






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộn
g sản Việt Số báo danh: 47 Nam Mã số SV/HV: 21D180176 Mã số đề thi: 15 Lớp: 231_HCMI0131_14 Ngày thi: 16/12/2023 : 7 Tổng số trang
Họ và tên: Bùi Thị Ngọc Linh Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
SV/HV không được viết vào cột này)
Điểm từng câu, điểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm GV chấm 2: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm Bài làm Câu 1:
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 1/7
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (2011) của Đảng coi kinh tế
tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế
Trước sự phát triển khách quan của kinh tế tư nhân thời kỳ đổi mới, các văn kiện của Đảng đã
từng bước đề cập tới kinh tế tư nhân như là một trong các động lực phát triển đất nước, đồng thời
khẳng định quan điểm phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh
tế nhiều thành phần định hướng XHCN.
Phạm trù kinh tế tư nhân (KTTN) chính thức được sử dụng từ Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá VI), tháng 3-1989, trong đó có kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
(TBTN). Kinh tế cá thể, tiểu chủ và TBTN được coi là các hình thức của KTTN. Đến Đại hội lần
thứ VII của Đảng, kinh tế cá thể, tiểu chủ và TBTN được coi là hai thành phần kinh tế hợp thành
KTTN. Từ đó, thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ được sử dụng trong các Văn kiện của Đại hội
VIII, Đại hội IX. Và trong Văn kiện của Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khoá IX), Đảng ta đã khẳng định: "Hơn 10 năm qua, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước, được sự đồng tình, hưởng ứng tích cực của nhân dân, KTTN gồm kinh tế cá thể,
tiểu chủ và kinh tế TBTN hoạt động dưới hình thức kinh tế kinh doanh cá thể và các loại hình
doanh nghiệp của tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước và đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế"
Trong Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15/7/1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương
6 khóa VI, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy
mô, ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3/2002) tiếp tục xác định: Kinh tế tư nhân là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển Kinh tế tư nhân là vấn đề chiến
lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần
quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại
hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại Đại hội X (4/2006) của Đảng, kinh tế tư nhân chính thức được xác nhận là một thành phần
kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân và được xác
định rõ: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”.
Đại hội đã thông qua một quyết định rất quan trọng là cho phép đảng viên được làm kinh tế tư
nhân. Sau Đại hội X, kinh tế tư nhân đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã
hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Vì vậy, Đại hội XI (2011), vai trò kinh tế tư nhân được nâng tầm cao mới với việc đưa vào Nghị
quyết “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong
những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành,
lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật”. Có thể thấy đã có sự nhấn mạnh rõ
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 2/7
hơn, coi KTTN “một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đây là bước tiến quan trọng trong tư
duy, quan điểm của Đảng về vai trò của các khu vực kinh tế nhìn từ phương diện sở hữu.
Như vậy, quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển KTTN ngày càng hoàn thiện. Đảng và
Nhà nước ta đã nhận thức rõ về vị trí, vai trò của KTTN trong chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần. Đối với nước ta, phát triển KTTN là khởi động một bộ phận quan trọng có nhiều tiềm
năng, gia tăng quy mô và nội lực kinh tế của đất nước. Về chính trị, phát triển KTTN là thực
quyền làm chủ của nhân dân, huy động rộng rãi mọi nguồn lực vào phát triển. Từ vị trí mới,
KTTN sẽ là nội lực tạo thành một đối chứng năng động cùng với các khu vực kinh tế khác hợp
tác, cạnh tranh và phát triển.
Kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế là còn bởi những lý do sau:
Một là, vai trò của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng. Trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân là nhân tố không chỉ bảo đảm
cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn tham
gia vào giải quyết hàng loạt những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát
triển nguồn nhân lực,… Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 40
- 43% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các
nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đóng góp vào nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân cao, nhiều
sáng kiến, đổi mới và sự đột phá được xuất phát từ những doanh nghiệp tư nhân. Hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân cao hơn 1,2 lần so với mức bình quân của nền kinh
tế và hơn 1,9 lần so với khu vực nhà nước. Vai trò của kinh tế tư nhân càng trở nên quan trọng
hơn khi mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ba là, phát triển kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan còn xuất phát từ quy luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có tác dụng thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Thông qua việc phát triển kinh tế tư nhân, quyền làm chủ của nhân dân,
trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy, đó là cơ sở để mở rộng quyền làm chủ của
nhân dân về chính trị, văn hóa, xã hội.
Bốn là, trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả với những dự án lớn đang
bị thua lỗ thì vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được đánh giá tích cực hơn. Đầu tư tài
chính của nhiều doanh nghiệp nhà nước đạt hiệu quả thấp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh kém,
gây ra những hậu quả kinh tế lớn. Một số doanh nghiệp nhà nước chưa thực hiện được vai trò là
lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 3/7
Thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo cùng các chính sách khuyến khích phát
triển kinh tế tư nhân của Đảng, kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp
quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo
thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị, an sinh xã hội của đất nước.
Kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ. Tính trung bình trong giai đoạn 2010 - 2021, bình
quân mỗi năm có trên 100 nghìn DN được thành lập. Tương ứng với đó, số vốn đăng ký hằng
năm đạt trên 500 nghìn tỷ đồng. Kể từ năm 2017 đến nay, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà
nước của khu vực KTTN đã vượt khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Giai
đoạn 2010 - 2021, tuy tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên của khu vực tư nhân đã giảm dần từ
86,3% năm 2010 xuống còn 82,6% năm 2021, nhưng vẫn thu hút khoảng 85% lực lượng lao động
của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà
nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Các số liệu thống kê cho
thấy vai trò quan trọng, không thể thiếu của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43% GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP). Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh,
đạt hơn 110.000 doanh nghiệp mới (năm 2016). Thương hiệu của khu vực tư nhân đã không chỉ
được ghi nhận ở thị trường trong nước mà cả ở thị trường khu vực và quốc tế. Đã xuất hiện những
tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn cả về vốn và công nghệ cao.
Bên cạnh những thành tựu “rất quan trọng” về kinh tế, vị thế của kinh tế tư nhân ngày càng được
nâng cao trong đời sống chính trị, xã hội. Hiện nay, các văn bản pháp luật liên quan đến kinh tế
đều được Quốc hội, Chính phủ yêu cầu phải có ý kiến cộng đồng doanh nghiệp tư nhân thông qua
Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) trước khi ban hành.
Xét ở khía cạnh quốc phòng, sự phát triển của kinh tế tư nhân những năm qua đã trực tiếp hoặc
gián tiếp góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, ổn định môi trường chính trị - xã hội, tăng cường
các tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học - công nghệ của nền quốc
phòng toàn dân. Sự phát triển rộng khắp của kinh tế tư nhân, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, nơi biên giới, hải đảo đã trực tiếp góp phần hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân; từng
bước đáp ứng tốt nhu cầu thường xuyên và đột xuất của lực lượng vũ trang. Các chủ hộ kinh tế
cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư nhân trên mọi miền Tổ quốc đã tham gia thực hiện có hiệu
quả nhiều chính sách hậu phương quân đội, “đền ơn đáp nghĩa” các gia đình thương binh, liệt sỹ,
gia đình có công với cách mạng; hỗ trợ các hoạt động của dân quân, tự vệ... Điều đó chứng tỏ
tiềm lực, vai trò, giá trị đóng góp của kinh tế tư nhân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 4/7
là vô cùng to lớn. Và, quan điểm kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế”
được Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định là khách quan, khoa học, hợp lòng dân. Câu 2:
1. Nội dung Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời đã đứng trước những khó khăn, thách thức
tưởng chừng khó vượt qua của thù trong, giặc ngoài và những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội... mà chế độ thực dân, phong kiến để lại. Nước ta còn nằm trong vòng vây của chủ
nghĩa đế quốc và các chính quyền phản động trong khu vực. Nhân dân ta còn chưa nhận được sự
giúp đỡ trực tiếp của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới. Nền kinh tế
vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói năm 1945 làm 2 triệu người
chết, tiếp đó là lũ lụt, hạn hán kéo dài làm 50% ruộng đất bị bỏ hoang. Sản xuất nông nghiệp đình
đốn. Tài chính khô kiệt, kho bạc trống rỗng, Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản
Pháp. Trình độ văn hoá của nhân dân ta thấp kém, 90% số dân mù chữ. Ở miền Bắc, 20 vạn quân
Tưởng ồ ạt tràn qua biên giới, kéo theo là Việt Quốc, Việt Cách, chúng lập chính quyền phản
động ở một số nơi, cướp của giết người và chống phá chính quyền cách mạng. Ở miền Nam, quân
Anh với danh nghĩa đồng minh kéo vào nước ta tiếp tay cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước
ta lần thứ hai. “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc!”.
Trước tình hình đó, ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Dựa trên những nhận định về tình hình khách quan và chủ
quan, về tình hình của ta và địch, Chỉ thị chỉ rõ: Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là
cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành vì
nước chưa được hoàn toàn độc lập. Chỉ thị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc
này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Chỉ thị cũng đề ra
nhiệm vụ cần kíp của nhân dân Đông Dương đối với cách mạng thế giới là phải tranh đấu để thực
hiện triệt để hiến chương các nước liên hiệp, ủng hộ Liên Xô, xây dựng hoà bình thế giới, mở
rộng chế độ dân chủ ra các nước, giải phóng cho các dân tộc thuộc địa. Đối với cách mạng Việt
Nam, nhiệm vụ riêng, cần kíp là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài
trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Trong những nhiệm vụ đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Để củng cố chính quyền
cách mạng, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ “kháng chiến” và “kiến quốc”, Chỉ thị vạch ra những
biện pháp toàn diện và cơ bản để thực hiện.
+ Về nội chính: Một mặt xúc tiến việc đi đến thành lập Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức.
+ Về quân sự: Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng
chiến lâu dài; phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác đến triệt để.
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 5/7
+ Về ngoại giao: Nắm vững nguyên tắc thêm bạn, bớt thù, biểu dương thực lực; kiên trì chủ
trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”. Đối với Tưởng Giới
Thạch, vẫn chủ trương Hoa - Việt thân thiện, coi Hoa kiều như dân tối huệ quốc. Đối với Pháp,
thực hành độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế.
+ Về tuyên truyền: Kêu gọi đoàn kết, chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược. Phản đối chia rẽ
nhưng chống sự thống nhất vô nguyên tắc với thế lực phản quốc; chống mọi mưu mô phá hoại,
chia rẽ của phái Tờ-rốt-xki, Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng và nâng cao sự tin tưởng của quốc
dân vào thắng lợi cuối cùng, khêu gợi chí căm hờn chống thực dân Pháp nhưng tránh khuynh
hướng “vị chủng”. Chống thực dân Pháp xâm lược. Không công kích nhân dân Pháp, chỉ công
kích bọn thực dân Pháp xâm lược.
+ Về kinh tế và tài chính: Mở lại các nhà máy do Nhật bỏ; khai thác các mỏ, cho tư nhân được
góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy; khuyến khích các giới công thương mở hợp
tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết lại nước nhà. Thực hiện khuyến nông, sửa chữa đê
điều, lập quốc gia ngân hàng, phát hành giấy bạc, định lại ngạch thuế, lập ngân quỹ toàn quốc, các xứ, các tỉnh.
+ Về cứu tế: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi của các giới đồng bào, lập quỹ cứu tế, lập kho
thóc cứu tế, tổ chức “bữa cháo cầm hơi”… Động viên thanh niên nam, nữ tổ chức thành các đoàn
“cứu đói”, và các “đội quân trừ giặc đói” để trồng trọt khai khẩn, lấy lương cho dân nghèo, hay
quyên cho các quỹ cứu tế, tổ chức việc tiếp tế, mua gạo nhà giàu bán cho nhà nghèo theo giá hạ,
chở gạo chỗ thừa sang chỗ thiếu…
+ Về văn hoá: Tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở các trường đại học và
trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi nhét, cổ động văn hoá
cứu quốc, kiến thiết nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc: Khoa học hoá, đại chúng hoá, dân tộc hoá.
Chỉ thị nhấn mạnh: Muốn thực hiện được những nhiệm vụ trên đây, Đảng và Mặt trận Việt Minh
phải được củng cố và phát triển.
+ Về Đảng, phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật và nửa công khai của Đảng, phát triển thêm đảng
viên, đặc biệt chú trọng gây cơ sở xí nghiệp của Đảng cho thật rộng, làm sao cho sự phát triển
của Đảng ăn nhịp với sự phát triển của công nhân cứu quốc; giữ vững sinh hoạt của Đảng; thành
lập đảng đoàn trong các cơ quan hành chính và các đoàn thể quần chúng; xây dựng hệ thống tổ
chức đảng trong quân đội…
+ Về Mặt trận Việt Minh, hết sức phát triển các tổ chức cứu quốc. Thống nhất các tổ chức ấy lên
toàn kỳ, toàn quốc; sửa chữa lại điều lệ cho các đoàn thể cứu quốc cho thích hợp với hoàn cảnh
mới; mở rộng Mặt trận Việt Minh, lập các đoàn thể cứu quốc mới, giải quyết những mâu thuẫn
giữa Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Việt Minh; củng cố quyền lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận,
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 Trang 6/7
thống nhất Mặt trận Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia chống Pháp xâm lược. Chỉ thị còn đề ra các
biện pháp thực hiện những nhiệm vụ cụ thể về chính quyền, kháng chiến ở Nam Bộ, về chống và
đề phòng nạn đói, về tổng quyển cử… Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng ngày 25/11/1945 là Cương lĩnh hành động trước mắt của Đảng và nhân dân ta. Bản
Chỉ thị đã giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và
sách lược cách mạng trong thời kỳ mới giành được chính quyền, đưa đất nước vượt qua tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”.
2. Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất
Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" nêu rõ những nhiệm vụ cấp bách trước mắt là "củng cố chính
quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân". Trong đó,
việc xây dựng và củng cố chính quyền là vấn đề được coi là cơ bản, cốt yếu của mọi cuộc cách
mạng xã hội. Trong hoàn cảnh có nhiều khó khǎn, thử thách nặng nề và hoàn toàn dựa vào sức
mình, Đảng ta ý thức rõ là phải khẩn trương tǎng cường thực lực cách mạng về mọi mặt mới có
khả nǎng tự bảo vệ có hiệu quả.
Chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng, do vậy củng cố chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu.
Quyền lực và sức mạnh của chính quyền được phát huy trong đấu tranh chống xâm lược, trấn áp
bọn phản động, tổ chức động viên sức mạnh về mọi mặt của nhân dân trong việc giữ gìn thành quả cách mạng.
Mặc dù ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền đã về tay nhân
dân lao động, nhưng bên trong các thế lực phản động vẫn còn đang cấu kết với nhau chống lại
chính quyển cách mạng. Bên ngoài, các thế lực đế quốc (Anh, Mỹ, Pháp...) vẫn chưa từ bỏ âm
mưu can thiệp và xâm lược đất nước ta. Nếu không chăm lo xây dựng chính quyền gắn với bảo
vệ chính quyền thì khó giữ được thành quả cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dù nhân
dân ta đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược
vẫn còn”. Do đó, xây dựng chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền, hai nhiệm vụ quan
trọng này không được tách rời nhau.
Đúng như Lênin nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”. Đảng ta nêu lên tư
tưởng quan trọng về xây dựng chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền để lãnh đạo cách
mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, xây dựng và bảo vệ thành công chế độ
xã hội mới. Theo quan điểm của Đảng, xây dựng chính quyền đi đôi với bảo vệ chính quyền là
vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản nói chung, của cách mạng Việt Nam nói riêng. Bởi
vì, mặc dù cách mạng dã thành công, chính quyền đã về tay nhân dân, nhưng nếu không chăm lo
xây dựng chính quyền vững mạnh thì không thể quản lý, điều hành được đất nước. Điều đó càng
có ý nghĩa hơn trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động cả bên trong và bên ngoài vẫn còn
cấu kết với nhau để chống phá cách mạng. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Ngọc Linh - Mã LHP: 231_HCMI0131_14 7 Trang /7