



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂN
MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỊA ĐIỂM: BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM
Chủ đề: Vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Lệ Thu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Khánh Linh
Mã sinh viên: 27A4011084 Lớp: K27CLC-NHTCQTB Hà Nội – 10/2025 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM.........................3
PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
QUA CHỦ ĐỀ “ PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH”.................................................4
2.1. HÔN NHÂN...................................................................................................4
2.1.1. Xã hội phụ hệ..........................................................................................4
2.1.2. Xã hội mẫu hệ.........................................................................................5
2.2. SINH ĐẺ........................................................................................................6
2.3. CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH.............................................................................8
2.3.1. Trồng trọt................................................................................................8
2.3.2. Đánh bắt, hái lượm.................................................................................9
2.3.3. Bữa ăn....................................................................................................10
2.3.4. Dệt may..................................................................................................10
2.3.5. Làm gốm................................................................................................11
2.3.6. Buôn bán nhỏ........................................................................................12
2.3.7. Nuôi dạy con..........................................................................................13
PHẦN 3: CẢM NHẬN VÀ LIÊN HỆ BẢN THÂN............................................15
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................16
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THAM QUAN BẢO
TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM................................................................................17 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong bộ môn Chủ
nghĩa xã hội khoa học của Học viện Ngân hàng đã quan tâm và tạo điều kiện cho sinh
viên chúng em được tham quan, trải nghiệm tại các địa điểm thực tế. Qua đó, sinh viên
chúng em có thể tiếp thu thêm được nhiều kiến thức mới, áp dụng lý thuyết vào thực
tiễn, giúp chúng em có những trải nghiệm đáng nhớ và những bài học quý báu.
Tiếp đến em xin được gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Lệ Thu – giảng viên bộ môn
Chủ nghĩa xã hội khoa học đã quan tâm, hướng dẫn em trong quá trình làm bài thu hoạch.
Ngoài ra, em xin được gửi lời cảm ơn đến Bảo tàng phụ nữ Việt Nam đã tiếp đón,
hỗ trợ nhiệt tình cho em trong quá trình tham quan và thực hiện bài thu hoạch.
Dù đã rất cố gắng, bài thu hoạch vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
hi vọng sẽ nhận được những lời nhận xét, góp ý từ cô để em có thể rút kinh nghiệm cho những lần sau.
Em xin chân thành cảm ơn! LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình học tập, việc tham gia các chuyến đi thực tế đóng vai trò quan
trọng giúp sinh viên mở rộng hiểu biết, qua đó áp dụng lý thuyết được học qua sách vở
vào thực tiễn. Được sự yêu cầu từ bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học của Học viện
Ngân hàng, em đã có một chuyến đi thực tế vô cùng đáng nhớ tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một trong những địa chỉ văn hóa đặc sắc tại Hà Nội,
nơi lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh, tư liệu quý giá phản ánh vai trò, đóng
góp của phụ nữ Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử cũng như trong đời sống hiện đại.
Bài thu hoạch này với chủ đề “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam”
là tổng hợp những nội dung, kiến thức và cảm nhận trong quá trình tham quan Bảo tàng
Phụ nữ Việt Nam. Bài thu hoạch này đã giúp em hiểu thêm về vai trò cũng như sự cống
hiến to lớn của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam.
PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được thành lập vào năm 1987, thuộc Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam. Người đặt nền móng cho sự ra đời của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là bà
Nguyễn Thị Định, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam, nguyên chủ tịch
Hội Liên hiệp Phụ nữ Viêt Nam. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ra đời nhằm lưụ giữ những
tài liệu, kỷ vật, chứng tích,… của thời kỳ lịch sử với mong muốn giáo dục cho thế hệ con cháu sau này.
Bảo tàng nằm ở phố Lý Thường Kiệt - một con phố nằm ở trung tâm thủ đô, gần
hồ Hoàn Kiếm và khu phố cổ Hà Nội. Đây là một vị trí thuận lợi để người dân cũng như
du khách có thể dành thời gian để tham quan.
Năm 1991, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được khởi công xây dựng. Năm 1995,
Bảo tàng chính thức mở cửa đón khách tham quan. Cuối năm 2010, Bảo tàng Phụ nữ
Việt Nam mở cửa trở lại sau một thời gian sửa chữa, nâng cấp, ra mắt công chúng một
diện mạo mới với hệ thống hệ thống trưng bày thường xuyên gồm ba 3 chủ đề: Phụ nữ
trong Gia đình; Phụ nữ trong Lịch sử; Thời trang nữ và chuyên đề: Tín ngưỡng thờ Mẫu
gồm 4 nội dung: Mẫu, Tâm, Đẹp, Vui.
Bảo tàng đã phát triển các bộ sưu tập với hơn 40.000 tài liệu hiện vật liên quan
đến phụ nữ Việt Nam. Bên cạnh hệ thống trưng bày thường xuyên, Bảo tàng tổ chức
nhiều trưng bày chuyên đề, triển lãm với phương pháp tiếp cận mới, phản ánh sự phát
triển và thay đổi của xã hội đương đại bằng các dự án hướng tới nhiều đối tượng khác
nhau, đặc biệt là tới phụ nữ và trẻ em.
Trải qua chặng đường phát triển sáng tạo và không ngừng đổi mới, Bảo tàng Phụ
nữ Việt Nam được đông đảo du khách trong nước và quốc tế đón nhận. Bảo tàng được
bình chọn trên website TripAdvisor là điểm đến hấp dẫn nhất Hà Nội trong nhiều năm
liên tiếp và Top 25 Bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á. Bảo tàng cũng vinh dự đón nhận giải
thưởng “Phụ nữ Việt Nam năm 2015” và “Điểm tham quan du lịch hàng đầu Việt
Nam” trong hai năm 2015-2016.
PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
VIỆT NAM QUA CHỦ ĐỀ “ PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH”
Chủ đề “ Phụ nữ trong gia đình” là một trong ba chủ đề chính được trưng bày ở
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam bên cạnh hai chủ đề là “Phụ nữ trong lịch sử” và “Thời trang
nữ” cùng với chuyên đề “Tín ngưỡng thờ Mẫu”. Thông qua những hình ảnh, hiện vật
cùng các tư liệu khác, ta có thể cảm nhận được quá trình của người phụ nữ Việt Nam từ
kết hôn, sinh đẻ cho đến trong cuộc sống hàng ngày. 2.1. HÔN NHÂN
Khởi đầu cho cuộc sống gia đình chính là hôn nhân, từ đó thông qua bảo tàng, hai
hình thái xã hội ở nước ta là xã hội phụ hệ và xã hội mẫu hệ.
2.1.1. Xã hội phụ hệ
Đa số các tộc người ở Việt Nam đều sống theo chế độ phụ hệ. Khi đó, người chồng,
người cha có vị trí quan trọng hơn và được coi là trụ cột của cả gia đình. Con cái đều
mang họ của cha, tuy nhiên quyền thừa kế tài sản lại thuộc về con trai, nhất là con trưởng.
Trong lễ cưới, nhà trai có vai trò chủ động. Lễ cưới diễn ra ở nhà trai và cô dâu sẽ
chuyển đến chung sống với gia đình chồng. Việc cưới hỏi sẽ trải qua các bước sau: lễ
dạm hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Ngoài việc nhờ người mai mối và nhiều nơi có tập tục
chọn ngày đẹp, giờ tốt để tiến hành các nghi lễ, nhà trai cũng phải đáp ứng yêu cầu của
nhà gái về của cải thông qua việc thách cưới.
Với người Việt, việc xem tuổi, chọn ngày, chọn giờ cho các nghi lễ cũng rất là
quan trọng để đảm bảo mọi thứ được diễn ra tốt đẹp. Ngày trước, hôn nhân thường được
sắp xếp giữa những gia đình có cùng địa vị, tuy nhiên hiện nay thanh niên có quyền tự
do lựa chọn và các cuộc hôn nhân đều trên cơ sở tự nguyện.
Việc kết hôn sẽ phải trình báo với gia tiên. Tuỳ yêu cầu của nhà gái, sính lễ của
nhà trai có thể nhiều hoặc ít, tuy nhiên không thể thiếu một số món quan trọng như trầu,
cau,…Sính lễ thường được đựng trong tráp hoặc khay. Ngoài ra, thiệp mời cũng trở nên
phổ biến từ năm 1980 và ngày trước khách tặng quà bằng hiện vật, ngày nay chủ yếu là tiền.
*)Một số hiện vật được trưng bày ở bảo tàng:
Hình 1: Tráp và khay đựng sính lễ. Hình 2: Một số hiện vật về quà cưới
2.1.2. Xã hội mẫu hệ
Đây là truyền thống của sáu tộc người ở Tây Nguyên: Ê-đê, Mnông, Gia-rai,
Cơho, Chu-ru vầ của người Chăm ở đồng bằng Nam Trung Bộ. Tại đây người phụ nữ
lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ là người có quyền quyết định mọi thứ.
Trong lễ cưới, sự chủ động thuộc về nhà gái. Tuỳ mỗi tộc người có tập tục cưới
hỏi riêng nhưng đều có điểm chung như: chú rể sẽ cư trú cùng gia đình vợ, các con sẽ
mang họ mẹ, con gái sẽ thừa kế tài sản và ưu tiên con gái út. Để hỏi chồng cho con gái
và đưa con rể về nhà, nhà gái sẽ đền bù của cải cho nhà trai dưới hình thức lễ vật được
thoả thuận giữa đôi bên.
Hình 3,4: Một số hiện vật được trưng bày tại bảo tàng
Qua không gian trưng bày về hôn nhân, em thấy được người phụ nữ Việt Nam dù
ở chế độ phụ hệ hay mẫu hệ đều giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và gắn kết
gia đình. Họ không chỉ là người vợ hiền đảm đang, mà còn là biểu tượng của tình yêu,
sự hi sinh và lòng thủy chung. Những nghi lễ cưới hỏi truyền thống được tái hiện tại
bảo tàng không chỉ thể hiện nét đẹp văn hóa dân tộc, mà còn khẳng định giá trị thiêng
liêng của người phụ nữ trong việc hình thành và giữ gìn mái ấm. 2.2. SINH ĐẺ
Với quan niệm con cái là tài sản của mỗi gia đình và để duy trì nòi giống dòng họ
qua các thế hệ nên ở Việt Nam rất coi trọng việc có con. Có rất nhiều cách để người ta
thể hiện niềm mong mỏi có con sau khi kết hôn, nhất là với những người gặp hiếm
muộn. Nghi lễ cầu tự đến nay vẫn còn phổ biến ở nhiều tộc người. Ở người Việt, nhiều
đôi vợ chồng muộn sinh con thường đến làm lễ ở chùa, đền hay miếu. Một số tộc người
mời thầy cúng tiến hành nghi lễ tại nhà. Trong thời kỳ mang thai, phụ nữ phải kiêng cữ
và thực hiện nhiều nghi lễ để bảo vệ mình và thai nhi.
Hình 5: Một số loại bùa, vòng để tránh gió, trừ tà
Ngày nay, với sự tiến bộ của y tế, các bà mẹ có sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ
ngay từ giai đoạn đầu của thai kỳ. Trước khi sinh, phụ nữ cũng thực hiện một số tập tục
đã được lưu truyền trong dân gian như ăn cháo vừng để dễ sinh ở người Việt, Người
Hmông và người Dao mời thầy cúng đến làm phép khi khó đẻ, người Thái bôi hạt vừng
giã nát lên bụng,… Việc sinh con của người phụ nữ từ trước năm 1960 cho đến nay
cũng có nhiều thay đổi. Trước kia, phụ nữ thường sinh con tại nhà hoặc trong rừng, đẻ
đứng hay đẻ quỳ theo tập tục nhưng đa phần hiện nay họ sinh con ở trạm xá, bệnh viện.
Hình 6: Dụng cụ và sổ khám thai. Hình 7: Dụng cụ đỡ đẻ, vòng, áo sơ sinh
Trong thời gian mang thai, người phụ nữ được chăm sóc đặc biệt và tuân theo
nhiều tập tục kiêng cữ dân gian để bảo vệ sức khỏe cho mẹ và con. Sau khi sinh, người
mẹ sẽ ở cữ trong một khoảng thời gian, được ăn uống, chăm sóc, nghỉ ngơi theo một
chế độ riêng. Nhiều nơi còn có phong tục xông than, nằm sưởi, tắm nước lá thuốc để
giúp cơ thể được hồi phục.
Hình 8, 9: Một số vị thuốc, dụng cụ bảo vệ sản phụ
Ngoài ra, những hiện vật như địu, mẹt, nôi tre,… được trưng bày trong bảo tàng
cho em cảm nhận được hình ảnh người mẹ hiền hậu, tảo tần, luôn dành trọn tình yêu
thương cũng như là tấm lòng hi sinh cao cả vì con cái.
Hình 10,11: Một số hiện vật như nôi, địu, mẹt
Phần trưng bày về sinh đẻ đã cho em thấy được quá trình từ mong ước có con của
gia đình, quá trình khám thai, sinh đẻ, chăm sóc con sau sinh, giúp em hiểu sâu sắc hơn
về thiên chức làm mẹ cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Từ những nghi lễ cầu tự,
quá trình sinh đẻ cho đến hình ảnh người mẹ địu con, tất cả đều thể hiện sự hi sinh thầm
lặng và tình yêu vô bờ bến. Dù trải qua nhiều khó khăn, người phụ nữ vẫn luôn kiên
cường, dịu dàng và đầy bao dung. Chính họ là người gìn giữ mạch sống, nuôi dưỡng
hạnh phúc và tiếp nối các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam.
2.3. CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH
“Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, câu tục ngữ này đã cho ta thấy được vai trò
vô cùng to lớn của người phụ nữ trong gia đình. Họ vừa là người vợ, người mẹ, vừa là
người lao động, người gìn giữ những nét đẹp văn hoá truyền thống. Bảo tàng đã giới
thiệu vai trò của người phụ nữ trong gia đình được thể hiện qua nhiều hoạt động khác
nhau trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công, buôn bán nhỏ và nuôi dạy con cái thông
qua những hình ảnh, hiện vật quý giá. 2.3.1. Trồng trọt
Trong việc trồng trọt, phụ nữ tham gia vào các công đoạn như cấy lúa, làm cỏ, bón
phân, ngoài ra, họ cũng tham gia thu hoạch, cày bừa - những công việc thường do nam
giới đảm nhiệm. Hiện nay, công việc của họ đỡ vất vả hơn do có sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật.
Hình 12,13: Một số dụng cụ phục vụ cho việc trồng trọt
2.3.2. Đánh bắt, hái lượm
Ở nhiều nơi, việc đánh bắt, hái lượm vẫn được diễn ra nhằm đảm bảo nguồn cung
thực phẩm đầy đủ cho gia đình. Nếu đàn ông thường dùng đồ đơm cá, câu cá, chài, lưới
và thường đánh bắt xa bờ hoặc chỗ nước sau thì phụ nữ sẽ chủ yếu đánh bắt cá bằng rổ,
vợt và họ sẽ đánh bắt trong khu vực ở gần làng hoặc những chỗ nước nông. Ngoài ra,
việc hái lượm được tiến hành quanh năm và sản phẩm chính là rau rừng, măng, hoa quả,
nấm, mật ong và cây thuốc.
Hình 14, 15: Một số dụng cụ đánh bắt, hái lượm 2.3.3. Bữa ăn
Trong cuộc sống thường ngày, việc chuẩn bị một bữa ăn là một công việc quan
trọng đối với người phụ nữ. Họ sẽ chuẩn bị nguồn lương thực thực phẩm, từ việc đi
đánh bắt, hái lượm, nuôi, trồng, hoặc mua. Ngoài ra, họ cũng đảm nhiệm thêm các công
việc như xay thóc, giã gạo, dự trữ và bảo quản thức ăn. Tuy nhiên, hiện nay việc chuẩn
bị cho bữa ăn cũng có sự thay đổi khi bếp củi dần được thay thế bởi bếp than, bếp ga,
bếp điện, nhiều loại thực phẩm cũng đã được chế biến sơ qua tại các chợ, siêu thị cùng
với sự xuất hiện của việc mua sắm trực tuyến khiến cho công việc bếp núc của người
phụ nữ bớt vất vả đi phần nào.
Hình 16,17: Một số dụng cụ bảo quản thức ăn và một số dụng cụ trên mâm cơm 2.3.4. Dệt may
Dệt may là một hoạt động phổ biển ở nhiều dân tộc. Nếu như nam giới sẽ chế tác
các công cụ, xa quay sợi và khung cửi thì phụ nữ sẽ là những người trồng bông, trồng
chàm, nuôi tằm, dệt vải và may vá. Họ cũng dạy cho con cái cách dệt, thêu thùa, may
vá và khi về già, họ vẫn tiếp tục dệt vải, thêu thùa, may vá để làm quà tặng cho con cháu.
Hiện nay, với sự phát triển của các loại công cụ, máy móc, sự xuất hiện của nhiều
chất liệu vải cùng với những bộ trang phục có mẫu mã đa dạng, nghề dệt may có phần
giảm đi, tuy nhiên nhiều gia đình vẫn duy trì nghề dệt may để kiếm thêm thu nhập cho
gia đình, đồng thời tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ơ
các dân tộc miền núi, các sản phẩm như trang phục truyền thống, các món đồ lưu niệm
như túi, mũ, kẹp tóc được nhiều du khách yêu thích và ủng hộ nhiệt tình.
Hình 18: Một số dụng cụ dệt may, thêu thùa cùng trang phục truyền thống 2.3.5. Làm gốm
Nghề làm gốm vẫn được duy trì ở một số gia đình. Phụ nữ Chu-ru ở Lâm Đồng và
phụ nữ Chăm ở Bình Thuận vẫn tiếp tục nghề làm gốm theo những kỹ thuật truyền
thống. Họ sẽ phơi khô đất sét, đập tơi, sàng để tạo thành bột nhỏ mịn rồi sẽ cho vào
nước nhào cho đến khi bột nhuyễn và dẻo. Sau đó họ vê đất thành từng lọn dài và cuộn
lại để tạo thành sản phẩm. Ở đây họ không dùng bàn xoay mà sẽ đi vòng quanh giá đỡ
- là tấm gỗ có chân tới ngang tầm tay rồi dùng tay nặn sản phẩm. Dụng cụ làm gốm ở
đây chỉ gồm có bàn đập, vòng tre nạo đất, miếng vải nhúng nước để chuốt cho nhẵn,
hạt hoặc hòn đá cuội để chà cho bóng, người Chăm còn dùng vỏ sò để trang trí hoa văn.
Gốm sau đó được để khô rồi nung. Họ sẽ xếp gốm lên lớp củi, vật lớn ở dưới, vật nhỏ
ở trên rồi dựng củi và chất thêm rơm rạ xung quanh gốm và đốt trong vài giờ. Sản phẩm
chủ yếu là nồi, ấm, bếp lò,… thường dùng trong gia đình và đôi khi cũng dùng để bán.
Hình 19: Một số dụng cụ làm gốm
2.3.6. Buôn bán nhỏ
Buôn bán nhỏ là hoạt động kiếm sống từ lâu đời của một số dân tộc, đa số do người
phụ nữ đảm nhiệm. Hoạt động này thường được tiến hành tại chợ, ngoài ra một số người
sẽ rong ruổi trên khắp các con phố hay có thể buôn bán tại nhà. Ở các tỉnh miền núi,
chợ phiên là một nét văn hoá không thể thiếu, là cầu nối giao lưu kinh tế văn hoá với
nhiều người. Hay ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có hình thức chợ nổi trên sông tạo
thành nét văn hoá đặc sắc không thể nào không trải nghiệm thử khi tới nơi đây. Tiếp
đến, hình thức bán hàng rong thường thấy ở những thành thị lớn, người bán có thể mang
hàng hoá bằng cách gánh trên vai, đội lên đầu hay dùng xe đạp chở hàng hoá, tuy nhiên
hình thức này đang giảm dần do có nguy cơ về trật tự công cộng và nguy cơ về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hiện nay, việc buôn bán ngày càng được mở rộng và có thêm nhiều hình thức đa
dạng như ở siêu thị, bán hàng trực tuyến hay ở các cửa hàng, điều này đã giúp nhiều
người, đặc biệt là phụ nữ có việc làm ổn định, từ đó đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình.
Hình 20,21,22: Một số hình ảnh về các hình thức bán hàng và dụng cụ đo lường
2.3.7. Nuôi dạy con
Trong xã hội truyền thống, nếu người chồng là trụ cột kinh tế của gia đình thì
người vợ sẽ lo việc nhà và chăm sóc con cái. Từ nhỏ, con cái đã được giáo dục qua
những bài hát ru, những câu chuyện cổ tích, những món đồ chơi hay các trò chơi. Lớn
thêm một chút, con cái sẽ được hướng dẫn lao động qua những món đồ chơi và những
dụng cụ phù hợp. Đặc biệt, các bé gái sẽ được mẹ hướng dẫn làm việc nhà, làm các
công việc bếp núc đơn giản để giúp ích cho sau này. Ngoài ra, mỗi lúc bị đau ốm, mẹ
luôn là người ở bên chăm sóc, lo lắng cho từng bữa ăn, giấc ngủ. Tuy nhiên vào thời
điểm hiện nay, việc nuôi dạy, chăm sóc con cái đều là sự đồng hành cũng như là trách
nhiệm của cả cha và mẹ.
Ở một số tỉnh miền núi, tập quán địu trẻ hiện nay vẫn còn phổ biến và hầu hết trẻ
em đều đội mũ. Mũ không chỉ là một phụ kiện dùng để làm đẹp mà còn là phụ kiện giúp
giữ ấm cho trẻ, đồng thời mũ cũng được gắn bùa để xua đuổi, bảo vệ trẻ khỏi tà ma.
Hình 23: Một số dụng cụ giúp trẻ tập lao động và mũ trẻ em
Qua phần trưng bày về cuộc sống gia đình, em cảm nhận rõ hình ảnh người phụ
nữ Việt Nam hiện lên vừa giản dị, vừa vĩ đại. Họ không chỉ là người vợ, người mẹ đảm
đang, chăm lo từng bữa cơm, giấc ngủ cho gia đình mà còn là người lao động cần cù,
góp phần xây dựng kinh tế gia đình. Dù ở bất kỳ thời kỳ nào, người phụ nữ vẫn luôn là
một điểm tựa tinh thần vững chắc và là sợi dây gắn kết yêu thương giữa các thế hệ trong gia đình Việt Nam.
PHẦN 3: CẢM NHẬN VÀ LIÊN HỆ BẢN THÂN
Qua chuyến đi thực tế tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, em đã có cơ hội hiểu rõ hơn
về vai trò, vị trí và những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng to lớn của người phụ nữ
Việt Nam trong gia đình. Từ hôn nhân, sinh đẻ cho đến cuộc sống thường ngày, hình
ảnh người phụ nữ hiện lên thật dịu dàng, hiền hậu mà kiên cường, là người giữ lửa cho
hạnh phúc và là điểm tựa của mỗi mái ấm. Những hiện vật, hình ảnh, câu chuyện được
trưng bày không chỉ giúp em hiểu thêm về những nét đẹp của văn hóa dân tộc mà còn
khiến em thêm trân trọng và biết ơn thế hệ phụ nữ đi trước – những người đã góp phần
làm nên bản sắc Việt Nam đậm đà tình nghĩa.
Từ chuyến đi thực tế này, em rút ra được nhiều bài học quý giá cho bản thân. Em
cần biết yêu thương, sẻ chia và quan tâm nhiều hơn đến những người phụ nữ trong gia
đình như bà, mẹ, chị, hay chính bản thân em trong tương lai. Ngoài ra, bản thân em là
một người thuộc thế hệ trẻ cũng cần có trách nhiệm giữ gìn, phát huy những phẩm chất
tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống hiện đại. Chuyến đi không chỉ là
một buổi học thực tế, mà còn là hành trình giúp em hiểu sâu hơn về giá trị của gia đình,
của tình mẫu tử, và về vẻ đẹp bền bỉ của người phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Giới thiệu – Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
https://baotangphunu.org.vn/gioi-thieu/
2. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Trưng bày thường xuyên – Phụ nữ trong gia
đình https://baotangphunu.org.vn/phu-nu-trong-gia-dinh/
3. Các thông tin về hình ảnh, hiện vật được chú thích, trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THAM
QUAN BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM