












Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 01 NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Thương mại điện tử căn bản Số báo danh: 57 Mã số đề thi: 10
Mã số SV/HV: 23D140286 Ngày thi: 23/12/2023 Lớp: 231_PCOM0111_08 Tổng số trang: 13
Họ và tên: Trần Xuân Tùng Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào
Câu 1: Phân loại các loại hình thương mại điện tử theo các chủ thể tham gia cột này)
giao dịch. Lựa chọn một doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình B2C, phân Điểm từng câu,
tích và làm rõ mô hình kinh doanh của doanh nghiệp này? diểm thưởng (nếu có) và điểm
1. Các loại hình thương mại điện tử theo các chủ thể tham gia giao dịch toàn bài
1.1. Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B2B) GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm
Tất cả những bên tham gia trong thương mại điện tử (TMĐT) giữa các Câu 2: ……… điểm
doanh nghiệp hoặc là các doanh nghiệp hoặc là các tổ chức. Ví dụ, các giao ………………….
dịch giữa công ty Dell và Mark & Spencer và các nhà cung ứng của họ. Ngày ………………….
nay hơn 85% khối lượng TMĐT trên thế giới là B2B (Cunningham 2001). Cộng …… điểm
1.2. Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C) GV chấm 2:
Thương mại điện tử B2C bao gồm các giao dịch bán lẻ hàng hoá và Câu 1: ……… điểm
dịch vụ của các doanh nghiệp đến khách hàng là các nhân và các hộ gia đình, Câu 2: ……… điểm
những người tiêu dùng cuối cùng. Nội dung chủ yếu của loại hình thương mại ………………….
điện tử này là bán lẻ điện tử. Đây là mô hình vô cùng phổ biến và trở thành ………………….
một trong những hình thức bán hàng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Ví Cộng …… điểm
dụ, sàn thương mại điện tử Tiki triển khai mô hình kinh doanh B2C.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 1/13
1.3. Thương mại điện tử doanh nghiệp – doanh nghiệp – người tiêu dùng (B2B2C)
Đây là một trường hợp đặc biệt của B2B. Một doanh nghiệp cung cấp một số sản phẩm
hoặc dịch vụ cho một khách hàng là một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp khách hàng tiếp
theo sẽ cung cấp những hàng hoá hoặc dịch vụ đó cho khách hàng của họ, cũng có thể là nhân
viên của họ mà không có bổ sung giá trị.
1.4. Người tiêu dùng – doanh nghiệp (C2B)
Người tiêu dùng ở đây có thể thể sử dụng Internet tiến hành bán sản phẩm hoặc dịch vụ
của mình cho các doanh nghiệp hoặc các các cá nhân thông qua hình thức đấu giá các sản phẩm
hoặc dịch vụ. Ví dụ, Price.com là trang web nổi tiếng của loại hình giao dịch C2B này.
1.5. Người tiêu dùng – người tiêu dùng (C2C)
Người tiêu dùng này giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng khác. Một số cá nhân muốn
bán một số tài sản riêng của họ như bất động sản, ô tô, tranh nghệ thuật, đồ cổ… thì họ quảng
cáo chúng trên những trang web chuyên dụng. Quảng cáo các dịch vụ cá nhân thông qua trang
web hay việc bán kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn là ví dụ khác về C2C. Ngoài ra có các
trang web đấu giá cho phép các cá nhân đưa đồ của mình lên để đấu giá.
1.6. Các ứng dụng ngang hàng (P2P)
Công nghệ ngang hàng có thể được sử dụng trong C2C, B2B và B2C. Công nghệ này
cho phép những máy tính ngang hàng đã được kết nối có thể chia sẻ các thư mực dữ liệu và xử
lý trực tiếp với các máy khác. Ví dụ, trong việc ứng dụng ngang hàng C2C, mọi người có thể
trao đổi âm nhạc, video, phần mềm và các sản phẩm số hoá khác bằng phương tiện điện tử.
1.7. Thương mại điện tử di động (Mobile Commerce)
Giao dịch TMĐT và các hoạt động được thực hiện hoàn toàn hoặc một phần trong môi
trường không dây được xem như là thương mại di động. Ví dụ, người ta có thể sử dụng điện
thoại di động để có kết nối Internet để giao dịch với ngân hàng, đặt mua một quyển sách trên
Amazon.com. Rất nhiều ứng dụng của thương mại di động liên quan đến các thiết bị di động.
Nếu các giao dịch như vậy được hướng đến những cá nhân ở những vị trí cụ thể, tại thời điểm
cụ thể thì chúng được xem như thương mại điện tử trên cơ sở định vị. Một số người định nghĩa
thương mại điện tử di động như là những giao dịch được thực hiện khi không ở nhà hay ở cơ
quan. Những giao dịch như vậy có thể thực hiện trên cả hệ thống không dây và có dây.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 2/13
1.8. Thương mại điện tử nội bộ doanh nghiệp
Thương mại điện tử bên trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động bên trong
tổ chức liên quan đến trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thông tin ở nhiều đơn vị và cá nhân trong tổ
chức đó. Các hoạt động có thể từ việc bán các nhóm sản phẩm tới các nhân viên công ty, tới các
nỗ lực thiết kế hợp tác và đào tạo trực tuyến. TMĐT trong doanh nghiệp được thực hiện thông
qua mạng nội bộ hoặc cổng công ty (Cổng để truy cập vào website).
1.9. Doanh nghiệp – nhân viên (B2E)
Loại hình thương mại điện tử B2E là một hệ thống phụ của loại hình TMĐT nội bộ
doanh nghiệp, trong đó tổ chức phân phát các dịch vụ, thông tin hay sản phẩm tới từng nhân
viên trong công ty. Một bộ phận lớn nhân viên là nhân viên di động, họ làm đại diện của doanh
nghiệp tại các tổ chức và doanh nghiệp khác. TMĐT hỗ trợ cho các nhân viên như vậy gọi là
B2ME (Doanh nghiệp tới nhân viên di động).
1.10. Thương mại hợp tác
Khi các cá nhân hoặc các nhóm trao đổi hoặc hợp tác trực tuyến, họ đã tham gia vào
thương mại hợp tác. Ví dụ, các đối tác kinh doanh ở các địa điểm khác nhau có thể cùng nhau
thiết kế sản phẩm, sử dụng cầu truyền hình, quản lý hàng tồn kho trực tuyến như trường hợp của
Dell Computers, hoặc cùng nhau dự đoán nhu cầu sản phẩm như Marks & Spencers làm với nhà cung ứng của họ.
1.11. Thương mại điện tử phi kinh doanh
Số lượng các tổ chức phi kinh doanh đang dần tăng lên như các viện hàn lâm, các tổ chức
phi lợi nhuận, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội và các đơn vị chính phủ đang sử dụng
TMĐT để thúc đẩy các hoạt động chung hoặc dịch vụ khách hàng.
2. Phân tích và làm rõ mô hình kinh doanh B2C của Thế Giới Di Động
2.1. Giới thiệu về Thế Giới Di Động
- Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động thành lập tháng 03/2004.
- Tháng 06/2004, ra mắt website và 3 cửa hàng.
- Tháng 03/2013, Thế Giới Di Động có cửa hàng ở 63/63 tỉnh của Việt Nam.
- Hiện nay, Thế Giới Di Động là chuỗi bán lẻ các thiết bị di động uy tín số 1 Việt Nam.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 3/13
2.2 Mô hình B2C của Thế Giới Di Động
Mô hình kinh doanh B2C là mô hình kinh doanh chủ yếu của thegioididong.com. Doanh
nghiệp không chỉ cung cấp các sản phẩm điện thoại mà còn các sản phẩm điện tử đa dạng khác
cho người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể mua sắm trực tuyến mà không cần đến trực tiếp cửa hàng.
Trang web thegioididong.com của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động với 2309 lượt
bình chọn đã được trao giải “Trang web và dịch vụ thương mại điện tử được nhiều người yêu
thích nhất” năm 2009 ở mô hình B2C chuyên ngành viễn thông do Sở Công Thương Thành phố
Hồ Chí Minh phối hợp với văn phòng phía Nam Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam tổ chức.
2.2.1. Về trang web thegioididong.com
Những người yêu thích điện thoại di động biết đến thegioididong.com từ tháng 06-2004
như là một trong những trang web đầu tiên chuyên về mặt hàng này, nơi trưng bày điện thoại
theo nhãn hiệu, theo phân khúc giá cả và đặc biệt là cung cấp thông tin về máy, như các chức
năng và thông số kỹ thuật. Mục tiêu ban đầu ấy giờ đây vẫn được duy trì, song trang web đã
được mở rộng hơn, từ điện thoại di động sang những mặt hàng di động khác như máy tính xách
tay, máy chụp ảnh kỹ thuật số… và phụ kiện các loại.
- Với giao diện đơn giản và thống nhất ở hầu hết các trang, thegioididong.com vẫn duy trì sự
phân loại sản phẩm theo phân khúc giá cả và nhãn hiệu để giúp người sử dụng có thể tìm kiếm
nhanh và hiểu rõ về sản phẩm mình cần mua.
- Muốn tìm hiểu chuyên sâu thì khách hàng có thể chọn vào các mục để chọn máy theo phong
cách sử dụng, theo chức năng, hay theo kiểu dáng. Khi nhấn vào một mẫu điện thoại ở bất cứ đề
mục nào, khách hàng sẽ nhận được rất nhiều thông tin từ chức năng của sản phẩm, thông số kỹ
thuật, hình ảnh chi tiết, giá cả, các gợi ý xem thêm, phụ kiện bán chạy nhất, cho đến tin tức về
các ưu đãi dành cho khách hàng và danh sách với đầy đủ các địa chỉ của các siêu thị bán các mặt hàng trên.
- Ngoài ra, khách hàng có thể chia sẻ ý kiến của mình về sản phẩm đã mua hoặc đã tình cờ được
sử dụng thử ở đâu đó tại mục “Viết nhận xét”. Nếu đã mua điện thoại mới mà không biết tặng
lại chiếc đã sử dụng cho ai, bạn không nên vứt bừa trong ngăn tủ vì có thể tự “rao bán” nó trên
mục “Máy cũ” của trang web này.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 4/13
2.2.2. Quy trình xử lý và thực hiện một đơn hàng của thegioididong.com
2.2.2.1. Quy trình xử lý đơn hàng
- Kiểm tra tính chính xác của các thông tin đặt hàng. - Kiểm tra tính khả cung.
- Chuẩn bị tài liệu, xác nhận lại thông tin từ khách hàng.
- Kiểm tra tình trạng tín dụng của khách hàng.
- Sao chép, lưu giữ thông tin đặt hàng. - Lệnh bán hàng.
2.2.2.2. Các nội dung trong thực hiện đơn hàng TMĐT B2C
Sau khi tiếp nhận đơn đặt hàng và tiến hành xứ lý đơn hàng về mặt thông tin, người bán
bắt đầu quy trình thực hiện đơn hàng
- Thông báo xác nhận bán hàng.
- Xây dựng kế hoạch giao vận và lịch trình giao vận. - Bao gói (Hàng hóa).
- Xuất kho (Theo đơn hàng). - Vận chuyển. - Theo dõi đơn hàng.
2.2.3. Chiến lược Marketing của thegioididong.com
2.2.3.1. Tiếp thị trực tuyến
Internet đang tạo ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội thực hiện các hoạt động tiếp thị
có hiệu quả (Chi phí thấp mà vẫn có thể nhắm đến đúng đối tượng khách hàng mục tiêu). Chẳng
hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ AdWords của Google để tạo ra những chiến dịch
quảng cáo dựa trên các từ khóa chính và khu vực địa lý. Theo đó, các mẫu quảng cáo của doanh
nghiệp sẽ được hiển thị trên Google và các trang web đối tác của trang web này khi khách hàng
tìm kiếm thông tin trên Google và sử dụng các từ khóa chính mà doanh nghiệp đã “đặt sẵn”. Có
thể giới hạn phạm vi quảng cáo theo nước hoặc theo khu vực địa lý. Doanh nghiệp này rất mạnh
về mảng tiếp thị trên Internet nên được rất nhiều người biết đến.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 5/13
2.2.3.2. Chiến lược quảng cáo – Viral Marketing
Chiến dịch này phù hợp với thực tiễn vì 3 lý do: Dân số trẻ Việt Nam đang dành nhiều
thời gian trên thế giới ảo. Họ không muốn tiếp nhận kiểu quảng cáo hô hào, khó hiểu và đặc biệt
là các sản phẩm công nghệ. Quan trọng hơn, kinh tế khó khăn khiến các nhà kinh doanh nghĩ
đến những giải pháp tiếp thị ít tốn kém, mang đến nhiều cảm xúc hơn và dễ đi vào lòng người.
Thực chất, chiến lược tiếp thị trải nghiệm qua việc tạo lập video, clip, tình huống, lan
truyền qua mạng, thu hút cộng đồng không phải là mới. Honda đã làm sự kiện tặng trái tim ảo
trên Facebook nhân ngày lễ tình nhân. Giày Geox năm 2008 cũng thực hiện chiến dịch tương tự
ở Việt Nam với video clip “Giày biết thở”. Tuy nhiên, ở thegioididong.com, chiến dịch được
nâng lên một bậc khi tạo tương tác hai chiều với cộng đồng thông qua những tình huống như
“nêu vấn đề” và “tìm giải pháp”. 2.3. Kết luận
Việc ứng dụng TMĐT vào kinh doanh là hết sức cần thiết không chỉ đối với công ty Thế
Giới Di Động mà còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác, nhất là trong nền kinh tế thị trường
cạnh tranh và hội nhập hiện nay. Ứng dụng TMĐT vào kinh doanh giúp cho cả người bán và
người mua đều có lợi. Người bán tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, có doanh thu lớn hơn.
Người mua có được sự thuận tiện trong tìm kiếm sản phẩm và mua sắm mà không cần trực tiếp
tới cửa hàng. Đây là xu thế không thể đảo ngược, công ty nào không chịu đổi mới sẽ ngày càng
tụt hậu và đánh mất thị phần vào tay các công ty có mô hình kinh doanh tốt hơn.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 6/13
Câu 2: Trình bày khái niệm và phân loại thẻ thông minh? Nêu các ứng dụng của thẻ thông
minh và cho ví dụ? Tại sao các ngân hàng ở Việt Nam đang có xu hướng chuyển từ công nghệ
thẻ từ sang thẻ chip?
1. Khái niệm và phân loại thẻ thông minh
Thẻ thông minh thường được sử dụng bên cạnh thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ truyền thống.
Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ các ứng dụng phi tài chính và phi bán lẻ. Một thẻ
thông minh trông như một thẻ thanh toán nhựa, nhưng được phân biệt ở chỗ là trên thẻ thông
minh có gắn vi mạch điện tử (Microchip). Con chip được gắn có thể là vi mạch vi xử lý kết hợp
với con chip lưu giữ thông tin hoặc chỉ có con chip lưu trữ thông tin với logic phi chương trình.
Thông tin trong thẻ có thể được thêm, bớt hoặc chịu các xử lý khác. Thẻ có con chip lưu giữ
thông tin thường là thẻ “chỉ đọc” tương tự thẻ tín dụng. Mặc dù bộ vi xử lý có khả năng chạy
chương trình như một máy tính, nhưng đó không phải là máy tính độc lập. Các dữ liệu và
chương trình phải được tải về và kích hoạt từ một số thiết bị khác (Như một máy ATM).
1.1. Loại thẻ tiếp xúc
Thẻ tiếp xúc có một tấm kim loại màu vàng và có đường kính khoảng một inch rưỡi,
được bố trí ở mặt trước. Khi đưa thẻ vào thiết bị đọc thẻ, tấm kim loại tạo ra sự tiếp xúc điện tử
và dữ liệu được truyền đến và lấy ra từ con chip.
1.1.1. Thẻ tiếp xúc có bộ nhớ chỉ đọc (EPROM)
- Dữ liệu của loại thẻ này không bao giờ bị xoá bỏ.
- Dữ liệu mới khi nạp được thêm vào khoảng trống còn lại của thẻ.
- Khi thẻ đầy, thẻ có thể bị bỏ đi.
1.1.2. Thẻ tiếp xúc có bộ nhớ chỉ đọc và có khả năng xoá bỏ điện tử (EEPROM)
- Dữ liệu của loại thẻ này có thể được xoá bỏ và sửa đổi.
- Loại thẻ này chỉ bị bỏ đi khi quá cũ hoặc bị hư hỏng.
- Hầu hết thẻ tiếp xúc là loại thẻ EEPROM.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 7/13
1.2. Loại thẻ không tiếp xúc
Bên cạnh con chip, thẻ không tiếp xúc còn có ăng ten được gắn vào. Dữ liệu và các ứng
dụng được truyền vào và lấy ra khỏi thẻ thông qua ăng ten của thẻ tới một ăng ten khác rồi đến
thiết bị đọc thẻ hoặc một thiết bị khác. Loại thẻ này được sử dụng vào khâu thanh toán mà dữ
liệu phải được xử lý thật nhanh (Ví dụ như trả tiền xe buýt hoặc tàu), hoặc khi khó tiếp xúc (Ví
dụ như cơ chế an ninh tại các toà nhà). Thẻ này hoạt động ở khoảng cách gần, chỉ vài inch.
Trong những trường hợp đặc biệt, như thanh toán ở trạm thu tiền cao tốc, loại thẻ này có thể
hoạt động ở khoảng cách xa đáng kể.
1.3. Loại thẻ lai hoặc thẻ tích hợp
Thẻ thông minh lai có hai con chip tách rời nhau gắn ở trên thẻ. Thẻ kết hợp có một con
chip hỗ trợ cả hai giao diện là tiếp xúc và không tiếp xúc. Loại thẻ này giúp loại bỏ sự bất tiện
khi phải mang nhiều loại thẻ để hỗ trợ cho những ứng dụng hoặc các thiết bị đọc thẻ khác nhau.
2. Ứng dụng của thẻ thông minh
Sự thay đổi cách sử dụng thẻ thông minh được định hướng bởi những ứng dụng của nó.
Sau đây là những ứng dụng quan trọng nhất.
2.1. Thanh toán trong mua bán lẻ
Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều loại dịch vụ hướng đến thị trường mà thanh toán thường
được thực hiện bằng tiền mặt với tốc độ nhanh và đòi hỏi sự chính xác, sự tiện lợi là rất quan
trọng. Ví dụ như các cửa hàng tiện dụng, trạm xăng và cửa hàng thức ăn nhanh, rạp chiếu phim.
Ví tiền điện từ và thanh toán phi tiếp xúc là ví dụ cho loại hình dịch vụ giá trị gia tăng này.
Với ví tiền điện tử, tiền có thể được đưa vào thẻ, lấy ra từ tài khoản ngân hàng của chủ
thẻ. Tài khoản của chủ tài khoản nhanh chóng được ghi nợ và số tiền được chuyển tới một tài
khoản trôi (Float account) ở ngân hàng hoặc tới người vận hành hệ thống. Giao dịch này được
thực hiện trực tuyến và được mã số định dạng cá nhân (Personal Identification Number – PIN)
bảo vệ giống như tiền được rút ra khỏi cây ATM. Chủ thẻ có thể sử dụng ví ở bất cứ địa điểm
bán hàng nào mà ví tiền điện tử được chấp nhận.
Khi ví tiền điện tử được sử dụng, số tiền được chuyển từ ví tiền điện tử tới thiết bị cuối
và số tiền còn lại trong ví tiền sẽ được điều chỉnh. Sau khi giao dịch, hệ thống chủ ví tiền số hoá
ghi nợ cho tài khoản trôi của ngân hàng phát hành và ghi cho tài khoản của người bán.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 8/13
2.2. Chuyển tiếp phí trong giao thông công cộng
Trong các thành phố lớn ở Mỹ hay nhiều nước khác, người đi làm thường phải lái xe đến
chỗ để xe, lên tàu và sau đó di chuyển qua một hay nhiều tàu điện ngầm, xe buýt tới nơi làm
việc. Nếu không ứng dụng thẻ thông minh vào thanh toán thì quá trình đi lại sẽ rất rắc rối và tốn
nhiều thời gian. Các nước trên thế giới đang chuyển từ hệ thống thanh toán phí không hợp nhất,
sang hệ thống thanh toán chỉ cần một thẻ phí tiếp xúc duy nhất, dù có bao nhiêu kiểu giao thông
hay hãng giao thông và các công ty liên quan tham gia.
Một số nhà vận hành chuyển tiếp ở Mỹ đang tìm kiếm các đối tác là các nhà bán lẻ và
các tổ chức tài chính để kết hợp thẻ chuyển tiếp của họ với thẻ thanh toán có thể mua được
những hàng hoá hay dịch vụ như bữa ăn nhỏ, phí qua cầu, phí đỗ xe, mua thức ăn trong nhà
hàng tạp phẩm gần trạm chuyển tiếp.
Ngoài ra, thẻ thông minh và các hệ thống thanh toán điện tử còn được sử dụng cho
những ứng dụng giao thông khác, ví dụ như chấp nhận thanh toán từ thẻ thông minh trả trước
đối với tiền đỗ xe, phí giao thông.
2.3. Định dạng điện tử (e-ID)
Vì thẻ thông minh có thể lưu trữ các dữ liệu cá nhân như ảnh, nhận dạng sinh trắc học,
chữ ký số hoá và chìa khoá an toàn cá nhân nên chúng được sử dụng trong nhiều loại nhận
dạng, kiểm soát truy cập và ứng dụng xác nhận. Ví dụ một vài nước như Trung Quốc, Ấn Độ,
Bỉ đã nên kế hoạch thử nghiệm và đưa ra chương trình thẻ thông minh định dạng quốc gia. Thẻ
được thiết kế để giảm thủ tục ID và người dân có thể di chuyển tự do hơn ở trong nước. Thẻ ID
có kích thước như thẻ ngân hàng tiêu chuẩn và sử dụng con chip phi tiếp xúc.
2.4. Bảo vệ sức khoẻ
Nói chung, thẻ thông minh được sử dụng để lưu trữ dữ liệu, định dạng và xác nhận chủ
thể, cho phép hoặc giới hạn khả năng truy cập tới các công trình vật lý hoặc các nguồn thông
tin. Trong việc bảo vệ sức khoẻ, thẻ thông minh có những khả năng khác nhau bao gồm:
- Lưu trữ thông tin Y khoa cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.
- Tránh cho bệnh nhân phải cầm nhiều đơn thuốc của các bác sĩ khác nhau.
- Kiểm tra thông tin định dạng của bệnh nhân và thông tin về bảo hiểm.
- Rút ngắn thời gian làm thủ tục nhập viện và khi giải quyết các trường hợp khẩn cấp.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 9/13
- Cung cấp cho các bác sĩ đa khoa sự truy cập an toàn vào bệnh án của bệnh nhân.
- Đẩy nhanh quá trình thanh toán và khiếu nại.
- Bệnh nhân có thể truy cập vào bệnh án thông qua Internet.
Mặc dù thẻ thông minh bảo vệ sức khoẻ đã được xúc tiến đối với việc lưu trữ dữ liệu cá
nhân (Ví dụ như lưu trữ thông tin Y khoa cần thiết), nhưng trên thực tế, hầu hết những thẻ này
chỉ được ứng dụng để kiểm tra quyền đối các dịch vụ bảo vệ sức khoẻ. Đây là lĩnh vực được sử
dụng trước hết ở chúng. Ở Đức và Pháp có hai chương trình thẻ thông minh và bảo vệ sức khoẻ lớn nhất thế giới.
3. Các ngân hàng ở Việt Nam có xu hướng chuyển từ công nghệ thẻ từ sang thẻ chip 3.1 Thẻ từ ATM
Thẻ từ ATM là tấm thẻ ngân hàng được làm từ loại nhựa PET hoặc nhựa PVC. Tấm thẻ
thường được gắn dải băng từ màu đen hoặc nâu phía trên bề mặt. Dải băng này có tác dụng ghi
và lưu lại thông tin đã được mã hóa của chủ thẻ.
3.1.1 Nguyên lý làm việc
Người dùng sử dụng thẻ khi muốn rút tiền tại máy ATM hoặc quẹt thẻ trên máy POS để
thanh toán thì lúc này, thông tin được lưu ở dải băng từ phía sau sẽ được đọc bởi các đầu đọc
trong máy. Nhờ vậy mà giao dịch được thực hiện.
3.1.2 Ưu, nhược điểm
Thẻ từ ATM là loại thẻ ngân hàng đã vô cùng quen thuộc với mọi người trong suốt nhiều
năm qua. Với kích thước nhỏ gọn, người dùng có thể dễ dàng mang thẻ theo bên người đến bất
kỳ đâu. Đồng thời quá trình giao dịch diễn ra nhanh chóng và đơn giản chỉ với vài thao tác. Tuy
nhiên, chiếc thẻ này cũng tồn tại một số nhược điểm vẫn luôn là vấn đề nhức nhối của người dùng. Cụ thể như sau:
- Tính bảo mật thấp, chỉ bằng việc quẹt thẻ là có thể tiến hành thanh toán. Do đó nếu bị kẻ xấu
lợi dụng thì có thể dễ dàng bị đánh cắp thông tin thẻ. Từ đó, kẻ gian có thể tạo ra những thông
tin sao chép nhằm chiếm đoạt tài sản của khách hàng.
- Dễ bị gài các thiết bị lén ghi thao tác nhập mã PIN khi thực hiện các giao dịch.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 10/13
- Dải băng phía sau dễ bị trầy xước sau một thời gian sử dụng. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến
việc sử dụng thẻ trong tương lai. 3.2. Thẻ chip ATM
Thẻ chip là loại thẻ được gắn chip điện tử ngay phía trước thẻ. Trong con chip này sẽ
chứa thông tin đã được mã hóa của chủ thẻ. Đây là một cách hiệu quả trong việc nâng cao bảo
mật thông tin mỗi khi rút tiền mặt tại máy ATM hoặc thực hiện giao dịch tại cửa hàng.
3.2.1 Nguyên lý làm việc
Để thực hiện giao dịch trên thẻ chip cần trải qua bước xác nhận phức tạp hai chiều. Đó là
từ các thiết bị nhận thẻ cho đến ngân hàng thanh toán; Sau đó tổ chức Mastercard/Visa chuyển
thông tin đến ngân hàng phát hành. Khi đã được các tổ chức có liên quan cấp phép thì mới thực
hiện giao dịch thành công. Việc xử lý thanh toán của thẻ chip ATM là quy trình khép kín và
vòng tròn. Nguyên lý hoạt động của thẻ chip như sau:
(1) Đưa thẻ chip vào trong máy đọc thẻ, thông tin trên thẻ sẽ được giải mã và chuyển tới ngân hàng thanh toán.
(2) Ngân hàng thanh toán sẽ kiểm tra thông tin và chuyển tiếp tới tổ chức Mastercard/Visa.
(3) Hệ thống tổ chức ngân hàng thanh toán sẽ xác thực thẻ và gửi thông tin giao dịch đến ngân
hàng phát hành để yêu cầu cấp phép giao dịch.
(4) Ngân hàng thanh toán sẽ xác thực và kiểm tra thông tin. Sau đó tiếp tục cấp phép giao dịch
cho tổ chức thanh toán và ngân hàng thanh toán.
(5) Thông tin sẽ được gửi đến trực tiếp cho thiết bị máy của ngân hàng thanh toán. Lúc này,
giao dịch của chủ thẻ được thông báo thành công.
3.2.2 Ưu, nhược điểm
Thẻ chip ATM có rất nhiều ưu điểm, đây cũng là sự khác biệt giữa thẻ từ và thẻ chip.
Trong đó, thẻ chip được đánh giá nổi bật hơn
- Tính bảo mật thông tin và dữ liệu cao, an toàn cho người dùng.
- Được tích hợp nhiều dịch vụ, phương thức thanh toán mà không cần sử dụng tiền mặt.
- Thẻ chip là thẻ thanh toán quốc tế, vậy nên có thể tiến hành giao dịch trên toàn cầu.
Tuy sở hữu nhiều ưu điểm, nhưng thẻ chip vẫn có một số điểm hạn chế
- Việc thao tác chậm hơn so với thẻ từ do phải qua nhiều bước xác thực thông tin.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 11/13
- Chi phí đầu tư cho loại thẻ chip và máy đọc thẻ cũng cao hơn so với thẻ từ.
3.2.3 So sánh chi tiết thẻ từ với thẻ thông minh gắn chip
Bảng 3.2.3.1: So sánh chi tiết thẻ từ với thẻ gắn chip Tiêu chí Thiết kế Thẻ từ
Mặt sau có một dải băng màu Thẻ chip
Mặt trước có gắn chip điện tử. Đi kèm với
đó là biểu tượng cột sóng thể hiện thẻ có Loại thẻ nâu hoặc đen Thẻ từ Hico/Loco
Có 3 loại thẻ: Thẻ chip tiếp xúc, thẻ chip
thể thanh toán điện tử không tiếp xúc Độ bền
Độ bền không cao, dải băng dễ
phi tiếp xúc và thẻ chip giao diện kép
Độ bền cao, thông tin trên thẻ có thể xoá trầy xước chủ thẻ đằng sau đi và ghi lại Mã PIN Cách nhận
Dải băng từ và có chữ ký của diện chủ thể
Được mã hoá trên dải băng từ
Được mã hoá và lưu lại trên con chip và Nơi lưu trữ thông tin chủ dải băng từ phía sau thể
- Tích hợp được nhiều ứng dụng trên cùng hợp ứng dụng Không
một con chip như thẻ sinh viên, Khả năng tích sổ tiết kiệm…
- Tính năng thanh toán không cần tiếp
xúc, cho phép chủ thẻ thanh toán nhanh
chóng chỉ bằng cái chạm.
Dạng văn bản và chỉ được mã Hình thức mã
Dạng hệ nhị phân trên máy tính và có thể
hoá một lần duy nhất, không thể hoá thông tin thay đổi liên tục bảo mật thay đổi trong tương lai Thấp Cao Về mức độ
Cần thẻ trắng vì thông tin trên Khi muốn sửa
Không cần thẻ trắng vì thông tin trên thẻ
thẻ chỉ lưu được một lượng nhất thông tin
có thể xoá đi và ghi lại rất nhiều lần định
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 12/13
3.3. Các ngân hàng tại Việt Nam dần chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip
Với những ưu điểm vượt trội của thẻ thông minh gắn chip so với thẻ từ được nêu ở trên,
dễ hiểu tại sao các ngân hàng bắt buộc khách hàng của mình chuyển từ thẻ từ ATM sang thẻ gắn chip
Dựa theo Thông tư 41/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước phát hành đã quy định thẻ từ
ATM sẽ chính thức ngừng sử dụng trước ngày 31/12/2021. Sau đó, tất cả mọi người đều phải
chuyển qua sử dụng thẻ chip để tăng cường bảo mật cho bản thân. Chi tiết lợi ích đến từ việc sử dụng thẻ chip như sau:
- Thẻ chip thực hiện giao dịch chỉ cần một mã duy nhất, không bao giờ lặp lại. Vậy nên dù
thông tin khách hàng bị đánh cắp để làm giả thì thẻ đó cũng bị máy đọc thẻ từ chối.
- Mỗi lần tiến hành thanh toán đều phải qua nhiều bước xác thực thông tin và cấp phép bởi nhiều bên.
Họ tên SV/HV: Trần Xuân Tùng - Mã LHP: 231_PCOM0111_08 Trang 13/13