Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2023– 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Số báo danh: 78. Nam. Mã số SV/HV: 21D170269. Mã số đề thi: 14. Lớp: 231_HCM10131_09
Ngày thi: 16/12. Tổng số trang: ………
Họ và tên: Dương Hà Quang Phúc. Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào Câu 1: cột này)
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, về cả khoa học,
chính trị, kinh tế, xã hội thì đều chú trọng đến phát triển văn hóa, con Điểm từng câu, diểm thưởng
người, các vấn đề mang tính toàn cầu khác. Tất cả đều tập trung vào phát (nếu có) và điểm
triển con người bền vững. Thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, toàn bài
hiện đại hóa, chúng ta lấy con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển
nhanh, bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện đời sống nhân dân, GV chấm 1:
phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu Câu 1: ……… điểm
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sự phát triển của con người thì con người Câu 2: ……… điểm
phải được coi là trung tâm của mọi thứ. Vì vậy Đảng ta cũng đưa ra quan ………………….
điểm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới, Đảng ………………….
xác định con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Cộng …… điểm
Con người giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát
triển của lịch sử xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng yếu tố GV chấm 2:
con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã Câu 1: ……… điểm
hội. Phát triển nhanh và bền vững được hiểu là sự phát triển đáp ứng nhu Câu 2: ……… điểm
cầu hiện tại mà không ảnh hưởng tổn hại đến nhu cầu tương lai. Phát triển ………………….
bền vững là một sự phát triển cân đối giữa ba cực tăng trưởng kinh tế, xã
hội, môi trường. Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã ………………….
được Đảng nhận thức sớm và được thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị Cộng …… điểm
quyết của Đảng. Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về
chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội,... tạo
Họ tên SV/HV: Dương Hà Quang Phúc. - Mã LHP: 231_HCM10131_09. Trang 1/5.
nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con
người. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế,
trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý và đội ngũ công nhân
lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, con người vừa là mục tiêu vừa là động
lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong quá trình phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phương tiện, phương thức để
đạt đến mục tiêu cao cả, đó là vì cuộc sống hạnh phúc ngày càng tốt đẹp của con người, vì
sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ không
thể thành công nếu thiếu vai trò động lực của con người. Chính con người với tri thức, trí
tuệ, có khả năng hoạch định chiến lược, đề ra mục tiêu, lựa chọn phương thức tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình. Con người
còn sáng tạo ra những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại và ứng dụng chúng vào quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất vật chất, quản lý kinh tế, xã hội. Trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa những giải pháp do con người đề ra cho phép điều chỉnh và
giải quyết các mâu thuẫn phát sinh, cũng như dự báo những nguy cơ, hậu quả có thể xảy ra
và khuynh hướng phát triển trong tương lai để từ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa tiến lên. Phát triển nguồn nhân lực con người phải nhằm tạo mọi điều kiện
thuận lợi để con người được thụ hưởng những thành quả của mỗi bước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nghĩa là con người có được đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao, môi
trường và điều kiện làm việc thuận lợi, có điều kiện học tập, lao động sáng tạo và cống hiến
tài năng cho sự phát triển của xã hội và hạnh phúc của con người. Thứ hai, con người vừa là
chủ thể vừa là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Con người là lực lượng
duy nhất có khả năng phát hiện, xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, bước đi và những
giải pháp thích hợp để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ thực tiễn của các nước đi
trước cũng như ở nước ta đã cho thấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra với
tốc độ nhanh hay chậm, đạt hiệu quả cao hay thấp là do sự quy định của nhiều yếu tố, trong
đó, trước hết và chủ yếu tuỳ thuộc vào năng lực của con người, vào chất lượng của nguồn
nhân lực con người. Vì vậy, phát triển nguồn lực con người trở thành yếu tố quan trọng nhất
có tính chất quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay. Thứ ba phát triển nguồn lực con người là vấn đề chiến lược hàng đầu của
Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đất nước. Sức mạnh của Việt Nam
là con người, do đó khâu then chốt là phải biết phát huy trí tuệ con người. Chính tài năng trí
tuệ, sự thông minh và sức sáng tạo to lớn của con người Việt Nam đã làm nên những thắng
lợi vẻ vang trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ngày nay là trong sự nghiệp đổi
mới. Vì vậy, ngay khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng
đặc biệt của nhân tố con người và xác định: “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế-xã hội”. Ngày nay, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi vào
Họ tên SV/HV: Dương Hà Quang Phúc. - Mã LHP: 231_HCM10131_09. Trang 2/5.
kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam càng phải đi lên chủ yếu bằng con
đường phát triển nguồn lực con người, bằng trí tuệ của con người Việt Nam.
Việt Nam hiện nay là một đất nước đông dân với hơn 98 triệu người (năm 2021), dân số
Việt Nam đứng 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Từ
đó cho thấy nguồn nhân lực của nước ta rất lớn, dồi dào. Nguồn nhân lực được xem là yếu
tố quyết định hàng đầu đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Tuy
nhiên, trước tình hình phát triển nhanh chóng và sự thay đổi liên tục của nền kinh tế, nguồn
nhân lực Việt Nam hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nào đó yêu cầu cho công cuộc
công nghiệp hóa. Có thể thấy những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước vẫn còn khá nhiều hạn chế. Thứ nhất, dù chất
lượng đào tạo đã có nhiều tiến bộ nhưng hiện nay phần lớn sinh viên ra trường vẫn thiếu các
kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm cần thiết để làm việc hiệu quả. Bên cạnh đó, cơ cấu đào
tạo nhân lực cũng chưa thực sự hợp lý. Điều này dẫn đến tình trạng thừa cung một số nghề,
trong khi lại thiếu hụt các nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và công nghệ cao. Đây là một vấn
đề cấp thiết cần sớm được khắc phục. Bên cạnh những yếu tố ở khâu đào tạo, một vấn đề
quan trọng khác là chính sách sử dụng và đãi ngộ chưa đủ tốt để thu hút và giữ chân nguồn
nhân lực chất lượng cao trong nước. Điều này dẫn tới tình trạng nhiều nhân tài, chuyên gia
giỏi bỏ sang nước ngoài làm việc do thiếu cơ hội và thiếu động lực. Các điều kiện về môi
trường làm việc, hạ tầng kỹ thuật và đời sống ở trong nước còn nhiều thiếu thốn cũng là rào
cản lớn. Như vậy, để đáp ứng được tốt hơn yêu cầu xã hội đối với nguồn nhân lực giai đoạn
tới, cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
nhân tài một cách hợp lý. Đây sẽ là yếu tố then chốt giúp quá trình công nghiệp hóa của Việt
Nam đạt kết quả tốt hơn trong thời gian tới. Câu 2:
Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được hội nghị
thống nhất các tổ chức cộng sản họp từ ngày 6/1/1930 đến 7/2/1930. Hội nghị thông qua
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và được gọi chung là
cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sau hội nghị thành lập Đảng, cương lĩnh và điều lệ
của Đảng được bí mật đưa vào quần chúng, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Từ
ngày 14 đến 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất quyết định
đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phú
được bầu làm tổng bí thư của Đảng. Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị của Đảng
Cộng sản Đông Dương. Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị của Đảng đều
là những văn kiện thể hiện đường lối cách mạng của Đảng, có những điểm giống nhau về
phương hướng chiến lược, nhiệm vụ và mục tiêu, tính chất của cách mạng... Tuy nhiên có
một điểm khác biệt được thể hiện qua hai văn kiện này đó là nhiệm vụ cách mạng chủ yếu mà chúng được đưa ra.
Họ tên SV/HV: Dương Hà Quang Phúc. - Mã LHP: 231_HCM10131_09. Trang 3/5.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
Việt Nam đó là chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản. Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn
phong kiến, Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. Cương lĩnh đã xác định: Chống đế
quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho
dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu.
Ngoài ra nhiệm vụ này cũng được thể hiện qua nhiều phương diện. Về chính trị: đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa thực dân Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn
độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông. Về kinh tế: thủ tiêu hết
các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng,...)
của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu
toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu
thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám
giờ. Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, phổ thông giáo
dục theo công nông hóa. Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận
dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa
chủ và phong kiến; làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở
dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản,
trí thức, trung nông, thanh niên,.. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông,
trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu
mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến
v.v) thì đánh đổ. Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Đến tháng 10/1930, Luận Cương Chính Trị thứ hai ra đời đã phát triển sâu hơn về con
đường cách mạng Việt Nam, cụ thể hóa nhiệm vụ xóa bỏ chế độ đế quốc, phong kiến và tư
sản, thiết lập chính quyền Xô viết cùng hướng đi xã hội chủ nghĩa cho cả nước. Luận cương
chính trị của Đảng (10/1930) đã xác định nhiệm vụ cách mạng là đấu tranh giai cấp, đánh
đuổi bọn phong kiến và đế quốc để nhân dân hoàn toàn tự do và chia ruộng đất cho dân cày.
Về phương hướng chiến lược của cách mạng, Luận cương nêu rõ tính chất của cách mạng
Đông Dương lúc đầu là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, “có tính chất thổ địa và
phản đế”. Sau đó sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con
đường xã hội chủ nghĩa”. Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải “tranh
đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tiền tư bổn và
để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho
Đông Dương hoàn toàn độc lập”. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với
nhau: “... có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được các giai cấp địa chủ và làm cách
mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc
Họ tên SV/HV: Dương Hà Quang Phúc. - Mã LHP: 231_HCM10131_09. Trang 4/5.
chủ nghĩa”. Luận cương nhấn mạnh: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân
quyền”, là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày. Giai cấp vô sản và nông dân là hai
động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính
và mạnh. Về lãnh đạo cách mạng, Luận cương khẳng định: “điều kiện cốt yếu cho sự thắng
lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chính trị
đúng có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”.
Việc xác định nhiệm vụ như vậy của Luận cương đã đáp ứng những yêu cầu khách quan
đồng thời giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản lúc bấy giờ là mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn
dân tộc ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên Luận cương chưa xác định được kẻ thù, nhiệm vụ
hang đầu ở một nước thuộc địa nửa phong kiến là đấu tranh dân tộc chứ không phải đấu
tranh giai cấp, mục tiêu là đem lại quyền lợi cho toàn bộ giai cấp trong xã hội chứ không chỉ
đem lại quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự khác biệt đó xuất phát từ cái nhìn,
tầm nhận thức của hai tác giả (Nguyễn Ái Quốc và Trần Phú) về đặc điểm tình hình xã hội
Việt Nam và Đông Dương lúc bấy giờ. Cụ thể, Trần Phú (người biên soạn Luận cương chính
trị tháng 10) do một thời gian dài sống và học tập ở Liên Xô nên chịu ảnh hưởng nhiều bởi
khuynh hướng “tả” của giai cấp vô sản đồng thời không hiểu rõ về đặc điểm xã hội Việt
Nam nên không nhận thức được mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giai cấp. Vì vậy Trần
Phú đã áp dụng một cách máy móc, giáo điều chủ nghĩa Mác Lê Nin vào Việt Nam dẫn đến
trong luận cương tháng 10/1930 đặt lợi ích giai cấp lên dân tộc nên không đề ra một chiến
lược đoàn kết dân tộc rộng rãi, không thu hút được đông đảo tầng lớp giai cấp khác cùng
chống chủ nghĩa đế quốc. Ngược lại, Nguyễn Ái Quốc hơn ai hết hiểu rất rõ về tình hình,
đặc điểm cách mạng Việt Nam, nhận thức rõ mâu thuẫn gay gắt nhất lúc này là mâu thuẫn
dân tộc. Do vậy tại Cương lĩnh tháng 2/1930 Nguyễn Ái Quốc đã đặt lợi ích dân tộc lên trên
lợi ích giai cấp và xác định nhiệm vụ cách mạng hàng đầu Việt Nam là chống đế quốc giành
độc lập dân tộc. Từ đó đề ra chiến lược đại đoàn kết dân tộc rộng rãi để có thể đoàn kết tất cả
các tầng lớp, giai cấp trong xã hội tham gia thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc.
Họ tên SV/HV: Dương Hà Quang Phúc. - Mã LHP: 231_HCM10131_09. Trang 5/5.