TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ … NĂM HỌC 20…. – 20….
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam
Mã số đề thi: 21
Ngày thi: Tổng số trang 13/12/2023 : 07
Số báo danh: 117
Mã số SV/HV: 21D220023
Lớp: K57T2
Họ và tên: Đào Nguyễn Tuệ Văn
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Bài làm
Câu 1:
*Đặc điểm của cách mạng Việt Nam được nêu ra trong Đại hội IV (1976)
của Đảng:
Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, tại Hà
Nội. Dự Đại hội có 1.008 đại biểu, thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trên
cả nước, có 29 đoàn đại biểu của các Đảng và tổ chức quốc tế tham dự. Đại
hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; phân tích tình hình thế
giới, trong nước và nêu lên ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong
giai đoạn mới:
+) Nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ
biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa. Ở thời kì này cơ sở vật chất – kỹ thuật còn nhỏ yếu,
tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công, năng suất lao động xã hội thấp, phân
công lao động chưa phát triển. Công nghiệp lớn, nhất là công nghiệp nặng còn
ít, rời rạc. Nông nghiệp chủ yếu vẫn là trồng lúa. Các công cụ lao động còn
khá đơn giản và thô sơ, chưa có sự phát triển và hơi thở của thời đại. Cơ cấu
kinh tế, cơ chế quản lý lạc hậu, kém hiệu lực, tính kế hoạch của nền kinh tế
chưa cao. Tuy nhiên sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng
ta đã đạt được nhiều thành tựu: xoá bỏ giai cấp bóc lột, xác lập quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng được cơ sở bước đầu của nền sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tuy
nhiên sản xuất nhỏ vẫn là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền
Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa kiểu mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 1/7
SV/HV không
được viết vào
cột này)
Điểm từng câu,
diểm thưởng
(nếu có) và điểm
toàn bài
GV chm 1:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
GV chm 2:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
là sản xuất nhỏ. Vì vậy, nước ta vẫn đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế. còn
phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa.
+) Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ
nghĩa thực dân mới gây ra. Cả nước hoà bình độc lập, thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội
với nhiều thuận lợi cơ bản: tinh thần cách mạng đang lên sau khi giành thắng lợi vĩ đại, nhân
dân ta cần cù thông minh, sáng tạo, tha thiết với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có Đảng
Cộng sản lãnh đạo, có sự ủng hộ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa và có những điều kiện
về lao động, tài nguyên phong phú... Bên cạnh đó cũng gặp nhiều khó khăn do hậu quả của
chiến tranh và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra như qua hàng chục năm chiến
tranh, đế quốc Mỹ ném xuống nước ta 7.850.000 tấn bom đạn, trong đó có 451.260 tấn chất độc
hóa học, 338 tấn bom napan làm gần 2 triệu người bị chết, hơn 2 triệu người bị tàn tật, 2 triệu
người trong đó có khoảng 5 vạn trẻ em dị dạng do bị nhiễm chất độc màu da cam. Miền Nam
dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ với hậu quả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã
hội rất nặng nề. Ở miền Bắc hầu hết các thành phố, thị xã đều bị bom Mỹ tàn phá.
+) Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song
cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn
gay go, quyết liệt”. Các thế lực phản cách mạng quốc tế có nhiều âm mưu, hành động tinh vi
thâm độc chống phá phong trào cộng sản quốc tế.
*Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ:
Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là đặc điểm đầu tiên: “Nước ta
đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Cách mạng Việt Nam cũng có
nhiều đặc điểm khác như tập trung vào phát triển nông nghiệp, công nghiệp hoá, đổi mới kinh
tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Sở dĩ
như vậy vì trong thời gian sau 1975 miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân ta đã xây
dựng một cách vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, với cơ
sở vật chất - kỹ thuật bước đầu của chủ nghĩa xã hội, với hệ tư tưởng và nền văn hoá mới, với
cuộc sống mới và những con người mới. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, chúng ta có thêm nhiều năng lực sản xuất mới rất phong phú; kinh tế hai miền hỗ trợ và bổ
sung cho nhau. Tuy nhiên đặc trưng kinh tế ở cả hai miền Bắc và Nam cơ bản vẫn còn là sản
xuất nhỏ.
Có thể thấy đặc điểm này đã quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một
quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để; đồng thời cũng quy định tính chất
lâu dài, khó khăn và phức tạp của quá trình đó. Nó quy định nội dung, hình thức, bước đi của
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy Đại hội đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
mới của nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách
mạng khoa học-kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 2/7
thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng
đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội;
xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
chủ nghĩa xã hội”.
Trên cơ sở đường lối chung, Báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế
nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp; vừa xây dựng
kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa
phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với
xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan
hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa
quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ
vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã
hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến,
quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc”.
Câu 2:
*Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đó là con đường
Cách mạng vô sản
+) Quá trình ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911 đến năm 1920 đã giúp Nguyễn Ái Quốc
nhận thức rõ hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; nhận ra bản chất của các
cuộc cách mạng qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa.
+) Bắt gặp lí tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin sau khi đọc sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề về thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu
nước giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản.
- Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và tích cực chuẩn bị về tư
tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng
+) Truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, lựa chọn con đường đến hành động của
cách mạng theo con đường cách mạng vô sản
+) Về tư tưởng: Dùng ngòi bút của mình tích cực tố cáo, lên án bản chất bóc lột của chủ
nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức
đấu tranh giải phóng.
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 3/7
Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa khác,
Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria
(Người cùng khổ). Người viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí
Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế,...
Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương.
Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bản
chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu
gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng. Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa
thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thể hiện, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng
về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác-Lênin, xây dựng mối
quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa
và phụ thuộc.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt,
trongđảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Phải truyền bá tư tưởng vô
sản, lý luận Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
+) Về chính trị:
Hình thành luận điểm chính trị: Khẳng định con đường cách mạng của dân tộc bị áp bức,
xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; xác định
lực lượng cách mạng; xác định vai trò lãnh đạo của Đảng; cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải
phóng dân tộc. Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ
nghĩa cộng sản. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân
tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
với cách mạng vô sản ở “chính quốc” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau,
Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu,
nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, vì vậy
phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực
cách mạng: “công nông là gốc của cách mệnh; còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu
bạn cách mệnh của công nông”. Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách
mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 4/7
+) Về tổ chức:
Người lựa chọn 1 số thanh niên tích cực trong tổ chức Tâm tâm xã lập ra nhóm Cộng sản
đoàn (02/1925), sáng lập nên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) tại Quảng Châu,
Trung Quốc; sau đó liên kết với những cộng sản ở thuộc địa đang hoạt động ở Pháp lập ra Hội
Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (7/1925)
Sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để tìm hiểu, khảo sát thực tế về cách mạng vô sản,
tháng 11-1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có đông người Việt Nam yêu nước
hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 2-1925, Người
lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn.
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng
Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn. Hội đã công bố chương trình, điều lệ của Hội,
mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó
làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản). Hội xuất
bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ,
mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc
vận động giải phóng dân tộc Việt Nam. Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính
trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một
số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị.
Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho những người Việt
Nam yêu nước tại Quảng Châu, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản
thành cuốn Đường Cách mệnh. Đây là cuốn sách chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam,
trong đó tầm quan trọng của lý luận cách mạng được đặt ở vị trí hàng đầu đối với cuộc vận động
cách mạng và đối với đảng cách mạng tiên phong. Đường Cách mệnh xác định rõ con đường,
mục tiêu, lực lượng và phương pháp đấu tranh của cách mạng. Tác phẩm thể hiện tư tưởng nổi
bật của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở vấn đề sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào đặc
điểm của Việt Nam
Ở trong nước, từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển
cơ sở ở trong nước, đến đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập. Hội là tổ chức trực tiếp truyền
bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới
thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Những hoạt động của Hội có ảnh
hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước
Việt Nam những năm 1928-1929 theo xu hướng cách mạng vô sản. Đó là tổ chức tiền thân của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Người đã triệu tập và chủ trì Hội Nghị thành lập Đảng:
+) Triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để lập một chính đảng duy nhất của
Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
+) Bên cạnh đó người đã soạn thảo và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Cương lĩnh đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam cũng như mục tiêu cách
mạng, nhiệm vụ cách mạng, lực lượng cách mạn, phương pháp tiến hành cách mạng, quan hệ
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 5/7
quốc tế,và vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo là kim chỉ nam cho hoạt
động cách mạng Việt Nam.
+) Theo sự phân công của Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã viết lời kêu gọi quần chúng tham
gia, ủng hộ Đảng và đứng dưới ngọn cờ đấu tranh của Đảng.
Như vậy Nguyễn Ái Quốc có vai trò hết sức quan trọng. Người đã nắm ngọn cờ lãnh đạo
phong trào cách mạng Việt Nam, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất
nước và chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
*Các điểm khác biệt trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc với các nhà chí sĩ yêu nước trước dó:
- Đầu tiên là quan điểm cứu nước:
Những nhà yêu nước trước chủ trương cứu nước theo con đường cách mạng Tư Sản với
mục tiêu đánh Pháp, khôi phục độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó họ chủ trương kết hợp cứu nước với duy tân. Nguyễn Ái
Quốc thì lựa chọn con đường cách mạng vô sản kết hợp giải phóng dân tộc và giải cấp, độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xa hội. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người
Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan
Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”,
chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn
mang nặng cốt cách phong kiến. Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu sâu sắc các cuộc cách mạng điển
hình trên thế giới.
Người đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc
cách mạng tư sản tiêu biểu nhưng Người cũng nhận thức rõ và phê phán bản chất không triệt để
của các cuộc cách mạng tư sản. Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách dứt khoát rằng: Con
đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước
nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
- Thứ hai là mục đích và hướng đi:
Nếu như các bậc tiền bối như Phan Bội Châu chọn con đường đi sang phương Đông (Nhật
Bản, Trung Quốc), đối tượng mà ông gặp gỡ là những chính khách Nhật Bản để xin họ giúp
Việt Nam đánh Pháp, chủ trương đấu tranh bạo động hay Phan Châu Trinh lại chủ trương cứu
nước bằng biện pháp cải cách... dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại,
giành độc lập dân tộc Nguyễn Ái Quốc tự ra đi tìm đường cứu nước, không dựa dẫm vào nước
nào; không nhờ vả, kêu gọi người khác giúp mình. Người lựa chọn con đường đi sang phương
Tây, nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có khoa học-kĩ thuật và nền văn minh phát triển
để xem các nước khác làm cách mạng như thế nào, sau đó sẽ về và áp dụng vào giúp đất nước.
Trong quá trình đó, Người bắt gặp chân lí cứu nước của chủ nghĩa Mác-Lênin và xác định con
đường cứu nước theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga. Đây là con đường cứu nước
duy nhất đúng đắn đối với dân tộc ta, cũng như đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác,
vì nó phù hợp với sự phát triển của lịch sử.
- Thứ ba là cách đi:
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 6/7
Người dựa vào cuộc sống thực tiễn, bằng lao động để mở mang nhận thức tìm ra chân lý.
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, có một người bạn đã hỏi Nguyễn Tất Thành: Chúng ta lấy
đâu ra tiền mà đi? Nguyễn Tất Thành “vừa nói vừa giơ hai bàn tay - chúng ta sẽ làm việc.
Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”. Và từ việc làm phụ bếp trên con tàu Pháp của
hãng “Vận tải hợp nhất”, đến cào tuyết trong một trường học, đốt lò, làm vườn, làm thợ rửa
ảnh... Nguyễn Tất Thành đã hòa mình, gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động, hiểu được
nỗi thống khổ, hiểu được nguyện vọng và ý chí, năng lực của họ và đồng cảm với họ. Và như
thế, trên cuộc hành trình của mình với sự lăn lộn trong cuộc sống lao động và đấu tranh của
nhân dân các nước, với tầm hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn sâu sắc, phong phú, Nguyễn Tất
Thành đã nhận thức về thế giới và thời đại theo một lập trường và quan điểm mới so với các nhà
yêu nước đương thời. Đó là nhận điện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới - chủ
nghĩa thực dân đế quốc; nhận thức đúng đắn về lực lượng cơ bản của cách mạng thế giới - nhân
dân lao động.
Cuộc gặp gỡ với chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của Thế kỷ XX là sự kiện đánh
dấu Nguyễn Ái Quốc giác ngộ lập trường, quan điểm vô sản và quyết định lựa chọn con đường
giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.
---Hết---
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 7/7

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ … NĂM HỌC 20…. – 20….
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Số báo danh: 117 Nam
Mã số SV/HV: 21D220023 Mã số đề thi: 21 Lớp: K57T2
Ngày thi: 13/12/2023 Tổng số trang: 07
Họ và tên: Đào Nguyễn Tuệ Văn Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào Câu 1: cột này)
*Đặc điểm của cách mạng Việt Nam được nêu ra trong Đại hội IV (1976) Điểm từng câu, của Đảng: diểm thưởng (nếu có) và điểm
Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, tại Hà toàn bài
Nội. Dự Đại hội có 1.008 đại biểu, thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trên
cả nước, có 29 đoàn đại biểu của các Đảng và tổ chức quốc tế tham dự. Đại GV chấm 1:
hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; phân tích tình hình thế
giới, trong nước và nêu lên ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong Câu 1: ……… điểm giai đoạn mới: Câu 2: ……… điểm ………………….
+) Nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ
biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát ………………….
triển tư bản chủ nghĩa. Ở thời kì này cơ sở vật chất – kỹ thuật còn nhỏ yếu, Cộng …… điểm
tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công, năng suất lao động xã hội thấp, phân
công lao động chưa phát triển. Công nghiệp lớn, nhất là công nghiệp nặng còn GV chấm 2:
ít, rời rạc. Nông nghiệp chủ yếu vẫn là trồng lúa. Các công cụ lao động còn Câu 1: ……… điểm
khá đơn giản và thô sơ, chưa có sự phát triển và hơi thở của thời đại. Cơ cấu
kinh tế, cơ chế quản lý lạc hậu, kém hiệu lực, tính kế hoạch của nền kinh tế Câu 2: ……… điểm
chưa cao. Tuy nhiên sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ………………….
ta đã đạt được nhiều thành tựu: xoá bỏ giai cấp bóc lột, xác lập quan hệ sản ………………….
xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng được cơ sở bước đầu của nền sản xuất lớn xã Cộng …… điểm
hội chủ nghĩa, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tuy
nhiên sản xuất nhỏ vẫn là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền
Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa kiểu mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 1/7
là sản xuất nhỏ. Vì vậy, nước ta vẫn đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế. còn
phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
+) Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ
nghĩa thực dân mới gây ra. Cả nước hoà bình độc lập, thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội
với nhiều thuận lợi cơ bản: tinh thần cách mạng đang lên sau khi giành thắng lợi vĩ đại, nhân
dân ta cần cù thông minh, sáng tạo, tha thiết với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có Đảng
Cộng sản lãnh đạo, có sự ủng hộ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa và có những điều kiện
về lao động, tài nguyên phong phú... Bên cạnh đó cũng gặp nhiều khó khăn do hậu quả của
chiến tranh và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra như qua hàng chục năm chiến
tranh, đế quốc Mỹ ném xuống nước ta 7.850.000 tấn bom đạn, trong đó có 451.260 tấn chất độc
hóa học, 338 tấn bom napan làm gần 2 triệu người bị chết, hơn 2 triệu người bị tàn tật, 2 triệu
người trong đó có khoảng 5 vạn trẻ em dị dạng do bị nhiễm chất độc màu da cam. Miền Nam
dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ với hậu quả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã
hội rất nặng nề. Ở miền Bắc hầu hết các thành phố, thị xã đều bị bom Mỹ tàn phá.
+) Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song
cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn
gay go, quyết liệt”. Các thế lực phản cách mạng quốc tế có nhiều âm mưu, hành động tinh vi
thâm độc chống phá phong trào cộng sản quốc tế.
*Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ:
Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là đặc điểm đầu tiên: “Nước ta
đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Cách mạng Việt Nam cũng có
nhiều đặc điểm khác như tập trung vào phát triển nông nghiệp, công nghiệp hoá, đổi mới kinh
tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Sở dĩ
như vậy vì trong thời gian sau 1975 miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân ta đã xây
dựng một cách vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, với cơ
sở vật chất - kỹ thuật bước đầu của chủ nghĩa xã hội, với hệ tư tưởng và nền văn hoá mới, với
cuộc sống mới và những con người mới. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, chúng ta có thêm nhiều năng lực sản xuất mới rất phong phú; kinh tế hai miền hỗ trợ và bổ
sung cho nhau. Tuy nhiên đặc trưng kinh tế ở cả hai miền Bắc và Nam cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ.
Có thể thấy đặc điểm này đã quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một
quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để; đồng thời cũng quy định tính chất
lâu dài, khó khăn và phức tạp của quá trình đó. Nó quy định nội dung, hình thức, bước đi của
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy Đại hội đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
mới của nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách
mạng khoa học-kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 2/7
thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng
đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội;
xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Trên cơ sở đường lối chung, Báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế
nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp; vừa xây dựng
kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa
phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với
xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan
hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa
quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ
vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã
hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến,
quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc”. Câu 2:
*Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đó là con đường Cách mạng vô sản
+) Quá trình ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911 đến năm 1920 đã giúp Nguyễn Ái Quốc
nhận thức rõ hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; nhận ra bản chất của các
cuộc cách mạng qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa.
+) Bắt gặp lí tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin sau khi đọc sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề về thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu
nước giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản.
- Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và tích cực chuẩn bị về tư
tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng
+) Truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, lựa chọn con đường đến hành động của
cách mạng theo con đường cách mạng vô sản
+) Về tư tưởng: Dùng ngòi bút của mình tích cực tố cáo, lên án bản chất bóc lột của chủ
nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng.
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 3/7
Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa khác,
Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria
(Người cùng khổ). Người viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí
Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế,...
Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương.
Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bản
chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu
gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng. Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa
thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thể hiện, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng
về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác-Lênin, xây dựng mối
quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt,
trongđảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Phải truyền bá tư tưởng vô
sản, lý luận Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. +) Về chính trị:
Hình thành luận điểm chính trị: Khẳng định con đường cách mạng của dân tộc bị áp bức,
xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; xác định
lực lượng cách mạng; xác định vai trò lãnh đạo của Đảng; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải
phóng dân tộc. Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ
nghĩa cộng sản. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân
tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
với cách mạng vô sản ở “chính quốc” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau,
Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu,
nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, vì vậy
phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực
cách mạng: “công nông là gốc của cách mệnh; còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu
bạn cách mệnh của công nông”. Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách
mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 4/7 +) Về tổ chức:
Người lựa chọn 1 số thanh niên tích cực trong tổ chức Tâm tâm xã lập ra nhóm Cộng sản
đoàn (02/1925), sáng lập nên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) tại Quảng Châu,
Trung Quốc; sau đó liên kết với những cộng sản ở thuộc địa đang hoạt động ở Pháp lập ra Hội
Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (7/1925)
Sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để tìm hiểu, khảo sát thực tế về cách mạng vô sản,
tháng 11-1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có đông người Việt Nam yêu nước
hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 2-1925, Người
lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn.
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng
Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn. Hội đã công bố chương trình, điều lệ của Hội,
mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó
làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản). Hội xuất
bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ,
mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc
vận động giải phóng dân tộc Việt Nam. Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính
trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một
số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị.
Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho những người Việt
Nam yêu nước tại Quảng Châu, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản
thành cuốn Đường Cách mệnh. Đây là cuốn sách chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam,
trong đó tầm quan trọng của lý luận cách mạng được đặt ở vị trí hàng đầu đối với cuộc vận động
cách mạng và đối với đảng cách mạng tiên phong. Đường Cách mệnh xác định rõ con đường,
mục tiêu, lực lượng và phương pháp đấu tranh của cách mạng. Tác phẩm thể hiện tư tưởng nổi
bật của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở vấn đề sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào đặc điểm của Việt Nam
Ở trong nước, từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển
cơ sở ở trong nước, đến đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập. Hội là tổ chức trực tiếp truyền
bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới
thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Những hoạt động của Hội có ảnh
hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước
Việt Nam những năm 1928-1929 theo xu hướng cách mạng vô sản. Đó là tổ chức tiền thân của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Người đã triệu tập và chủ trì Hội Nghị thành lập Đảng:
+) Triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để lập một chính đảng duy nhất của
Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
+) Bên cạnh đó người đã soạn thảo và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Cương lĩnh đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam cũng như mục tiêu cách
mạng, nhiệm vụ cách mạng, lực lượng cách mạn, phương pháp tiến hành cách mạng, quan hệ
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 5/7
quốc tế,và vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo là kim chỉ nam cho hoạt
động cách mạng Việt Nam.
+) Theo sự phân công của Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã viết lời kêu gọi quần chúng tham
gia, ủng hộ Đảng và đứng dưới ngọn cờ đấu tranh của Đảng.
Như vậy Nguyễn Ái Quốc có vai trò hết sức quan trọng. Người đã nắm ngọn cờ lãnh đạo
phong trào cách mạng Việt Nam, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất
nước và chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
*Các điểm khác biệt trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc với các nhà chí sĩ yêu nước trước dó:

- Đầu tiên là quan điểm cứu nước:
Những nhà yêu nước trước chủ trương cứu nước theo con đường cách mạng Tư Sản với
mục tiêu đánh Pháp, khôi phục độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó họ chủ trương kết hợp cứu nước với duy tân. Nguyễn Ái
Quốc thì lựa chọn con đường cách mạng vô sản kết hợp giải phóng dân tộc và giải cấp, độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xa hội. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người
Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan
Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”,
chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn
mang nặng cốt cách phong kiến. Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu sâu sắc các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.
Người đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc
cách mạng tư sản tiêu biểu nhưng Người cũng nhận thức rõ và phê phán bản chất không triệt để
của các cuộc cách mạng tư sản. Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách dứt khoát rằng: Con
đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước
nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
- Thứ hai là mục đích và hướng đi:
Nếu như các bậc tiền bối như Phan Bội Châu chọn con đường đi sang phương Đông (Nhật
Bản, Trung Quốc), đối tượng mà ông gặp gỡ là những chính khách Nhật Bản để xin họ giúp
Việt Nam đánh Pháp, chủ trương đấu tranh bạo động hay Phan Châu Trinh lại chủ trương cứu
nước bằng biện pháp cải cách... dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại,
giành độc lập dân tộc Nguyễn Ái Quốc tự ra đi tìm đường cứu nước, không dựa dẫm vào nước
nào; không nhờ vả, kêu gọi người khác giúp mình. Người lựa chọn con đường đi sang phương
Tây, nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có khoa học-kĩ thuật và nền văn minh phát triển
để xem các nước khác làm cách mạng như thế nào, sau đó sẽ về và áp dụng vào giúp đất nước.
Trong quá trình đó, Người bắt gặp chân lí cứu nước của chủ nghĩa Mác-Lênin và xác định con
đường cứu nước theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga. Đây là con đường cứu nước
duy nhất đúng đắn đối với dân tộc ta, cũng như đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác,
vì nó phù hợp với sự phát triển của lịch sử.
- Thứ ba là cách đi:
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 6/7
Người dựa vào cuộc sống thực tiễn, bằng lao động để mở mang nhận thức tìm ra chân lý.
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, có một người bạn đã hỏi Nguyễn Tất Thành: Chúng ta lấy
đâu ra tiền mà đi? Nguyễn Tất Thành “vừa nói vừa giơ hai bàn tay - chúng ta sẽ làm việc.
Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”. Và từ việc làm phụ bếp trên con tàu Pháp của
hãng “Vận tải hợp nhất”, đến cào tuyết trong một trường học, đốt lò, làm vườn, làm thợ rửa
ảnh... Nguyễn Tất Thành đã hòa mình, gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động, hiểu được
nỗi thống khổ, hiểu được nguyện vọng và ý chí, năng lực của họ và đồng cảm với họ. Và như
thế, trên cuộc hành trình của mình với sự lăn lộn trong cuộc sống lao động và đấu tranh của
nhân dân các nước, với tầm hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn sâu sắc, phong phú, Nguyễn Tất
Thành đã nhận thức về thế giới và thời đại theo một lập trường và quan điểm mới so với các nhà
yêu nước đương thời. Đó là nhận điện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới - chủ
nghĩa thực dân đế quốc; nhận thức đúng đắn về lực lượng cơ bản của cách mạng thế giới - nhân dân lao động.
Cuộc gặp gỡ với chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của Thế kỷ XX là sự kiện đánh
dấu Nguyễn Ái Quốc giác ngộ lập trường, quan điểm vô sản và quyết định lựa chọn con đường
giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Đào Nguyễn Tuệ Văn. - Mã LHP: 231_HCMI0131_01 Trang 7/7