy móc, phân bón, thủy lợi giống cây trồng đều
khan hiếm khiến cho năng suất lúa gạo cây trồng thấp. Việc áp
dụng hình hợp tác hóa nông nghiệp triển khai trên toàn quốc (đặc
biệt miền Nam) với mục tiêu đưa nông dân vào hợp tác xã, tuy
nhiên, mô hình này chưa phù hợp với điều kiện thực tế, gây ra sự bất
SV/HV không
được viết vào
cột này)
Điểm từng câu,
diểm thưởng
(nếu có) và điểm
toàn bài
GV chm 1:
Câu1: …
đim Câu2:
… đim
………………….
………………….
Cộng …… điểm
GV chm 2:
Câu1: …
đim Câu2:
… đim
………………….
………………….
Cộng …… điểm
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 2/7
mãn trong người dân. Người nông dân không còn quyền sở hữu ruộng đất và sản phẩm, dẫn
đến tình trạng làm việc cầm chừng bên cạnh đó nhiều vùng đất nông nghiệp bị tàn phá
do bom mìn, chất độc hóa học từ chiến tranh, cùng với thiên tai thường xuyên xảy ra (bão
lụt, hạn hán).
Ngành công nghiệp cũng đối mặt với nhiều khó khăn, hạ tầng công nghiệp chịu hậu
quả nặng nề từ chiến tranh, với nhiều nhà máy, nghiệp sở sản xuất bị tàn phá
không đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Các doanh nghiệp nhà nước lại hoạt động kém hiệu
quả, thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, và năng lực quản
yếu. Ngoài ra, ngành công nghiệp còn gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn nguyên liệu
năng lượng. Nhiều sở sản xuất phải đình trệ hoặc chỉ hoạt động cầm chừng do thiếu
nguyên liệu đầu vào, phụ tùng thay thế, cũng như nhiên liệu. Thường xuyên xảy ra tình
trạng mất điện kéo dài, làm gián đoạn quá trình sản xuất giảm năng suất lao động. Đồng
thời, mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế. Sự rập khuôn, cứng
nhắc trong quản kinh tế dẫn đến lãng phí tài nguyên, tham nhũng kém hiệu quả trong
hoạt động sản xuất. chế này không khuyến khích sự sáng tạo hay tính tự chủ trong sản
xuất, khiến ngành công nghiệp rơi vào trạng thái trì trệ.
Các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế vận tải đều kém phát triển, không đủ khả
năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, cơ sở vật chất thiếu thốn,
đội ngũ giáo viên không đủ chất lượng đào tạo hạn chế, khiến cho hệ thống giáo dục
không thể phổ cập hoặc nâng cao chất lượng học tập. Dịch vụ y tế chịu nhiều ảnh hưởng từ
hậu quả chiến tranh, với sở y tế thiếu hụt nghiêm trọng về trang thiết bị, thuốc men
nhân lực, đặc biệt tại các vùng nông thôn. Hạ tầng giao thông bị tàn phá nặng nề sau chiến
tranh, với nhiều tuyến đường bộ, đường sắt và cầu cống bị hư hỏng hoặc xuống cấp nghiêm
trọng. Điều này làm ảnh hưởng lớn đến việc vận chuyển hàng hóa và hành khách, làm giảm
hiệu quả kinh tế.
Về thương mại, Nhà nước quản gần như toàn bộ các hoạt động mua bán phân
phối hàng hóa. Tình trạng thiếu hàng hóa xảy ra thường xuyên, từ lương thực, thực phẩm
cho đến quần áo, vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Việt Nam đối mặt với sự lập kinh tế từ
thế giới, đặc biệt lệnh cấm vận của Mỹ các nước phương Tây. Giao thương quốc tế
của Việt Nam chủ yếu dựa vào viện trợ kinh tế trao đổi hàng hóa với các nước hội
chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Âu, một số quốc gia đồng minh khác. Sản phẩm xuất
khẩu của Việt Nam chủ yếu nông sản, lâm sản một số sản phẩm công nghiệp nhẹ với
giá trị thấp, trong khi các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như máy móc, nhiên liệu phân
bón luôn trong tình trạng khan hiếm.
Cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm đã để lại những hậu quả vô cùng nặng nề, tàn phá
sâu sắc nền kinh tế và xã hội của Việt Nam. Các hệ thống giao thông như đường bộ, đường
sắt, và cầu cống bị phá hủy nặng nề, làm gián đoạn. Nhiều nhà máy, nghiệp, trường học,
bệnh viện các sở sản xuất cũng bị bom đạn phá hoại hoặc hỏng nặng. Bên cạnh
đó, tài nguyên thiên nhiên cũng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều vùng đất bị ô nhiễm
do bom mìn chưa nổ chất độc hóa học, đặc biệt chất độc da cam, gây ra hậu quả lâu
dài cho môi trường sức khỏe con người. Đất đai bị xói mòn, bạc màu, tài nguyên
rừng, khoáng sản bị khai thác cạn kiệt trong thời gian chiến tranh. Nguồn nhân lực của đất
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 3/7
nước cũng chịu tổn thất nặng nề. Hàng triệu người đã hy sinh trong chiến tranh, trong khi
hàng trăm nghìn người bị thương tật vĩnh viễn hoặc mất khả năng lao động, làm suy giảm
nghiêm trọng lực lượng lao động. Những tổn thất nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, tài nguyên
và nhân lực không chỉ làm suy giảm năng lực kinh tếcòn kéo theo những vấn đề xã hội
phức tạp, đặt ra thách thức to lớn cho công cuộc tái thiết phát triển đất nước sau chiến
tranh
Tình hình quốc tế:
Trong giai đoạn 1976-1986, tình hình quốc tế vẫn bị chi phối mạnh mẽ bởi Chiến tranh
Lạnh giữa hai khối Đông Tây, với sđối đầu gay gắt giữa Mỹ Liên Xô. Đây thời
kỳ mà cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là trong lĩnh vực hạt nhân, đạt đến đỉnh điểm, tạo ra
một bầu không khí căng thẳng và thiếu ổn định trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia trên thế
giới buộc phải lựa chọn giữa hai khối, dẫn đến sự phân cực sâu sắc. Các nước thuộc phe
hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, phải đối mặt với áp lực lớn từ các biện pháp cấm vận
kinh tế và sự cô lập ngoại giao từ các nước phương Tây. Điều này không chỉ làm tăng thêm
khó khăn kinh tế còn làm trầm trọng thêm các vấn đề nội tại trong hình quản
phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa.
Cuộc khủng hoảng năng lượng thập niên 1970, khởi đầu từ các biến động trong giá
dầu, đã kéo theo một giai đoạn suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Nền kinh tế thế giới
phải đối mặt với lạm phát cao, thất nghiệp gia tăng sự bất ổn trong các thị trường tài
chính. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, vốn đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mô
hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, cuộc khủng hoảng càng làm trầm trọng thêm tình
hình. Việt Nam, trong giai đoạn này, chịu ảnh hưởng nặng nề do sự phụ thuộc lớn vào viện
trợ từ Liên các nước hội chủ nghĩa khác. Khi các nguồn viện trợ giảm sút, nền
kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ, sản xuất đình đốn, đời sống người dân ngày
càng khó khăn.
Bên cạnh áp lực từ bên ngoài, nội tại trong hệ thống hội chủ nghĩa cũng gặp nhiều
thách thức nghiêm trọng. Liên các nước Đông Âu phải đối mặt với khủng hoảng
kinh tế kéo dài, dẫn đến sự suy giảm năng lực hỗ trợ các đồng minh. Mâu thuẫn nội bộ
trong khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn Trung-Xô, làm cho khối đoàn kết từng là
sức mạnh chính trị của hệ thống y bị chia rẽ sâu sắc. Đối với Việt Nam, sự suy yếu của
các đồng minh truyền thống không chỉ làm giảm viện trợ còn làm mất đi sự hậu thuẫn
quan trọng về mặt chính trị ngoại giao trên trường quốc tế, buộc Việt Nam phải tự tìm
cách vượt qua khó khăn.
khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn. Cuộc xung
đột biên giới với Trung Quốc năm 1979 cùng với việc tham gia giải quyết vấn đề
Campuchia đã khiến Việt Nam phải huy động nguồn lực đáng kể cho quốc phòng. Điều này
không chỉ tạo thêm gánh nặng kinh tế còn làm gia tăng tình trạng lập về ngoại giao.
Các nước trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dần hình thành một khối đối
trọng với Việt Nam, gây áp lực lớn cả về chính trị lẫn kinh tế. Tình trạng bị bao vây
lập trong khu vực buộc Việt Nam phải tìm kiếm những chiến lược mới để giảm bớt sự phụ
thuộc vào viện trợ từ các đồng minh truyền thống và cải thiện quan hệ quốc tế.
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 4/7
Trong khi đó, trên thế giới, nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước châu Á như Hàn Quốc,
Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, đã đạt được những bước tiến vượt bậc nhờ cải cách
kinh tế chính sách hội nhập quốc tế. Trung Quốc, với chính sách "Cải cách mở cửa"
từ năm 1978, đã đạt được thành tựu kinh tế to lớn, trở thành một hình mẫu quan trọng về
cách thức đổi mới để thích nghi với bối cảnh toàn cầu hóa. Sự thành công của các nước này
đặt ra một bài học quý giá cho Việt Nam về việc cần phải thay đổi cách tiếp cận trong quản
phát triển kinh tế. Đối mặt với sức ép từ cả bên trong lẫn bên ngoài, Đảng Cộng sản
Việt Nam nhận thấy yêu cầu cấp bách phải đổi mới để không bị tụt hậu trong bối cảnh quốc
tế đang thay đổi nhanh chóng.
Những yếu tố nêu trên này không chỉ tạo áp lực còn động lực để Việt Nam thực
hiện đường lối đổi mới toàn diện, được khởi xướng tại Đại hội VI (1986), nhằm đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập với thế giới.
b. Tại sao Đảng xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm?
Trước năm 1986, Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng với tình
trạng sản xuất đình trệ, lạm phát cao, đời sống nhân dân nghèo khó, nguồn lực quốc gia
gần như cạn kiệt. Nguyên nhân chính đến từ hình kinh tế tập trung, quản bao cấp,
vốn dựa trên kế hoạch hóa tập trung, đã bộc lộ nhiều hạn chế, làm giảm năng suất lao động
kìm hãm sự sáng tạo. Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp bách đặt ra phải tiến hành thay
đổi mạnh mẽ để thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện nền kinh tế đưa đất nước bước vào
con đường phát triển bền vững.
Trong bối cảnh thế giới sau Chiến tranh Lạnh, hầu hết các quốc gia đều nhận thức
rằng việc phát triển kinh tế là yếu tố then chốt để xây dựng sức mạnh thực sự cho quốc gia.
Kinh tế không chỉ là nền tảng đảm bảo sự tồn tại mà còn là động lực chính cho sự phát triển
của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế vững mạnh tạo sở để cải thiện đời sống nhân dân,
củng cố ổn định chính trị nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Ngược lại, nếu
kinh tế yếu kém, các vấn đề về xã hội, chính trị và an ninh có nguy cơ bị bất ổn và dễ bị tổn
thương trước những biến động từ bên ngoài. Nhận thức này đã thúc đẩy các nước tập trung
vào cải cách và xây dựnghình phát triển kinh tế phù hợp với bối cảnh mới của thế giới.
Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế trong việc xây dựng đất nước:
"Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không con đường nào khác ngoài con đường
cách mạng sản." Kinh tế không chỉ mục tiêu còn phương tiện để đạt được công
bằng, dân chủ và văn minh.
Trong quá trình tìm kiếm hình phát triển phù hợp, Việt Nam đã rút ra được những
bài học quý giá từ các quốc gia đi trước, đặc biệt Liên Trung Quốc. Liên Xô,
quá trình đổi mới diễn đàn thành tâm điểm được đặt vào lĩnh vực chính trị, khi đó các vấn
đề kinh tế không được quan tâm đúng đắn. Hệ quả nền kinh tế triển lãm, dẫn đến sự bất
mãn trong hội cuối cùng sự lắng đọng của nhà nước Viết. Ngược lại, Trung
Quốc lại tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện nhưng đặt trọng tâm vào lĩnh vực kinh tế.
Trung Quốc đã đạt được những thành công lớn, cả về kinh tế giữa thế giới quốc tế, trở
thành một bài học thực tiễn quan trọng cho các quốc gia đang phát triển.
Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rằng đổi mới kinh tế yếu tố quan
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 5/7
trọng, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình cải cách phát triển đất nước. Việc lấy kinh tế
làm trung tâm không chỉ thúc đẩy quá trình khởi động kinh tế-xã hội còn tạo nền tảng
vững chắc để đổi mới toàn diện các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, hội. Nhờ sự
định hướng này, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng sau đổi mới, tạo tiền đề
cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 2: Anh (chị) hãy làm hoàn cảnh Việt Nam cuối TK XIX đầu TK XX. Hoàn
cảnh đó đặt ra yêu cầu gì đối với cách mạng Việt Nam.
a. Hoàn cảnh Việt Nam cuối TK XIX đầu TK XX:
quốc gia Đông Nam Á nằm vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam
trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua
với nhiều đế quốc khác. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà
Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam
(dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng.
Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp
ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6-6-1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) đã đầu hàng
hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, T
quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”
Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn
không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của
nhân dân. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước
của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa,
bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai. Pháp thực hiện chính
sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc
kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông
Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise) được thành lập ngày 17-10- 1887 theo sắc lệnh
của Tổng thống Pháp. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa:
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-
1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng Đông Dương nói
chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vét tài
nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa
nặng nề. Chế độ cai trị, bóc lột khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam
“chế độ độc tài chuyên chế nhất, cùng khả khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên
chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”. Năm 1862, Pháp đã lập nhà Côn Đảo để
giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.
Về văn hóa-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà
nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn
hội vốn của chế độ phong kiến tạo nên nhiều tệ nạn hội mới, dùng rượu cồn
thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tưởng “khai hóa
văn minh” của nước “Đại Pháp”…
Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã
làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, hội Việt Nam. Các giai cấp phân hóa, giai
cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau do đó cũng thái độ chính trị
khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ nông dân hai giai cấp bản trong
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 6/7
hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa.
Một bộ phận địa chủ câu kết với thực dân Pháp làm tay sai đắc lực cho Pháp trong
việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; Một bộ phận khác nêu cao tinh
thần dân tộc khởi xướng lãnh đạo các phong trào chống Pháp bảo vệ chế độ phong
kiến, tiêu biểu phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân
chống thực dân Pháp phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh
theo lối tư bản.
Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng thời
một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai
cấp vốn với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn
mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ
gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với
tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”. Đây lực
lượng hùng hậu, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân
tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai
cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.
Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa,
với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền... Ngoài
những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc
điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân
từ nông dân, cấu chủ yếu công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé,
nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự
phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.
Giai cấp sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân. Một bộ phận gắn
liền lợi ích với bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực
dân Pháp, trở thành tầng lớp sản mại bản. Một bộ phận giai cấp sản dân tộc, họ bị
thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy, phần lớnsản dân
tộc Việt Nam tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không khả năng tập hợp các giai
tầng để tiến hành cách mạng.
Tầng lớp tiểu sản (tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên,...) bị đế quốc, bản chèn ép,
khinh miệt, do đó tinh thần dân tộc, yêu nước rất nhạy cảm về chính trị thời cuộc.
Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao động, thiếu kiên định, do đó tầng lớp
tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng.
Các sĩ phu phong kiến cũng có sự phân hóa. Một bộ phận hướng sang tư tưởng dân chủ
sản hoặc tưởng sản. Một số người khởi xướng các phong trào yêu nước ảnh
hưởng lớn.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng cả về chính
trị, kinh tế, hội. Chính sách cai trị khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân
hóa những giai cấp vốn của chế độ phong kiến (địa chủ, nông dân) đồng thời tạo nên
những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, sản dân tộc, tiểu sản) với thái độ khác nhau.
Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện. Trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu
nhất và ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, những luồng tưởng bên ngoài: tưởng Cách mạng sản
Pháp 1789, phong trào Duy tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy tân tại Trung
Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 7/7
Quốc năm 1898, Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm 1911..., đặc biệt Cách mạng
tháng Mười Nga năm 1917 đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển biến phong trào yêu nước
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Năm 1919, trên chiến hạm của Pháp Hắc
Hải (Biển Đen), Tôn Đức Thắng tham gia đấu tranh chống việc can thiệp vào nước Nga Xô
viết. Năm 1923, luật Phan Văn Trường từ Pháp về nước ông công bố tác phẩm của
C.Mác Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto of the Communist
Party) trên báo La Cloche Fêlée, từ số ra ngày 29-3 đến 20-4-1926, tại Sài Gòn, góp phần
tuyên truyền tư tưởng vô sản ở Việt Nam.
b. Yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam:
Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đã trở thành địa chỉ của thực dân Pháp sau triều đình nhà
Nguyễn các Hiệp ước hiệp quyền như Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) Hiệp ước
Patenôtre (1884). Chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, vốn trụ cột bảo vệ độc lập dân
tộc, suy yếu trở thành công cụ phục tùng sự thống trị của Pháp. Điều này dẫn đến mất
quyền tự chủ quốc gia, mất độc lập dân tộc, và nhân dân Việt Nam phải sống trong cảnh áp
bức, bóc lột nặng nề. Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra phải tìm cách giành lại
độc lập, tự do cho đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), tập
trung bóc lột tài nguyên và lao động để phục vụ cho lợi ích của nước mẹ. Sự bóc lột này đã
dẫn đến thay đổi trong cấu trúc kinh tế - hội. Nông nghiệp lạc hậu, bị bóp nghẹt bởi
chính sách ruộng đất bất công, khiến nông dân rơi vào cảnh bần cùng hóa. Sự hình thành
các tầng lớp mới như công nhân, tiểu sản sản dân tộc tạo ra sở hội mới cho
phong trào cách mạng. Sự bất mãn của nhân dân đối triều đình ngày càng tăng. Trước thực
trạng đó, yêu cầu đặt ra phải cải thiện đời sống nhân dân lao động, đồng thời tổ chức,
lãnh đạo các tầng lớp mới trong xã hội để tham gia vào cuộc đấu tranh chung.
Thế giới lúc này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng, đặc
biệt phong trào dân chủ sản châu Âu, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 sự
hình thành quốc tế cộng sản, Cách mạng Tân Hợi (1911) Trung Quốc phong trào độc
lập Ấn Độ, cùng với sự lan tỏa của tưởng dân chủ sản, đã quy định tinh thần yêu
nước của các bác Việt Nam. Những tưởng tiến bộ bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam
thông qua các nhà tư tưởng yêu nước, đặc biệt là các sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh. Điều này đặt ra yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam là cần tiếp thu, lựa chọn và vận
dụng những xu hướng tưởng mới để định hướng con đường đấu tranh cho phù hợp với
bối cảnh dân tộc.
Tuy nhiên, các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX như khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám hay phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX đều
thất bại. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, chưa đáp ứng
được yêu cầu của thời đại. Từ thực tế đó, bài học rút racách mạng Việt Nam cần phải có
một tổ chức chính trị mới với tầm nhìn chiến lược ràng, mang tính khoa học phù hợp
với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tổ chức đó phải khả năng tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp
nhân dân, định hướng cách mạng theo con đường đúng đắn để đáp ứng xu thế phát triển của
thời đại. Chỉ như vậy, cách mạng Việt Nam mới thể vượt qua thất bại giành được
thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
---Hết---

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2022 – 2023
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Số báo danh: 56 Nam
Mã số SV/HV: 22D100165 Mã số đề thi: 13 Lớp: 241HCMI01111-03 Ngày thi: 28/12/20
24 Tổng số trang: 07
Họ và tên: Cao Thùy Linh Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào
Câu 1: Anh (chị) hãy làm rõ nguyên nhân Đảng phải đề ra đường cột này)
lối đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986? Tại sao Đảng ta phải
xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
Điểm từng câu, diểm thưởng
a. Nguyên nhân Đảng phải đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất (nếu có) và điểm
nước vào năm 1986. toàn bài
Tình hình trong nước: GV chấm 1: Câu1: ………
Những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, sau khi
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước rất điểm Câu2:
nhiều thách thức chưa từng có. Chiến tranh biên giới Tây Nam và phía ……… điểm
Bắc chưa kết thúc cuộc bao vây cấm vận của Mỹ là một thách thức ………………….
khắc nghiệt, càng đẩy nền kinh tế nước ta vào tình thế vô cùng khó …………………. khăn. Cộng …… điểm
Nông nghiệp, vẫn còn mang tính lạc hậu và phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện tự nhiên, không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho cả GV chấm 2:
nước, tình trạng thiếu lương thực thường xuyên diễn ra trở thành một Câu1: ………
vấn đề nghiêm trọng. Đầu thập niên 1980, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi,
đặc biệt là ở miền Bắc và miền Trung. Trong bối cảnh các nguồn lực điểm Câu2:
sản xuất như máy móc, phân bón, thủy lợi và giống cây trồng đều ……… điểm
khan hiếm khiến cho năng suất lúa gạo và cây trồng thấp. Việc áp ………………….
dụng mô hình hợp tác hóa nông nghiệp triển khai trên toàn quốc (đặc ………………….
biệt ở miền Nam) với mục tiêu đưa nông dân vào hợp tác xã, tuy
nhiên, mô hình này chưa phù hợp với điều kiện thực tế, gây ra sự bất Cộng …… điểm Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 1/7
mãn trong người dân. Người nông dân không còn quyền sở hữu ruộng đất và sản phẩm, dẫn
đến tình trạng làm việc cầm chừng và bên cạnh đó nhiều vùng đất nông nghiệp bị tàn phá
do bom mìn, chất độc hóa học từ chiến tranh, cùng với thiên tai thường xuyên xảy ra (bão lụt, hạn hán).
Ngành công nghiệp cũng đối mặt với nhiều khó khăn, hạ tầng công nghiệp chịu hậu
quả nặng nề từ chiến tranh, với nhiều nhà máy, xí nghiệp và cơ sở sản xuất bị tàn phá
không đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Các doanh nghiệp nhà nước lại hoạt động kém hiệu
quả, thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, và năng lực quản
lý yếu. Ngoài ra, ngành công nghiệp còn gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn nguyên liệu
và năng lượng. Nhiều cơ sở sản xuất phải đình trệ hoặc chỉ hoạt động cầm chừng do thiếu
nguyên liệu đầu vào, phụ tùng thay thế, cũng như nhiên liệu. Thường xuyên xảy ra tình
trạng mất điện kéo dài, làm gián đoạn quá trình sản xuất và giảm năng suất lao động. Đồng
thời, mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế. Sự rập khuôn, cứng
nhắc trong quản lý kinh tế dẫn đến lãng phí tài nguyên, tham nhũng và kém hiệu quả trong
hoạt động sản xuất. Cơ chế này không khuyến khích sự sáng tạo hay tính tự chủ trong sản
xuất, khiến ngành công nghiệp rơi vào trạng thái trì trệ.
Các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế và vận tải đều kém phát triển, không đủ khả
năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, cơ sở vật chất thiếu thốn,
đội ngũ giáo viên không đủ và chất lượng đào tạo hạn chế, khiến cho hệ thống giáo dục
không thể phổ cập hoặc nâng cao chất lượng học tập. Dịch vụ y tế chịu nhiều ảnh hưởng từ
hậu quả chiến tranh, với cơ sở y tế thiếu hụt nghiêm trọng về trang thiết bị, thuốc men và
nhân lực, đặc biệt tại các vùng nông thôn. Hạ tầng giao thông bị tàn phá nặng nề sau chiến
tranh, với nhiều tuyến đường bộ, đường sắt và cầu cống bị hư hỏng hoặc xuống cấp nghiêm
trọng. Điều này làm ảnh hưởng lớn đến việc vận chuyển hàng hóa và hành khách, làm giảm hiệu quả kinh tế.
Về thương mại, Nhà nước quản lý gần như toàn bộ các hoạt động mua bán và phân
phối hàng hóa. Tình trạng thiếu hàng hóa xảy ra thường xuyên, từ lương thực, thực phẩm
cho đến quần áo, vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Việt Nam đối mặt với sự cô lập kinh tế từ
thế giới, đặc biệt là lệnh cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây. Giao thương quốc tế
của Việt Nam chủ yếu dựa vào viện trợ kinh tế và trao đổi hàng hóa với các nước xã hội
chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Âu, và một số quốc gia đồng minh khác. Sản phẩm xuất
khẩu của Việt Nam chủ yếu là nông sản, lâm sản và một số sản phẩm công nghiệp nhẹ với
giá trị thấp, trong khi các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như máy móc, nhiên liệu và phân
bón luôn trong tình trạng khan hiếm.
Cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm đã để lại những hậu quả vô cùng nặng nề, tàn phá
sâu sắc nền kinh tế và xã hội của Việt Nam. Các hệ thống giao thông như đường bộ, đường
sắt, và cầu cống bị phá hủy nặng nề, làm gián đoạn. Nhiều nhà máy, xí nghiệp, trường học,
bệnh viện và các cơ sở sản xuất cũng bị bom đạn phá hoại hoặc hư hỏng nặng. Bên cạnh
đó, tài nguyên thiên nhiên cũng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều vùng đất bị ô nhiễm
do bom mìn chưa nổ và chất độc hóa học, đặc biệt là chất độc da cam, gây ra hậu quả lâu
dài cho môi trường và sức khỏe con người. Đất đai bị xói mòn, bạc màu, và tài nguyên
rừng, khoáng sản bị khai thác cạn kiệt trong thời gian chiến tranh. Nguồn nhân lực của đất Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 2/7
nước cũng chịu tổn thất nặng nề. Hàng triệu người đã hy sinh trong chiến tranh, trong khi
hàng trăm nghìn người bị thương tật vĩnh viễn hoặc mất khả năng lao động, làm suy giảm
nghiêm trọng lực lượng lao động. Những tổn thất nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, tài nguyên
và nhân lực không chỉ làm suy giảm năng lực kinh tế mà còn kéo theo những vấn đề xã hội
phức tạp, đặt ra thách thức to lớn cho công cuộc tái thiết và phát triển đất nước sau chiến tranh
Tình hình quốc tế:
Trong giai đoạn 1976-1986, tình hình quốc tế vẫn bị chi phối mạnh mẽ bởi Chiến tranh
Lạnh giữa hai khối Đông và Tây, với sự đối đầu gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô. Đây là thời
kỳ mà cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là trong lĩnh vực hạt nhân, đạt đến đỉnh điểm, tạo ra
một bầu không khí căng thẳng và thiếu ổn định trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia trên thế
giới buộc phải lựa chọn giữa hai khối, dẫn đến sự phân cực sâu sắc. Các nước thuộc phe xã
hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, phải đối mặt với áp lực lớn từ các biện pháp cấm vận
kinh tế và sự cô lập ngoại giao từ các nước phương Tây. Điều này không chỉ làm tăng thêm
khó khăn kinh tế mà còn làm trầm trọng thêm các vấn đề nội tại trong mô hình quản lý và
phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa.
Cuộc khủng hoảng năng lượng thập niên 1970, khởi đầu từ các biến động trong giá
dầu, đã kéo theo một giai đoạn suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Nền kinh tế thế giới
phải đối mặt với lạm phát cao, thất nghiệp gia tăng và sự bất ổn trong các thị trường tài
chính. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, vốn đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mô
hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, cuộc khủng hoảng càng làm trầm trọng thêm tình
hình. Việt Nam, trong giai đoạn này, chịu ảnh hưởng nặng nề do sự phụ thuộc lớn vào viện
trợ từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Khi các nguồn viện trợ giảm sút, nền
kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ, sản xuất đình đốn, và đời sống người dân ngày càng khó khăn.
Bên cạnh áp lực từ bên ngoài, nội tại trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng gặp nhiều
thách thức nghiêm trọng. Liên Xô và các nước Đông Âu phải đối mặt với khủng hoảng
kinh tế kéo dài, dẫn đến sự suy giảm năng lực hỗ trợ các đồng minh. Mâu thuẫn nội bộ
trong khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn Trung-Xô, làm cho khối đoàn kết từng là
sức mạnh chính trị của hệ thống này bị chia rẽ sâu sắc. Đối với Việt Nam, sự suy yếu của
các đồng minh truyền thống không chỉ làm giảm viện trợ mà còn làm mất đi sự hậu thuẫn
quan trọng về mặt chính trị và ngoại giao trên trường quốc tế, buộc Việt Nam phải tự tìm cách vượt qua khó khăn.
Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn. Cuộc xung
đột biên giới với Trung Quốc năm 1979 cùng với việc tham gia giải quyết vấn đề
Campuchia đã khiến Việt Nam phải huy động nguồn lực đáng kể cho quốc phòng. Điều này
không chỉ tạo thêm gánh nặng kinh tế mà còn làm gia tăng tình trạng cô lập về ngoại giao.
Các nước trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dần hình thành một khối đối
trọng với Việt Nam, gây áp lực lớn cả về chính trị lẫn kinh tế. Tình trạng bị bao vây và cô
lập trong khu vực buộc Việt Nam phải tìm kiếm những chiến lược mới để giảm bớt sự phụ
thuộc vào viện trợ từ các đồng minh truyền thống và cải thiện quan hệ quốc tế. Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 3/7
Trong khi đó, trên thế giới, nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước châu Á như Hàn Quốc,
Đài Loan, Singapore, và Trung Quốc, đã đạt được những bước tiến vượt bậc nhờ cải cách
kinh tế và chính sách hội nhập quốc tế. Trung Quốc, với chính sách "Cải cách và mở cửa"
từ năm 1978, đã đạt được thành tựu kinh tế to lớn, trở thành một hình mẫu quan trọng về
cách thức đổi mới để thích nghi với bối cảnh toàn cầu hóa. Sự thành công của các nước này
đặt ra một bài học quý giá cho Việt Nam về việc cần phải thay đổi cách tiếp cận trong quản
lý và phát triển kinh tế. Đối mặt với sức ép từ cả bên trong lẫn bên ngoài, Đảng Cộng sản
Việt Nam nhận thấy yêu cầu cấp bách phải đổi mới để không bị tụt hậu trong bối cảnh quốc
tế đang thay đổi nhanh chóng.
Những yếu tố nêu trên này không chỉ tạo áp lực mà còn là động lực để Việt Nam thực
hiện đường lối đổi mới toàn diện, được khởi xướng tại Đại hội VI (1986), nhằm đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập với thế giới.
b. Tại sao Đảng xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm?
Trước năm 1986, Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng với tình
trạng sản xuất đình trệ, lạm phát cao, đời sống nhân dân nghèo khó, và nguồn lực quốc gia
gần như cạn kiệt. Nguyên nhân chính đến từ mô hình kinh tế tập trung, quản lý bao cấp,
vốn dựa trên kế hoạch hóa tập trung, đã bộc lộ nhiều hạn chế, làm giảm năng suất lao động
và kìm hãm sự sáng tạo. Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải tiến hành thay
đổi mạnh mẽ để thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện nền kinh tế và đưa đất nước bước vào
con đường phát triển bền vững.
Trong bối cảnh thế giới sau Chiến tranh Lạnh, hầu hết các quốc gia đều nhận thức rõ
rằng việc phát triển kinh tế là yếu tố then chốt để xây dựng sức mạnh thực sự cho quốc gia.
Kinh tế không chỉ là nền tảng đảm bảo sự tồn tại mà còn là động lực chính cho sự phát triển
của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế vững mạnh tạo cơ sở để cải thiện đời sống nhân dân,
củng cố ổn định chính trị và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Ngược lại, nếu
kinh tế yếu kém, các vấn đề về xã hội, chính trị và an ninh có nguy cơ bị bất ổn và dễ bị tổn
thương trước những biến động từ bên ngoài. Nhận thức này đã thúc đẩy các nước tập trung
vào cải cách và xây dựng mô hình phát triển kinh tế phù hợp với bối cảnh mới của thế giới.
Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế trong việc xây dựng đất nước:
"Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường
cách mạng vô sản." Kinh tế không chỉ là mục tiêu mà còn là phương tiện để đạt được công
bằng, dân chủ và văn minh.
Trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển phù hợp, Việt Nam đã rút ra được những
bài học quý giá từ các quốc gia đi trước, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Ở Liên Xô,
quá trình đổi mới diễn đàn thành tâm điểm được đặt vào lĩnh vực chính trị, khi đó các vấn
đề kinh tế không được quan tâm đúng đắn. Hệ quả là nền kinh tế triển lãm, dẫn đến sự bất
mãn trong xã hội và cuối cùng là sự lắng đọng của nhà nước Xô Viết. Ngược lại, Trung
Quốc lại tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện nhưng đặt trọng tâm vào lĩnh vực kinh tế.
Trung Quốc đã đạt được những thành công lớn, cả về kinh tế giữa thế giới quốc tế, trở
thành một bài học thực tiễn quan trọng cho các quốc gia đang phát triển.
Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ rằng đổi mới kinh tế là yếu tố quan Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 4/7
trọng, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình cải cách và phát triển đất nước. Việc lấy kinh tế
làm trung tâm không chỉ thúc đẩy quá trình khởi động kinh tế-xã hội mà còn tạo nền tảng
vững chắc để đổi mới toàn diện các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội. Nhờ sự
định hướng này, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng sau đổi mới, tạo tiền đề
cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 2: Anh (chị) hãy làm rõ hoàn cảnh Việt Nam cuối TK XIX đầu TK XX. Hoàn
cảnh đó đặt ra yêu cầu gì đối với cách mạng Việt Nam.

a. Hoàn cảnh Việt Nam cuối TK XIX đầu TK XX:
Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam
trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua
với nhiều đế quốc khác. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà
Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam
(dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng.
Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp
ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6-6-1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) đã đầu hàng
hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ
quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”
Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn
không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của
nhân dân. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước
của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa,
bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai. Pháp thực hiện chính
sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc
kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông
Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise) được thành lập ngày 17-10- 1887 theo sắc lệnh
của Tổng thống Pháp. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa:
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-
1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói
chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài
nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa
nặng nề. Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là
“chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vô cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên
chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”. Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để
giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.
Về văn hóa-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà
tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn xã
hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và
thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hóa
văn minh” của nước “Đại Pháp”…
Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã
làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp cũ phân hóa, giai
cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị
khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong xã Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 5/7
hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa.
Một bộ phận địa chủ câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong
việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; Một bộ phận khác nêu cao tinh
thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong
kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân
chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản.
Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng thời
là một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai
cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn có
mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ
gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với
tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”. Đây là lực
lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân
tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai
cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.
Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa,
với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền... Ngoài
những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc
điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân
từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé,
nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự
phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân. Một bộ phận gắn
liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực
dân Pháp, trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc, họ bị
thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy, phần lớn tư sản dân
tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không có khả năng tập hợp các giai
tầng để tiến hành cách mạng.
Tầng lớp tiểu tư sản (tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên,...) bị đế quốc, tư bản chèn ép,
khinh miệt, do đó có tinh thần dân tộc, yêu nước và rất nhạy cảm về chính trị và thời cuộc.
Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao động, thiếu kiên định, do đó tầng lớp
tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng.
Các sĩ phu phong kiến cũng có sự phân hóa. Một bộ phận hướng sang tư tưởng dân chủ
tư sản hoặc tư tưởng vô sản. Một số người khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng cả về chính
trị, kinh tế, xã hội. Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân
hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa chủ, nông dân) đồng thời tạo nên
những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ khác nhau.
Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện. Trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu
nhất và ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, những luồng tư tưởng ở bên ngoài: tư tưởng Cách mạng tư sản
Pháp 1789, phong trào Duy tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy tân tại Trung Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 6/7
Quốc năm 1898, Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm 1911..., đặc biệt là Cách mạng
tháng Mười Nga năm 1917 đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển biến phong trào yêu nước
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Năm 1919, trên chiến hạm của Pháp ở Hắc
Hải (Biển Đen), Tôn Đức Thắng tham gia đấu tranh chống việc can thiệp vào nước Nga Xô
viết. Năm 1923, luật sư Phan Văn Trường từ Pháp về nước và ông công bố tác phẩm của
C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto of the Communist
Party) trên báo La Cloche Fêlée, từ số ra ngày 29-3 đến 20-4-1926, tại Sài Gòn, góp phần
tuyên truyền tư tưởng vô sản ở Việt Nam.
b. Yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam:
Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đã trở thành địa chỉ của thực dân Pháp sau triều đình nhà
Nguyễn ký các Hiệp ước hiệp quyền như Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Hiệp ước
Patenôtre (1884). Chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, vốn là trụ cột bảo vệ độc lập dân
tộc, suy yếu và trở thành công cụ phục tùng sự thống trị của Pháp. Điều này dẫn đến mất
quyền tự chủ quốc gia, mất độc lập dân tộc, và nhân dân Việt Nam phải sống trong cảnh áp
bức, bóc lột nặng nề. Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tìm cách giành lại
độc lập, tự do cho đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), tập
trung bóc lột tài nguyên và lao động để phục vụ cho lợi ích của nước mẹ. Sự bóc lột này đã
dẫn đến thay đổi trong cấu trúc kinh tế - xã hội. Nông nghiệp lạc hậu, bị bóp nghẹt bởi
chính sách ruộng đất bất công, khiến nông dân rơi vào cảnh bần cùng hóa. Sự hình thành
các tầng lớp mới như công nhân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc tạo ra cơ sở xã hội mới cho
phong trào cách mạng. Sự bất mãn của nhân dân đối triều đình ngày càng tăng. Trước thực
trạng đó, yêu cầu đặt ra là phải cải thiện đời sống nhân dân lao động, đồng thời tổ chức,
lãnh đạo các tầng lớp mới trong xã hội để tham gia vào cuộc đấu tranh chung.
Thế giới lúc này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng, đặc
biệt là phong trào dân chủ tư sản ở châu Âu, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sự
hình thành quốc tế cộng sản, Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và phong trào độc
lập ở Ấn Độ, cùng với sự lan tỏa của tư tưởng dân chủ tư sản, đã quy định tinh thần yêu
nước của các bác sĩ Việt Nam. Những tư tưởng tiến bộ bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam
thông qua các nhà tư tưởng yêu nước, đặc biệt là các sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh. Điều này đặt ra yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam là cần tiếp thu, lựa chọn và vận
dụng những xu hướng tư tưởng mới để định hướng con đường đấu tranh cho phù hợp với bối cảnh dân tộc.
Tuy nhiên, các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX như khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám hay phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX đều
thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, chưa đáp ứng
được yêu cầu của thời đại. Từ thực tế đó, bài học rút ra là cách mạng Việt Nam cần phải có
một tổ chức chính trị mới với tầm nhìn chiến lược rõ ràng, mang tính khoa học và phù hợp
với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tổ chức đó phải có khả năng tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp
nhân dân, định hướng cách mạng theo con đường đúng đắn để đáp ứng xu thế phát triển của
thời đại. Chỉ như vậy, cách mạng Việt Nam mới có thể vượt qua thất bại và giành được
thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. ---Hết--- Họ tên SV: Cao Thùy Linh - Mã LHP: 241HCMI0111-03 Trang 7/7