HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI THU HOẠCH
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Chinh
Lớp học phần: 231PLT10A18
Nhóm: 07
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2023
BẢNG PHÂN CÔNG CÁC THÀNH VIÊN
HỌ VÀ TÊN MÃ SV VAI TRÒ NHIỆM VỤ
Ngô Đào Minh Hiếu 25A4050072 Nhóm trưởng Thuyết trình
Thị Hằng 25A4050043 Thành viên Làm nội dung
Trần Thị Hương Giang 25A4052335 Thành viên Làm nội dung
Phạm Thị Thùy Lam 25A4050367 Thành viên Làm nội dung
Nguyễn Thị Mai Quỳnh 25A4050957 Thành viên Thuyết trình
Hoàng Nguyễn Thùy Nhi 25A4010117 Thành viên Thuyết trình
Thị Hải Yến 25A4011012 Thành viên Thuyết trình
Nguyễn Thị Lan Hương 25A4050052 Thành viên Thuyết trình
Nguyễn Hoàng Dương 25A4052318 Thành viên Làm nội dung
Bùi Thu Hoài 25A4060535 Thành viên Làm Powperoint
Nguyễn Thị Thanh Thảo 25A4051280 Thành viên Làm nội dung
Nguyễn Thanh Thảo 25A4051282 Thành viên Làm nội dung
Bùi Trường Giang 24A4011305 Thành viên Làm Powperoint
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC.................................................1
1.1. Văn hóa...................................................................................................................1
1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc........................................................................................1
1.3. Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc................................................................2
1.4. Tính đa dạng..........................................................................................................3
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC..........3
2.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là kế thừa và phát huy những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc........................................................................................................3
2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, là nguồn động lực thúc đẩy sự phảt
triển của kinh tế, du lịch...............................................................................................4
III. GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
HIỆN NAY........................................................................................................................5
3.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay5
3.2. Cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hóa dân tộc..........7
3.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc..........................................................................................................................10
3.4. Phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế...................................................................................11
3.5. Vai trò của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc....................13
I. TỔNG QUAN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
1.1. Văn hóa
Văn hóa toàn bộ những giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra
bằng lao độnghoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ
phát triển xã hội qua từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
- Khía cạnh vật chất: là năng lực sáng tạo của con người được thể hiệnkết tinh
trong sản phẩm vật chất.
VD: Văn hóa tinh thần nhà cửa, quần áo, các phương tiện, …
- Khía cạnh phi vật chất: là tổng thể các tưởng, luận giá trị được sáng tạo
ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người
VD: ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị,...
Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Mọi nền văn hóa tronghội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp và gắn với
bản chất của giai cấp cầm quyền. Văn hóa luôn tính kế thừa, sự kế thừa được biểu
hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó.
1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc
- Khái niệm: Là nét tinh hoa được hình thành trong quá trình lịch sử phát triển của
dân tộc đó. Được con người tạo ra và thể hiện những nét riêng của dân tộc và gắn liền với
sự phát triển kinh tế hội của một quốc gia, một địa phương nào đó. đem lại sự
độc đáo sự kết nối với nguồn gốc của mỗi dân tộc, đồng thời nguồn cảm hứng
niềm tự hào cho cộng đồng dân cư.
những nét đặc trưng đặc biệt làm nên sắc thái, bản lĩnh dấu ấn riêng của
mỗi dân tộc, từ những nét đó để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.
Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm nhiều khía cạnh, như:
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc.
không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn mang trong nó các giá trị, quy tắc, truyền thống
và lịch sử của một dân tộc.
1
- Truyền thống, nghi lễ: Những nghi lễ gia đình, tôn giáo, tết nguyên đán các sự
kiện quan trọng khác thể hiện nhận thức và giá trị của dân tộc.
- Nghệ thuật và văn hóa biểu diễn: Âm nhạc, múa, hình ảnh, điêu khắc, kiến trúc và
các hình thức nghệ thuật khác cũng là phần không thể thiếu của bản sắc văn hóa dân tộc.
Chúng thể hiện tinh thần, cảm xúc và sự sáng tạo độc đáo của dân tộc.
- Trang phục truyền thống: Chúng thể hiện sự đa dạng và phong cách riêng biệt của
mỗi dân tộc và có thể phản ánh xã hội, văn hóa và lịch sử của họ.
- Ẩm thực: Cách nấu nướng, loại thực phẩm và cách tiếp khách thể hiện sự độc đáo
và văn hóa của một dân tộc.
1.3. Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc
Mỗi một bản sắc không chỉ góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước
mà còn ảnh hưởng đến văn hóa nước ta. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước,
trong suốt thời gian ấy nền văn hóa luôn tồn tại trở thành tinh hoa của lịch sử với
những đặc trưng tiêu biểu:
- Bản sắc dân tộc Việt Nam thể hiện những đặc trưng của nền văn hóa. nguồn
gốc hình thành văn hóa từ lâu đời, từ đó ngày càng phát triển, tạo nên những nét riêng biệt
đến nay.
- Bản sắc văn hóa dân tộc mang tính bền vững với thời gian. Thời gian có thay đổi
nhưng những nét văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn sẽ được gìn giữ, không khác biệt với bản
sắc văn hóa dân tộc ban đầu.
- Đặc trưng cơ bản có thể nhìn nhận từ bên ngoài về bản sắc văn hóa dân tộc là sự
tôn kính, thờ cúng tổ tiên, tôn trọng tất cả các giá trị cộng đồng gia đình, các ngành
nghề thủ công mỹ nghệ, người dân lao động cần cù…
-Việt Nammột nền văn hóa dân tộc phong phú trong cộng đồng 54 dân tộc,
có nhiều sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, tư tưởng và tôn giáo khác nhau.
- Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành phát triển phụ thuộc vào
đặc điểm của từng dân tộc, điều kiện lịch sử, điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, chế độ
chính trị giao lưu với các nền văn hóa khác.
2
Thực tế qua hàng ngàn năm lịch sử chứng minh rằng để bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam được gìn giữ tốt đẹp chính là nhờ vào tinh thần đoàn kết, sự gắn bó chặt chẽ và
gìn giữ của mỗi người dân Việt Nam.
1.4. Tính đa dạng
Tính đa dạng bản chất của văn hóa. Đặc biệt, với văn hóa Việt Nam, một nền
văn hóa “thống nhất trong đa dạng” thì tính đa dạng lại càng thể hiện trên nhiều
phương diện mức độ khác nhau, như đa dạng văn hóa tộc người, văn hóa vùng (văn
hóa địa phương), văn hóa tôn giáo, văn hóa nghề nghiệp (nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ
công, buôn bán,...), văn hóa đô thị nông thôn, thậm chí cả văn hóa làng văn hóa
dòng họ,... trong đó, chúng ta đặc biệt nhấn mạnh đến văn hóa vùng.
Văn hóa vùng (hay văn hóa địa phương) là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn
tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn
hóa về cách thức hoạt động sản xuất; về cách tổ chức hội cổ truyền giao tiếp cộng
đồng; về tín ngưỡng, về các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật; ... từ đó thể phân biệt với
các đặc trưng văn hóa của vùng khác. Những đặc trưng văn hóa đó hình thành định
hình trong quá trình lịch sử lâu dài, dodân các dân tộc trong vùng thích ứng với cùng
một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa
họ có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết.
Trên sở những quan niệm thuyết nêu trên thể phân vùng văn hóa Việt
Nam thành tương đương với 3 miền: Bắc, Trung, Nam.7 vùng văn hóa lớn
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC
2.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là kế thừa và phát huy những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc
Trải qua quá trình hình thành phát triển lâu dài, mỗi dân tộc đã hun đúc cho
mình những truyền thống văn hoá tốt đẹp. Những giá trị ấy không chỉ được lưu truyền
qua nhiều thế hệ, trường tồn với thời gian mà còn được bổ sung và phát triển phù hợp với
tình hình, đáp ứng những yêu cầu đặt ra của thời đại.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Nằm trong khu
vực nhiệt đới gió mùa, từ xa xưa, cha ông ta đã phải chống chọi với những thiên tai khắc
nghiệt như hạn hán, gió mùa, bão lũ,... Bên cạnh đó, với lợi thế địa chính trị quan trọng,
đất nước ta cũng mục tiêu xâm lăng của nhiều cường quốc trên thế giới như Trung
3
Quốc, Pháp, Mỹ, Nhật,... Để chống lại ngoại xâm thiên tai, các thế hệ con người Việt
Nam ta đã đoàn kết một lòng, xây dựng một khối thống nhất, hình thành phát triển
những phẩm chất quý báu, được gìn giữ lưu truyền cho đến ngày nay. Tiêu biểu cho
những phẩm chất ấy chính lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc, tinh thần ưa
chuộng hoà bình, yêu lao động, kiên cường, thông minh, sáng tạo trong chiến đấu, lao
động sản xuất tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, giúp đỡ nhau trong mọi điều
kiện, hoàn cảnh. Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã được hoà bình, không còn phải
chống lại ách xâm lăng của kẻ thù, nhân dân Việt Nam ta vẫn chiến đấu không ngừng trên
mặt trận kinh tế, giáo dục, văn hoá,... đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các
cường quốc năm châu.
2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, là nguồn động lực thúc đẩy sự phảt
triển của kinh tế, du lịch
Trong thế giới đang toàn cầu hóa ngày nay, việc bảo tồn gìn giữ bản sắc văn
hóa dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi văn hóa dân tộc là di sản văn hóa vô
giá, dấu ấn tưởng và linh hồn của mỗi quốc gia. tài nguyên vô cùng quý báu,
một mảnh ghép không thể thiếu góp phần vào nền văn hóa phong phú và đa dạng của thế
giới.
Văn hóa dân tộc không chỉ mang lại giá trị tinh thầncòn đóng góp rất lớn vào
phát triển kinh tế và ngành du lịch. Đối với kinh tế, việc duy trì và phát triển các nghề thủ
công truyền thống, các sản phẩm địa phương mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc không
chỉ góp phần vào việc tạo ra thu nhập cho cộng đồng còn thúc đẩy sự phát triển kinh
tếcấp độ địa phươngquốc gia. Sự độc đáo của những sản phẩm này cũng tạo ra lợi
thế cạnh tranh trong thị trường quốc tế, giúp nâng cao tầm nhìn và vị thế của quốc gia trên
sân khấu quốc tế. Ngoài ra, du lịch văn hóa cũng là một phần quan trọng trong việc tạo ra
hội việc làm thu hút đầu tư. Việc du khách đến thăm trải nghiệm văn hóa địa
phương không chỉ tạo ra thu nhập trực tiếp từ ngành du lịch còn thúc đẩy việc phát
triển các ngành công nghiệp phụ trợ như nhà hàng, khách sạn, các dịch vụ du lịch
khác. Điều này không chỉ tạo ra việc làm cho người dân địa phương mà còn mở ra cơ hội
hợp tác đầu tư với các đối tác quốc tế, đẩy mạnh quan hệ kinh t tế và địa chính trị giữa các
quốc gia.
Qua việc bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc, chúng ta cũng góp phần vào việc tăng
cường sự hiểu biết giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, góp phần vào việc xây dựng
môi trường hòa bìnhhợp tác toàn cầu. Sự tăng cường giao thương và hợp tác văn hóa
4
cũng mở ra hội mới để chia sẻ kiến thức, kỹ thuật những giá trị văn hóa quý báu,
góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế.
III. GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
HIỆN NAY
3.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam có nền văn hoá đa dạng, lâu đời gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm hình
thành phát triển của dân tộc ta. Những năm trở lại đây, sự thay đổi lớn không chỉ
trong đời sống vật chất mà còn trong đời sống tinh thần, suy nghĩ của con người với nhiều
mặt tích cực cần phát huy, nhưng những mặt tiêu cực của cũng cần được nhận diện
một cách khách quan để có thể phê phán và khắc phục một cách hữu hiệu.
Mặt tích cực
- Ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc chủ nghĩa hội, tinh thần trách nhiệm
của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước
- Nhiều nét mới trong giá trị vǎn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành.
- Tính nǎng động tính tích cực công dân được phát huy, sở trường nǎng lực
cá nhân được khuyến khích, không khí dân chủ trong xã hội tǎng lên.
- Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới ý chí vươn lên lập nghiệp,
xây dựng bảo vệ Tổ quốc luôn luôn hướng về cội nguồn, về cách mạng kháng
chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc,các danh nhân vǎn hóa, những người có công, giúp
đỡ những người hoạn nạn... trở thành phong trào quần chúng góp phần giữ gìn bản sắc
dân tộc trong quá trình hội nhập Quốc tế.
- Sự nghiệp giáo dục thu được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao
trình độ học vấn của nhân dân.
VD: Trên lĩnh vực vǎn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo bước phát triển
mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được gìn giữ. Có thêm nhiều tác phẩm có giá
trị về đề tài cách mạng và kháng chiến, về công cuộc đổi mới. Nhiều bộ sưu tập công phu
từ kho tàng vǎn hóa dân gian và vǎn hóa bác học Việt Nam trong nhiều thế kỷ được xuất
bản, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, bảo tồnphát huy những giá trị tư tưởng, học thuật
và thẩm mỹ của dân tộc. Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực,
khẳng định mạnh mẽ vǎn nghệ cách mạngkháng chiến, đẩy lùi một bước những quan
điểm sai trái. Số đông vǎn nghệ sĩ được rèn luyện và thử thách trong thực tiễn cách mạng,
5
vốn sống, giàu lòng yêu nước; trước những biến động của thời cuộc những khó
khǎn của đời sống vẫn giữ gìn được phẩm chất, kiên định quan điểm sáng tác phục vụ
nhân dân.
- Thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò trong đời sống tinh thần hội,
giao lưu vǎn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng.
- Thể chế vǎn hóa mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp xây
dựng vǎn hóa và tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc vǎn hóa
dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.
Mặt tiêu cực
- Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, một số người hoài nghi
về con đường hội chủ nghĩa, phủ nhận phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
nước ta; phủ nhận lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Không ít người còn mơ hồ, bàng quang hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu
thù địch xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta => Gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự gìn giữ bản
sắc dân tộc ở nước ta.
- Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị vǎn hóa dân tộc, chạy theo lối
sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Không ít trường hợp vì đồng tiền danh vị chà đạp lên tình nghĩa gia đình,
quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp.
- Buôn lậu tham nhũng phát triển. Ma túy, mại dâm các tệ nạn hội khác
gia tǎng.
- Nạn tín dị đoan khá phổ biến. Nghiêm trọng hơn sự suy thoái về đạo đức,
lối sống một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó cả cán bộ chức,
quyền.
- Nạn tham nhũng hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn
cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến => gây sự bất bình của
nhân dân, làm tổn thương uy tín của đảng và của nhà nước ta.
- Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Rất ít tác phẩm đạt đỉnh
cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả
của đổi mới.
6
- Giao lưu văn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số
văn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn.
- Nghệ thuật văn hóa truyền thống với đa dạng về thể loại, loại hình hiện đang dần
bị mai một. Thế hệ trẻ ngày nay cả tầng lớp trung lưu không còn thích xem chèo,
tuồng, hát ca trù. Một số nhạc cụ độc đáo của người Việt đang ít được chú ý bảo tồn
phát huy.
- Tôn giáo tín ngưỡng: Lễ hội văn hóa truyền thống nhưng tình trạng ngày nay
tổ chức quá nhiều lễ hội vừa tốn kém nguy bị tín dị đoan hóa, hiện tượng lợi
dụng lễ hội để cầu lợi cho cá nhân.
3.2. Cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hóa dân tộc
Trong bối cảnh hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ
trên quy lớn. Toàn cầu hóa tạo hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố
gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia trên thế giới. Trong đó Việt Nam cũng
một quốc gia chịu sự tác động lớn của quá trình này. Bên cạnh những cơ hội cần nắm bắt
cũng xuất hiện những thách thức cần phải đối mặt.
Cơ hội
- Những thay đổi mạnh mẽ về duy: lẽ chưa bao giờ trong nhận thức hội,
các quan niệm, khái niệm về tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ, phát triển con người,
phát triển bền vững, tự do văn hóa, báo chí, sáng tác… lại được bàn luận trên nhiều diễn
đàn với các quy mô khác nhau như hiện nay. Điều này không chỉ có tác dụng đánh thức tư
duy, nhận thức mới về sứ mệnh của văn hóa mà còn khắc phục được sự phiến diện, thiên
lệch hoặc tầm nhìn hạn hẹp khi xác định vai trò của văn hóa trong phát triển. Từ năm
1998, với Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, văn hóa được xác định nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ nền
tảng này, văn hóa còn được xác địnhmột trong bốn trụ cột của phát triển bền vững, có
vị trí ngang với kinh tế, chính trị và xã hội. Từ đây, văn hóa không chỉ có chức năng nhận
thức, giáo dục, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người còn nguồn lực nội sinh,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
- Những đổi mới trên phương diện quản văn hóa: Song song với việc xác định
được hình phát triển của nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”,
những đổi mới mạnh mẽ trên phương diện quản văn hóa đã tạo ra những bước ngoặt
7
quan trọng trong hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản văn hóa; tham gia tích
cực vào việc tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng
cả nước, tăng trưởng GDP địa phương và thúc đẩy phát triển du lịch
- Những động lực mới để văn hóa phát triển đa dạng: Quá trình đổi mới, hội nhập
tiếp biến văn hóa trên nhiều khía cạnh đã tạo ra những động lực mới để văn hóa phát
triển đa dạng, phong phú; xuất hiện nhiều loại hình, trong đó cả những thiết chế văn
hóa mới. Các sản phẩm văn hóa không chỉ góp phần quan trọng tạo không khí dân chủ,
cởi mở hơn, dân trí được nâng cao, tính năng động sáng tạo, tự chủcòn phát huy tính
tích cực xã hội của con người, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt
Nam. Sản phẩm văn hóa tăng đáng kể về số lượng, có dấu hiệu tích cực về chất lượng, đã
đang hình thành thị trường sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật… Văn học, nghệ
thuật đã tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị, phản ánh mọi lĩnh vực đời sống, đang nỗ lực đổi
mới tư duy sáng tạo, tìm tòi phương thức mới để nâng cao năng lực khám phá cuộc sống.
Hệ thống thông tin đại chúng bước phát triển mạnh, truyền văn hóa đến với công
chúng ngày càng rộng hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành duy phản
biện xã hội trên phương tiện thông tin đại chúng…
- Thành tựu trong đối ngoại văn hóa: Bằng cách tích cực và chủ động mở rộng hợp
tác quốc tế về văn hóa, đường hướng “phát triển văn hóa đối ngoại” đã trở thành phương
châm chính trong chiến lược đối ngoại của các ngành quản lý văn hóa, du lịch, ngoại giao.
Kết quả đem lại là hàng loạt các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam đã đến
được với bạn bè quốc tế, thể hiện rõ tính độc đáo, đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Hàng
loạt các di sản văn hóa Việt Nam đã được ghi danh, xếp hạng là di sản văn hóa của nhân
loại như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Quan họ (Bắc Ninh), Ca trù, Nhã nhạc cung đình
Huế… và gần đây nhất là “thực hành tín ngưỡng Tam phủ”…
- Mở ra những kênh trao đổi học thuật với nhiều quốc gia văn minh trên thế giới:
Qua các phương thức khác nhau từ du học sinh đến trao đổi học giả… Trong lối sống
phong cách sống, tiếp biến văn hóa của Việt Nam với thế giới đã đem lại những thành tựu
rực rỡ. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế hàng loạt các thay đổi trên các
phương diện thụ hưởng cuộc sống, nâng cao chất lượng sống và thay đổi ứng xử liên quan
đến bình đẳng giới…
Thách thức
Thứ nhất, thách thức từ thực trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
8
Đây là một trong những nguy cơ, thách thức lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc nói chung, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng. Cốt lõi trong giá trị truyền
thống văn hóa của dân tộc ta yêu nước, trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt khát
vọng vươn lên xây dựng đất nước hùng cường, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, con
người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, truyền thống ấy là trách nhiệm trong xây dựng
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đi ngược lại, cản trở
khát vọng đó của nhân dân ta.
Thứ hai, thách thức từ sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, tình trạng gia tăng tội
phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Đây một trong những vấn đề hội gây bức xúc trong nhân dân trong giai đoạn hiện
nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Đạo đức, lối sống trong gia đình, học
đường, xã hộimặt xuống cấp đáng lo ngại, gây bức xúc cho xã hội”, “Môi trường văn
hóa những mặt chưa thực sự lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục truyền thống
văn hóa dân tộc”, “Tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột
hội... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân”.
Những biểu hiện về tội phạm đã làm gia tăng mâu thuẫn, xung đột xã hội ở nước ta
hiện nay, trái với truyền thống đoàn kết, gắn bó, nhân ái của dân tộc. Những xung đột
trong thường xảy ra giữa các nhân, nhóm dân cư, nhóm hội với cáclĩnh vực xã hội
quan thực thi chính sách, pháp luật địa phương; các xung đột hội trong lĩnh vực
văn hóa diễn ra ngày càng phức tạp, trong đó có những vấn đề liên quan đến lễ hội, di tích
lịch sử văn hóa, cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo...
Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu
thuẫn, xung đột hội nước ta nhìn chung vẫn chậm được khắc phục, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của đất nước giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
trong tình hình mới.
Thứ ba, thách thức của sự “xâm lăng văn hóa”, phai nhạt, đánh mất bản sắc văn
hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hội
nhập quốc tế.
Về mặt văn hóa, mỗi quốc gia phải đứng trước và luôn luôn phải xử lý mâu thuẫn
giữa toàn cầu hóa xu hướng mạnh, tạo ra các giá trị phổ quát chung với bản sắc văn
hóa riêng, độc đáo của dân tộc.
9
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ đã thúc đẩy quá trình hình thành hội
thông tin, nền kinh tế số; đồng thời cũng đe dọa đến bản sắc văn hóa của các quốc gia,
dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một số nước lớn lợi dụng quá trình toàn cầu
hóa để tìm cách truyền bá, thực hiện mưu đồ “bá quyền văn hóa”, làm phai nhạt các giá trị
truyền thống của các dân tộc khác. Nhiều nội dung phản giá trị, phản văn hóa, tưởng
độc hại dễ dàng xâm nhập, làm biến dạng các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống. Đây
một nguy cơ đang hiển hiện và ngày một gia tăng đối với Việt Nam, nhất là những tác
động tiêu cực của tới thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang gặp những thách
thức về việc phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của
dân tộc. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn
có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ
nạn hội. Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền còn lớn. Nhiều di
sản văn hóa quý báu của dân tộc nguy bị xuống cấp, mai một, thậm chí bị tiêu
vong...
thể thấy, bên cạnh việc hình thành duy sống chất lượng, lối sống ích kỷ, vụ
lợi nhân cũng bắt đầu hình thành ngày càng xâm nhập vào nhiều tầng lớp trong
hội. Lối sống thiên về hưởng thụ, sống gấp đang hủy hoại dần nhân cách của nhiều người
dẫn đến nhiều giá trị truyền thống dần trở nên mai một.
3.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc
Thứ nhất, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam để làm nền tảng, sức mạnh nội
sinh bảo đảm đất nước phát triển bền vững.
Thứ hai, phát triển con người toàn diện xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực phát triển đất nước, hội nhập quốc tế.
Thứ ba, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.
Thứ tư, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng
cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai
trò tiên phong, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng.
Thứ năm, xây dựng nền văn hóa Việt Nam nền văn hóa thống nhất mà đa dạng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
10
Hơn 50 n tộc sống trên đất nước ta đều tham gia không chỉ một cuộc sống
tiện nghi còn phát triển một nền văn hóa dân tộc Việt Nam ngày càng tiên tiến, hiện
đại và đậm đà bản sắc dân tộc.
3.4. Phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Phương hướng
Sau khi nghiên cứu về thực trạng, những ảnh hưởng của hội nhập quốc tế và những
đổi mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ta đưa ra một vài phương hướng giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cụ thể như sau:
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng về xây
dựng và phát triển văn hóa.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chế định pháp thiết chế văn hóa bảo đảm xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Phát triển toàn diện đồng bộ các lĩnh vực văn hoá, môi trường văn hoá, đời
sống văn hoá, nâng cao tính sáng tạo của nền văn hóa dân tộc.
- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có phương pháp, chọn lọc, cách
thức phù hợp.
- Tích cực đấu tranh, bài trừ các sản phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy,
gạt bỏ những hủ tục để tạo dựng đời sống tinh thần lành mạnh trong nhân dân.
- Thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các
vùng miền và các giai tầng xã hội.
- Công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm
quan trọng của việc hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc cần được nâng cao.
- Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước.
Giải pháp
Từ những phương hướng được đề xuất, để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp
tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội con người trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt cần thực hiện các
nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau:
11
Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân
tích cực tham gia các hoạt động văn hóa.
- Tuyên truyền lồng ghép trong các cuộc sinh hoạt chi đoàn; thành lập các nhóm
trên mạng xã hội để trao đổi, chia sẻ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giữ gìn nét văn
hóa truyền thống dân tộc.
- Gia đình, cộng đồng cũng phải chung sức, chung lòng để tô đậm thêm nữa những
giá trị văn hóa đó trong sự trà trộn của những nền văn hóa khác.
- Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền mang đến
cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.
Hai là, chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc.
Ba là, tích cực xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh:
- Huy động các nguồn lực sự sáng tạo để đầu xây dựng công trình thiết
chế văn hóa,
- Khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, đoàn thể tham gia hoạt động văn
hóa, nghệ thuật
- Quản lý và bảo vệ các di tích, di sản văn hóa.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và có biện pháp quản lý đối với các
hoạt động văn hóa.
Năm , đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ
cho cán bộ quản lý các ngành văn hóa, nhất là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ văn hóa
là người dân tộc thiểu số.
Sáu , phát triển kinh tế văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên
môi trường xã hội văn hóa mình.
Bảy, mở rộng hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu một cách chọn lọc
các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, tích cực phổ biến rộng rãi những
tinh hoa, văn hóa Việt Nam.
Như vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trách nhiệm chung của những người
con Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng chúng ta. Nhưng chúng ta tin những gì là thuộc
về bản chất con người Việt Nam, nét đẹp trong văn hóa Việt Nam thì trong tiềm thức mỗi
người dân đều ý thức giữ gìn. Các bạn trẻ ngoài việc được giáo dục, cũng phải tự ý
12
thức về điều đó, để đất nước chúng ta sau này phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc thì
cũng giống họ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc.
3.5. Vai trò của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Hiện nay, hầu hết thanh niên Việt Nam đã phát huy vai trò xung kích trong việc
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều thanh niên đã nhận thức đúng tình hình
nhiệm vụ, nêu cao chí tiến thủ, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, sức mạnh của tuổi trẻ,
đảm đương những việc khó, chấp nhận mọi gian nan, thử thách, chủ động, sáng tạo, góp
phần tạo nên những thành tựu mới to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Các hoạt động của thanh
niên trong những năm gần đây tiếp tục phát triển, với các phong trào: “Thanh niên tình
nguyện”, “Tuổi trẻ giữ nước”,… đã tạo được những dấu ấn tốt đẹp trong đời sống xã hội.
Các phương thức sinh hoạt truyền thống, giáo dục đạo đức, lối sống, các hoạt động giúp
nhân dân chống bão lụt… đã thu hút đông đảo lực lượng trẻ vừa đóng góp vào nhiệm vụ
chung, vừa thiết thực chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên.
Tuy nhiên, họ vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức trong việc giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc. Trên thực tế vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ nhận thức
về chức trách, nhiệm vụ nói chung, về lịch sử, truyền thống, về bản sắc văn hóa dân tộc
nói riêng chưa thật sự sâu sắc, dẫn tới những vi phạm về phẩm chất đạo đứclối sống.
Một bộ phận giới trẻ những biểu hiện sai lệch về chuẩn mực đạo đức, chính trị, lối
sống. Thực trạng đó nếu không khắc phục kịp thời sẽ gây nguyxói mòn, phai nhạt
biến dạng các giá trị trong bản sắc văn hóa dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất,
truyền thống của dân tộc, sự du nhập của lối sống sản, suy giảm thuần phong mỹ tục,
sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc các thế lực thù địch trên lĩnh vực tưởng, văn
hóa.
13

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI THU HOẠCH
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Chinh
Lớp học phần: 231PLT10A18 Nhóm: 07
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2023
BẢNG PHÂN CÔNG CÁC THÀNH VIÊN HỌ VÀ TÊN MÃ SV VAI TRÒ NHIỆM VỤ Ngô Đào Minh Hiếu 25A4050072 Nhóm trưởng Thuyết trình Lê Thị Hằng 25A4050043 Thành viên Làm nội dung Trần Thị Hương Giang 25A4052335 Thành viên Làm nội dung Phạm Thị Thùy Lam 25A4050367 Thành viên Làm nội dung Nguyễn Thị Mai Quỳnh 25A4050957 Thành viên Thuyết trình Hoàng Nguyễn Thùy Nhi 25A4010117 Thành viên Thuyết trình Lê Thị Hải Yến 25A4011012 Thành viên Thuyết trình Nguyễn Thị Lan Hương 25A4050052 Thành viên Thuyết trình Nguyễn Hoàng Dương 25A4052318 Thành viên Làm nội dung Bùi Thu Hoài 25A4060535 Thành viên Làm Powperoint Nguyễn Thị Thanh Thảo 25A4051280 Thành viên Làm nội dung Nguyễn Thanh Thảo 25A4051282 Thành viên Làm nội dung Bùi Trường Giang 24A4011305 Thành viên Làm Powperoint MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC.................................................1
1.1. Văn hóa................................................................................................................... 1
1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc........................................................................................1
1.3. Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc................................................................2
1.4. Tính đa dạng..........................................................................................................3

II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC..........3
2.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là kế thừa và phát huy những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc........................................................................................................ 3
2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, là nguồn động lực thúc đẩy sự phảt
triển của kinh tế, du lịch...............................................................................................4

III. GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
HIỆN NAY........................................................................................................................ 5

3.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay 5
3.2. Cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hóa dân tộc..........7
3.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc.......................................................................................................................... 10
3.4. Phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế...................................................................................11
3.5. Vai trò của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc....................13

I. TỔNG QUAN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.1. Văn hóa
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ
phát triển xã hội qua từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
- Khía cạnh vật chất: là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh
trong sản phẩm vật chất.
VD: Văn hóa tinh thần nhà cửa, quần áo, các phương tiện, …
- Khía cạnh phi vật chất: là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo
ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người
VD: ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị,...
Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp và gắn với
bản chất của giai cấp cầm quyền. Văn hóa luôn có tính kế thừa, sự kế thừa và được biểu
hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó.
1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc
- Khái niệm: Là nét tinh hoa được hình thành trong quá trình lịch sử phát triển của
dân tộc đó. Được con người tạo ra và thể hiện những nét riêng của dân tộc và gắn liền với
sự phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia, một địa phương nào đó. Nó đem lại sự
độc đáo và sự kết nối với nguồn gốc của mỗi dân tộc, đồng thời là nguồn cảm hứng và
niềm tự hào cho cộng đồng dân cư.
Nó là những nét đặc trưng đặc biệt làm nên sắc thái, bản lĩnh và dấu ấn riêng của
mỗi dân tộc, từ những nét đó để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.
Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm nhiều khía cạnh, như:
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc. Nó
không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn mang trong nó các giá trị, quy tắc, truyền thống
và lịch sử của một dân tộc. 1
- Truyền thống, nghi lễ: Những nghi lễ gia đình, tôn giáo, tết nguyên đán và các sự
kiện quan trọng khác thể hiện nhận thức và giá trị của dân tộc.
- Nghệ thuật và văn hóa biểu diễn: Âm nhạc, múa, hình ảnh, điêu khắc, kiến trúc và
các hình thức nghệ thuật khác cũng là phần không thể thiếu của bản sắc văn hóa dân tộc.
Chúng thể hiện tinh thần, cảm xúc và sự sáng tạo độc đáo của dân tộc.
- Trang phục truyền thống: Chúng thể hiện sự đa dạng và phong cách riêng biệt của
mỗi dân tộc và có thể phản ánh xã hội, văn hóa và lịch sử của họ.
- Ẩm thực: Cách nấu nướng, loại thực phẩm và cách tiếp khách thể hiện sự độc đáo
và văn hóa của một dân tộc.
1.3. Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc
Mỗi một bản sắc không chỉ góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước
mà còn ảnh hưởng đến văn hóa nước ta. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước,
trong suốt thời gian ấy nền văn hóa luôn tồn tại và trở thành tinh hoa của lịch sử với
những đặc trưng tiêu biểu:
- Bản sắc dân tộc Việt Nam thể hiện những đặc trưng của nền văn hóa. Là nguồn
gốc hình thành văn hóa từ lâu đời, từ đó ngày càng phát triển, tạo nên những nét riêng biệt đến nay.
- Bản sắc văn hóa dân tộc mang tính bền vững với thời gian. Thời gian có thay đổi
nhưng những nét văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn sẽ được gìn giữ, không khác biệt với bản
sắc văn hóa dân tộc ban đầu.
- Đặc trưng cơ bản có thể nhìn nhận từ bên ngoài về bản sắc văn hóa dân tộc là sự
tôn kính, thờ cúng tổ tiên, tôn trọng tất cả các giá trị cộng đồng và gia đình, các ngành
nghề thủ công mỹ nghệ, người dân lao động cần cù…
- Ở Việt Nam có một nền văn hóa dân tộc phong phú trong cộng đồng 54 dân tộc,
có nhiều sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, tư tưởng và tôn giáo khác nhau.
- Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển phụ thuộc vào
đặc điểm của từng dân tộc, điều kiện lịch sử, điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, chế độ
chính trị giao lưu với các nền văn hóa khác. 2
Thực tế qua hàng ngàn năm lịch sử chứng minh rằng để bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam được gìn giữ tốt đẹp chính là nhờ vào tinh thần đoàn kết, sự gắn bó chặt chẽ và
gìn giữ của mỗi người dân Việt Nam. 1.4. Tính đa dạng
Tính đa dạng là bản chất của văn hóa. Đặc biệt, với văn hóa Việt Nam, một nền
văn hóa “thống nhất trong đa dạng” thì tính đa dạng lại càng thể hiện rõ trên nhiều
phương diện và mức độ khác nhau, như đa dạng văn hóa tộc người, văn hóa vùng (văn
hóa địa phương), văn hóa tôn giáo, văn hóa nghề nghiệp (nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ
công, buôn bán,...), văn hóa đô thị và nông thôn, thậm chí cả văn hóa làng và văn hóa
dòng họ,... trong đó, chúng ta đặc biệt nhấn mạnh đến văn hóa vùng.
Văn hóa vùng (hay văn hóa địa phương) là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn
tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn
hóa về cách thức hoạt động sản xuất; về cách tổ chức xã hội cổ truyền và giao tiếp cộng
đồng; về tín ngưỡng, về các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật; ... từ đó có thể phân biệt với
các đặc trưng văn hóa của vùng khác. Những đặc trưng văn hóa đó hình thành và định
hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với cùng
một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa
họ có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết.
Trên cơ sở những quan niệm lý thuyết nêu trên có thể phân vùng văn hóa Việt
Nam thành 7 vùng văn hóa lớn tương đương với 3 miền: Bắc, Trung, Nam.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC
2.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, mỗi dân tộc đã hun đúc cho
mình những truyền thống văn hoá tốt đẹp. Những giá trị ấy không chỉ được lưu truyền
qua nhiều thế hệ, trường tồn với thời gian mà còn được bổ sung và phát triển phù hợp với
tình hình, đáp ứng những yêu cầu đặt ra của thời đại.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Nằm trong khu
vực nhiệt đới gió mùa, từ xa xưa, cha ông ta đã phải chống chọi với những thiên tai khắc
nghiệt như hạn hán, gió mùa, bão lũ,... Bên cạnh đó, với lợi thế địa chính trị quan trọng,
đất nước ta cũng là mục tiêu xâm lăng của nhiều cường quốc trên thế giới như Trung 3
Quốc, Pháp, Mỹ, Nhật,... Để chống lại ngoại xâm và thiên tai, các thế hệ con người Việt
Nam ta đã đoàn kết một lòng, xây dựng một khối thống nhất, hình thành và phát triển
những phẩm chất quý báu, được gìn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay. Tiêu biểu cho
những phẩm chất ấy chính là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc, tinh thần ưa
chuộng hoà bình, yêu lao động, kiên cường, thông minh, sáng tạo trong chiến đấu, lao
động sản xuất và có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, giúp đỡ nhau trong mọi điều
kiện, hoàn cảnh. Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã được hoà bình, không còn phải
chống lại ách xâm lăng của kẻ thù, nhân dân Việt Nam ta vẫn chiến đấu không ngừng trên
mặt trận kinh tế, giáo dục, văn hoá,... đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.
2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, là nguồn động lực thúc đẩy sự phảt
triển của kinh tế, du lịch

Trong thế giới đang toàn cầu hóa ngày nay, việc bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn
hóa dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi văn hóa dân tộc là di sản văn hóa vô
giá, là dấu ấn tư tưởng và linh hồn của mỗi quốc gia. Nó là tài nguyên vô cùng quý báu,
một mảnh ghép không thể thiếu góp phần vào nền văn hóa phong phú và đa dạng của thế giới.
Văn hóa dân tộc không chỉ mang lại giá trị tinh thần mà còn đóng góp rất lớn vào
phát triển kinh tế và ngành du lịch. Đối với kinh tế, việc duy trì và phát triển các nghề thủ
công truyền thống, các sản phẩm địa phương mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc không
chỉ góp phần vào việc tạo ra thu nhập cho cộng đồng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh
tế ở cấp độ địa phương và quốc gia. Sự độc đáo của những sản phẩm này cũng tạo ra lợi
thế cạnh tranh trong thị trường quốc tế, giúp nâng cao tầm nhìn và vị thế của quốc gia trên
sân khấu quốc tế. Ngoài ra, du lịch văn hóa cũng là một phần quan trọng trong việc tạo ra
cơ hội việc làm và thu hút đầu tư. Việc du khách đến thăm và trải nghiệm văn hóa địa
phương không chỉ tạo ra thu nhập trực tiếp từ ngành du lịch mà còn thúc đẩy việc phát
triển các ngành công nghiệp phụ trợ như nhà hàng, khách sạn, và các dịch vụ du lịch
khác. Điều này không chỉ tạo ra việc làm cho người dân địa phương mà còn mở ra cơ hội
hợp tác đầu tư với các đối tác quốc tế, đẩy mạnh quan hệ kinh t tế và địa chính trị giữa các quốc gia.
Qua việc bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc, chúng ta cũng góp phần vào việc tăng
cường sự hiểu biết và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, góp phần vào việc xây dựng
môi trường hòa bình và hợp tác toàn cầu. Sự tăng cường giao thương và hợp tác văn hóa 4
cũng mở ra cơ hội mới để chia sẻ kiến thức, kỹ thuật và những giá trị văn hóa quý báu,
góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế.
III. GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
3.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam có nền văn hoá đa dạng, lâu đời gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm hình
thành và phát triển của dân tộc ta. Những năm trở lại đây, có sự thay đổi lớn không chỉ
trong đời sống vật chất mà còn trong đời sống tinh thần, suy nghĩ của con người với nhiều
mặt tích cực cần phát huy, nhưng những mặt tiêu cực của nó cũng cần được nhận diện
một cách khách quan để có thể phê phán và khắc phục một cách hữu hiệu.
Mặt tích cực
- Ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm
của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước
- Nhiều nét mới trong giá trị vǎn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành.
- Tính nǎng động và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và nǎng lực
cá nhân được khuyến khích, không khí dân chủ trong xã hội tǎng lên.
- Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập nghiệp,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và luôn luôn hướng về cội nguồn, về cách mạng và kháng
chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc,các danh nhân vǎn hóa, những người có công, giúp
đỡ những người hoạn nạn... trở thành phong trào quần chúng góp phần giữ gìn bản sắc
dân tộc trong quá trình hội nhập Quốc tế.
- Sự nghiệp giáo dục thu được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao
trình độ học vấn của nhân dân.
VD: Trên lĩnh vực vǎn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo có bước phát triển
mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được gìn giữ. Có thêm nhiều tác phẩm có giá
trị về đề tài cách mạng và kháng chiến, về công cuộc đổi mới. Nhiều bộ sưu tập công phu
từ kho tàng vǎn hóa dân gian và vǎn hóa bác học Việt Nam trong nhiều thế kỷ được xuất
bản, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị tư tưởng, học thuật
và thẩm mỹ của dân tộc. Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực,
khẳng định mạnh mẽ vǎn nghệ cách mạng và kháng chiến, đẩy lùi một bước những quan
điểm sai trái. Số đông vǎn nghệ sĩ được rèn luyện và thử thách trong thực tiễn cách mạng, 5
có vốn sống, giàu lòng yêu nước; trước những biến động của thời cuộc và những khó
khǎn của đời sống vẫn giữ gìn được phẩm chất, kiên định quan điểm sáng tác phục vụ nhân dân.
- Thông tin đại chúng ngày càng phát huy vai trò trong đời sống tinh thần xã hội,
giao lưu vǎn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng.
- Thể chế vǎn hóa mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp xây
dựng vǎn hóa và tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc vǎn hóa
dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.
Mặt tiêu cực
- Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, một số người hoài nghi
về con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta; phủ nhận lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Không ít người còn mơ hồ, bàng quang hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu
thù địch xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta => Gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự gìn giữ bản
sắc dân tộc ở nước ta.
- Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị vǎn hóa dân tộc, chạy theo lối
sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình,
quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp.
- Buôn lậu và tham nhũng phát triển. Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tǎng.
- Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến. Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức,
lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền.
- Nạn tham nhũng và hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn
cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến => gây sự bất bình của
nhân dân, làm tổn thương uy tín của đảng và của nhà nước ta.
- Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Rất
ít tác phẩm đạt đỉnh
cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả của đổi mới. 6
- Giao lưu văn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số
văn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn.
- Nghệ thuật văn hóa truyền thống với đa dạng về thể loại, loại hình hiện đang dần
bị mai một. Thế hệ trẻ ngày nay và cả tầng lớp trung lưu không còn thích xem chèo,
tuồng, hát ca trù. Một số nhạc cụ độc đáo của người Việt đang ít được chú ý bảo tồn và phát huy.
- Tôn giáo tín ngưỡng: Lễ hội là văn hóa truyền thống nhưng tình trạng ngày nay
tổ chức quá nhiều lễ hội vừa tốn kém và nguy cơ bị mê tín dị đoan hóa, hiện tượng lợi
dụng lễ hội để cầu lợi cho cá nhân.
3.2. Cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hóa dân tộc
Trong bối cảnh hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ
trên quy mô lớn. Toàn cầu hóa tạo cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố
gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia trên thế giới. Trong đó Việt Nam cũng là
một quốc gia chịu sự tác động lớn của quá trình này. Bên cạnh những cơ hội cần nắm bắt
cũng xuất hiện những thách thức cần phải đối mặt.  Cơ hội
- Những thay đổi mạnh mẽ về tư duy: Có lẽ chưa bao giờ trong nhận thức xã hội,
các quan niệm, khái niệm về tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ, phát triển con người,
phát triển bền vững, tự do văn hóa, báo chí, sáng tác… lại được bàn luận trên nhiều diễn
đàn với các quy mô khác nhau như hiện nay. Điều này không chỉ có tác dụng đánh thức tư
duy, nhận thức mới về sứ mệnh của văn hóa mà còn khắc phục được sự phiến diện, thiên
lệch hoặc tầm nhìn hạn hẹp khi xác định vai trò của văn hóa trong phát triển. Từ năm
1998, với Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, văn hóa được xác định là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ nền
tảng này, văn hóa còn được xác định là một trong bốn trụ cột của phát triển bền vững, có
vị trí ngang với kinh tế, chính trị và xã hội. Từ đây, văn hóa không chỉ có chức năng nhận
thức, giáo dục, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người mà còn là nguồn lực nội sinh,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
- Những đổi mới trên phương diện quản lý văn hóa: Song song với việc xác định
được mô hình phát triển của nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”,
những đổi mới mạnh mẽ trên phương diện quản lý văn hóa đã tạo ra những bước ngoặt 7
quan trọng trong hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản văn hóa; tham gia tích
cực vào việc tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng và
cả nước, tăng trưởng GDP địa phương và thúc đẩy phát triển du lịch
- Những động lực mới để văn hóa phát triển đa dạng: Quá trình đổi mới, hội nhập
và tiếp biến văn hóa trên nhiều khía cạnh đã tạo ra những động lực mới để văn hóa phát
triển đa dạng, phong phú; xuất hiện nhiều loại hình, trong đó có cả những thiết chế văn
hóa mới. Các sản phẩm văn hóa không chỉ góp phần quan trọng tạo không khí dân chủ,
cởi mở hơn, dân trí được nâng cao, tính năng động sáng tạo, tự chủ mà còn phát huy tính
tích cực xã hội của con người, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt
Nam. Sản phẩm văn hóa tăng đáng kể về số lượng, có dấu hiệu tích cực về chất lượng, đã
và đang hình thành thị trường sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật… Văn học, nghệ
thuật đã tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị, phản ánh mọi lĩnh vực đời sống, đang nỗ lực đổi
mới tư duy sáng tạo, tìm tòi phương thức mới để nâng cao năng lực khám phá cuộc sống.
Hệ thống thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh, truyền bá văn hóa đến với công
chúng ngày càng rộng hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành tư duy phản
biện xã hội trên phương tiện thông tin đại chúng…
- Thành tựu trong đối ngoại văn hóa: Bằng cách tích cực và chủ động mở rộng hợp
tác quốc tế về văn hóa, đường hướng “phát triển văn hóa đối ngoại” đã trở thành phương
châm chính trong chiến lược đối ngoại của các ngành quản lý văn hóa, du lịch, ngoại giao.
Kết quả đem lại là hàng loạt các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam đã đến
được với bạn bè quốc tế, thể hiện rõ tính độc đáo, đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Hàng
loạt các di sản văn hóa Việt Nam đã được ghi danh, xếp hạng là di sản văn hóa của nhân
loại như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Quan họ (Bắc Ninh), Ca trù, Nhã nhạc cung đình
Huế… và gần đây nhất là “thực hành tín ngưỡng Tam phủ”…
- Mở ra những kênh trao đổi học thuật với nhiều quốc gia văn minh trên thế giới:
Qua các phương thức khác nhau từ du học sinh đến trao đổi học giả… Trong lối sống và
phong cách sống, tiếp biến văn hóa của Việt Nam với thế giới đã đem lại những thành tựu
rực rỡ. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế là hàng loạt các thay đổi trên các
phương diện thụ hưởng cuộc sống, nâng cao chất lượng sống và thay đổi ứng xử liên quan
đến bình đẳng giới…
Thách thức
Thứ nhất, thách thức từ thực trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 8
Đây là một trong những nguy cơ, thách thức lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc nói chung, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng. Cốt lõi trong giá trị truyền
thống văn hóa của dân tộc ta là yêu nước, trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt là khát
vọng vươn lên xây dựng đất nước hùng cường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, con
người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, truyền thống ấy là trách nhiệm trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đi ngược lại, cản trở
khát vọng đó của nhân dân ta.
Thứ hai, thách thức từ sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, tình trạng gia tăng tội
phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Đây là một trong những vấn đề xã hội gây bức xúc trong nhân dân trong giai đoạn hiện
nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Đạo đức, lối sống trong gia đình, học
đường, xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, gây bức xúc cho xã hội”, “Môi trường văn
hóa có những mặt chưa thực sự lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống
văn hóa dân tộc”, “Tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã
hội... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân”.
Những biểu hiện về tội phạm đã làm gia tăng mâu thuẫn, xung đột xã hội ở nước ta
hiện nay, trái với truyền thống đoàn kết, gắn bó, nhân ái của dân tộc. Những xung đột
trong lĩnh vực xã hội thường xảy ra giữa các cá nhân, nhóm dân cư, nhóm xã hội với các
cơ quan thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương; các xung đột xã hội trong lĩnh vực
văn hóa
diễn ra ngày càng phức tạp, trong đó có những vấn đề liên quan đến lễ hội, di tích
lịch sử văn hóa, cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo...
Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu
thuẫn, xung đột xã hội ở nước ta nhìn chung vẫn chậm được khắc phục, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của đất nước và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.
Thứ ba, thách thức của sự “xâm lăng văn hóa”, phai nhạt, đánh mất bản sắc văn
hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Về mặt văn hóa, mỗi quốc gia phải đứng trước và luôn luôn phải xử lý mâu thuẫn
giữa toàn cầu hóa có xu hướng mạnh, tạo ra các giá trị phổ quát chung với bản sắc văn
hóa riêng, độc đáo của dân tộc. 9
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy quá trình hình thành xã hội
thông tin, nền kinh tế số; đồng thời cũng đe dọa đến bản sắc văn hóa của các quốc gia,
dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một số nước lớn lợi dụng quá trình toàn cầu
hóa để tìm cách truyền bá, thực hiện mưu đồ “bá quyền văn hóa”, làm phai nhạt các giá trị
truyền thống của các dân tộc khác. Nhiều nội dung phản giá trị, phản văn hóa, tư tưởng
độc hại dễ dàng xâm nhập, làm biến dạng các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống. Đây
là một nguy cơ đang hiển hiện và ngày một gia tăng đối với Việt Nam, nhất là những tác
động tiêu cực của nó tới thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang gặp những thách
thức về việc phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của
dân tộc. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn
có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ
nạn xã hội. Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền còn lớn. Nhiều di
sản văn hóa quý báu của dân tộc có nguy cơ bị xuống cấp, mai một, thậm chí bị tiêu vong...
Có thể thấy, bên cạnh việc hình thành tư duy sống chất lượng, lối sống ích kỷ, vụ
lợi cá nhân cũng bắt đầu hình thành và ngày càng xâm nhập vào nhiều tầng lớp trong xã
hội. Lối sống thiên về hưởng thụ, sống gấp đang hủy hoại dần nhân cách của nhiều người
dẫn đến nhiều giá trị truyền thống dần trở nên mai một.
3.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Thứ nhất, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam để làm nền tảng, sức mạnh nội
sinh bảo đảm đất nước phát triển bền vững.
Thứ hai, phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực phát triển đất nước, hội nhập quốc tế.
Thứ ba, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.
Thứ tư, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng
cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai
trò tiên phong, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng.
Thứ năm, xây dựng nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 10
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều tham gia không chỉ vì một cuộc sống
tiện nghi mà còn phát triển một nền văn hóa dân tộc Việt Nam ngày càng tiên tiến, hiện
đại và đậm đà bản sắc dân tộc.
3.4. Phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Phương hướng
Sau khi nghiên cứu về thực trạng, những ảnh hưởng của hội nhập quốc tế và những
đổi mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ta đưa ra một vài phương hướng giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cụ thể như sau:
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng về xây
dựng và phát triển văn hóa.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hoá, môi trường văn hoá, đời
sống văn hoá, nâng cao tính sáng tạo của nền văn hóa dân tộc.
- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có phương pháp, chọn lọc, cách thức phù hợp.
- Tích cực đấu tranh, bài trừ các sản phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy,
gạt bỏ những hủ tục để tạo dựng đời sống tinh thần lành mạnh trong nhân dân.
- Thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các
vùng miền và các giai tầng xã hội.
- Công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm
quan trọng của việc hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc cần được nâng cao.
- Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước.  Giải pháp
Từ những phương hướng được đề xuất, để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp
tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội và con người trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt cần thực hiện các
nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau: 11
Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân
tích cực tham gia các hoạt động văn hóa.
- Tuyên truyền lồng ghép trong các cuộc sinh hoạt chi đoàn; thành lập các nhóm
trên mạng xã hội để trao đổi, chia sẻ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giữ gìn nét văn
hóa truyền thống dân tộc.
- Gia đình, cộng đồng cũng phải chung sức, chung lòng để tô đậm thêm nữa những
giá trị văn hóa đó trong sự trà trộn của những nền văn hóa khác.
- Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền mang đến
cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.
Hai là, chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc.
Ba là, tích cực xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh:
- Huy động các nguồn lực và sự sáng tạo để đầu tư xây dựng công trình và thiết chế văn hóa,
- Khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, đoàn thể tham gia hoạt động văn hóa, nghệ thuật
- Quản lý và bảo vệ các di tích, di sản văn hóa.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và có biện pháp quản lý đối với các hoạt động văn hóa.
Năm là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ
cho cán bộ quản lý các ngành văn hóa, nhất là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ văn hóa
là người dân tộc thiểu số.
Sáu là, phát triển kinh tế và văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội văn hóa mình.
Bảy là, mở rộng hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu một cách có chọn lọc
các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, tích cực phổ biến rộng rãi những
tinh hoa, văn hóa Việt Nam.
Như vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm chung của những người
con Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng chúng ta. Nhưng chúng ta tin những gì là thuộc
về bản chất con người Việt Nam, nét đẹp trong văn hóa Việt Nam thì trong tiềm thức mỗi
người dân đều có ý thức giữ gìn. Các bạn trẻ ngoài việc được giáo dục, cũng phải tự ý 12
thức về điều đó, để đất nước chúng ta sau này có phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc thì
cũng giống họ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc.
3.5. Vai trò của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Hiện nay, hầu hết thanh niên Việt Nam đã phát huy vai trò xung kích trong việc
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều thanh niên đã nhận thức đúng tình hình và
nhiệm vụ, nêu cao chí tiến thủ, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, sức mạnh của tuổi trẻ,
đảm đương những việc khó, chấp nhận mọi gian nan, thử thách, chủ động, sáng tạo, góp
phần tạo nên những thành tựu mới to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Các hoạt động của thanh
niên trong những năm gần đây tiếp tục phát triển, với các phong trào: “Thanh niên tình
nguyện”, “Tuổi trẻ giữ nước”,… đã tạo được những dấu ấn tốt đẹp trong đời sống xã hội.
Các phương thức sinh hoạt truyền thống, giáo dục đạo đức, lối sống, các hoạt động giúp
nhân dân chống bão lụt… đã thu hút đông đảo lực lượng trẻ vừa đóng góp vào nhiệm vụ
chung, vừa thiết thực chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên.
Tuy nhiên, họ vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức trong việc giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc. Trên thực tế vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ nhận thức
về chức trách, nhiệm vụ nói chung, về lịch sử, truyền thống, về bản sắc văn hóa dân tộc
nói riêng chưa thật sự sâu sắc, dẫn tới những vi phạm về phẩm chất đạo đức và lối sống.
Một bộ phận giới trẻ có những biểu hiện sai lệch về chuẩn mực đạo đức, chính trị, lối
sống. Thực trạng đó nếu không khắc phục kịp thời sẽ gây nguy cơ xói mòn, phai nhạt và
biến dạng các giá trị trong bản sắc văn hóa dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất,
truyền thống của dân tộc, sự du nhập của lối sống tư sản, suy giảm thuần phong mỹ tục,
sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. 13