



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ H c ph ọ n
ầ : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC
THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Chinh Lớp : 231PLT10A18 Nhóm : 01
Hà nội, ngày 30 tháng 09 năm 2023 DANH SÁCH THÀNH VIÊN HỌ VÀ TÊN MSV Phạm Văn Đức 24A4011302 Nguyễn Thị Thu Hiền 25A4020778 Phạm Thị Ngọc 25A4021844 Nguyễn Thị Nhung 25A4022189 Vũ Ngọc Huyền 25A4021077 Lê Hải Ngân 25A4021826 Đỗ Minh Hằng 25A4050042 Lê Bảo Châu 25A4052036 Nguyễn Tú Anh 25A4052013 Dương Hương Giang 25A4052326 Lê Đức Minh 25A4021470 Nguyễn Ngọc Linh 25A4021433 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
NỘI DUNG .......................................................................................................................... 2
PHẦN I: ĐÔI NÉT VỀ TIỂU SỬ NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM
TRƯỚC KHI NGUYỄN ÁI QUỐC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC. .................... 2
1.1. Đôi nét về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc ............................................................................ 2
1.2. Tình hình thế giới ........................................................................................................ 2
1.3. Tình hình Việt Nam trước khi Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước ......... 3
PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM .................................................................................................... 5
2.1. Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và tìm thấy con đường đúng đắn để
giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản ........................................................................... 5
2.2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng
.............................................................................................................................................. 8
2.2.1. Chuẩn bị về tư tưởng ................................................................................................. 8
2.2.2. Chuẩn bị về chính trị ................................................................................................. 9
2.2.3. Chuẩn bị về tổ chức ................................................................................................. 10
2.3. Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng và soạn thảo cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng ........................................................................................................ 11
2.4. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ............................... 15
PHẦN 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ................................................................................... 17
3.1. Liên hệ thực tiễn với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay ...................................... 17
3.2. Liên hệ thực tiễn với bản thân .................................................................................. 18
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 20 MỞ ĐẦU
“Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
Đảng đã mang về tuổi xuân cho nước non
Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời...” (Phạm Tuyên)
Đảng ta ra đời vào mùa xuân, kết tinh và hội tụ tất cả khí thiêng liêng của đất trời, hồn
thiêng của sông núi, khát vọng sống hòa bình và ý chí đấu tranh giải phóng đất nước. Từ
ngày ấy đến nay, Đảng ta luôn là niềm tin yêu, là biểu hiện ngời sáng của lý tưởng cộng
sản, luôn mang lại hạnh phúc ấm no cho mọi người, cho dân tộc Việt Nam, đem đến “Những
mùa xuân cho đất nước”. Đảng thành lập năm 1930 dưới sự lãnh đạo của người tiên phong
là Nguyễn Ái Quốc - một người yêu nước nhiệt thành. Chính vì vậy học phần “Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam” luôn là học phần đại cương quan trọng trong mỗi trường đại học trong cả trước.
Một trong những chức năng quan trọng của khoa học lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
là chức năng nâng cao nhận thức. Nghiên cứu và học tập Lịch sử Đảng cộng sản để nhận
thức đầy đủ, có hệ thống những tri thức lịch sử lãnh đạo, đấu tranh và cầm quyền của Đảng,
nhận thức về Đảng với tư cách một Đảng chính trị - tổ chức lao động giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, nhóm em lựa chọn đề tài: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành
lập Đảng cộng sản Việt Nam và ý nghĩa của việc thành lập Đảng.
Mục đích: Tìm hiểu sâu sắc về Nguyễn Ái Quốc và vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong
việc thành lập Đảng cộng sản, từ đó thấy được ý nghĩa quan trọng của việc thành lập của Đảng cộng sản.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu đối tượng trong giai đoạn 1911-1930.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic, phương
pháp so sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn lịch sử liên hệ hiện tại. 1 NỘI DUNG
PHẦN I: ĐÔI NÉT VỀ TIỂU SỬ NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM
TRƯỚC KHI NGUYỄN ÁI QUỐC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
1.1. Đôi nét về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5/1890, mất
ngày 2/9/1969, Người xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước ở làng Kim
Liên, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm
dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến
nỗi khổ cực của đồng bào và có những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm
có ý chí đuổi thực dân giành độc lập cho đất nước đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào.
Với tình yêu nước nồng nàn, năm 1911 Người lên đường sang Pháp để tìm cách giải
phóng dân tộc. Tại đây Người tham gia các hoạt động cách mạng và trở thành một trong
những nhà lãnh đạo của phong trào cách mạng Việt Nam. Năm 1919, Người lấy tên là
Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó. Người đã lãnh đạo phong
trào cách mạng ở Trung Quốc và Liên Xô, và trở thành một trong những nhân vật quan
trọng của phong trào cộng sản quốc tế. Năm 1941, Bác trở về Việt Nam và lãnh đạo phong
trào giải phóng dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt
Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Sau
đó, Bác trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lãnh đạo đất nước trong
suốt 24 năm. Trong suốt cuộc đời mình Bác Hồ đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Bác Hồ đã truyền cảm hứng cho hàng
triệu người Việt Nam và trở thành một biểu tượng của sự đấu tranh cho tự do độc lập.
1.2. Tình hình thế giới
Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽ trong
đời sống kinh tế-xã hội. Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do
cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình
xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh. Trước 2
bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách
thực dân, đế quốc tạo thành phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, rộng khắp.
Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư
bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận
quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân. Phong trào giải phóng dân
tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác động mạnh mẽ đến phong
trào yêu nước Việt Nam.
Trong bối cảnh thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác
Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới – thời đại cách mạng chống
đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản
có vai trò quan trọng trong việc quyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
1.3. Tình hình Việt Nam trước khi Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước tiến hành bộ máy
thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành quốc gia thuộc địa nửa phong kiến.
Về kinh tế: Với mục tiêu thu được lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp thi hành chính sách
kinh tế thực dân bằng cách duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết
lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thức thực dân được
du nhập vào nước ta. Đồng thời, chúng còn áp dụng thủ đoạn độc quyền kinh tế và thủ đoạn
bóc lột phi kinh tế (chế độ thuế khóa nặng nề và vô lý).
Tước hết khả năng phát triển độc lập của Việt Nam, lạc hậu và khiến cho nền kinh tế
nước ta phải phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp. Nhân dân ta thì bị bần cùng hóa, nông dân, thợ
thủ công phá sản và tình trạng nghèo đói ngày càng nặng nề. 3
Về chính trị: Pháp thực hiện chính sách chính trị chuyên chế, dùng lối cai trị trực tiếp
bằng bộ máy công chức chuyên nghiệp người Pháp để thâu tóm mọi quyền hành. Thực dân
Pháp sử dụng vũ lực đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam và song song
với đó tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa nhưng vẫn duy trì chính quyền
phong kiến bản xứ làm tay sai. Thực hiện chính sách chia để trị, chia Việt Nam thành ba
xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.
Về văn hóa - xã hội: Pháp thi hành chính sách ngu dân, truyền bá văn hóa nô dịch, phản
động, khuyến khích đồi phong, bại tục, gây tâm lý tự ti, vong bản, lập nhà tù nhiều hơn
trường học. Chúng tìm mọi cách để bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của các trào lưu văn
hóa tiến bộ trên thế giới vào nước ta, tuyên truyền tư tưởng khai hóa văn minh.
Dưới chế độ áp bức và bóc lột nặng nề về chính trị, kinh tế, văn hóa- tư tưởng của thực
dân Pháp, quá trình phân hóa xã hội của Việt Nam đã diễn ra vô cùng sâu sắc. Các giai cấp
cũ phân hóa đồng thời các giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện từ đó mà xuất hiện hai mâu
thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giai cấp (nông dân với địa chủ) và mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc Việt Nam với thực dân Pháp (là cơ bản và chủ yếu nhất).
Đứng trước sự áp bức của thực dân Pháp, nhiều phong trào yêu nước của nhân dân ta
diễn ra liên tục điển hình như: Phong trào Cần Vương (1885-1896), cuộc khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng (năm 1896), cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, phong trào
yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học (2-1930).
Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã thể hiện được sự kế thừa
truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được đúc kết suốt hàng ngàn năm lịch sử.
Nhưng vì thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các
phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu
sắc về đường lối cứu nước. 4
PHẦN II: VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC THÀNH LẬP
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1. Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và tìm thấy con đường đúng đắn để
giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản
Nguyễn Ái Quốc, sau này được biết đến với tên gọi Hồ Chí Minh, ông sinh ra và
lớn lên trong hoàn cảnh nước nhà rơi vào tay thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa
và phong trào đấu tranh đã nổ ra nhưng đều thất bại. Không nhất trí với chủ trương
và con đường cứu nước của các bậc tiền bối đồng thời đau xót trước cảnh nước mất,
nhà tan, ông đã quyết định ra đi. Vào tháng 6-1911, tại cảng Nhà Rồng, ông đã ra đi
tìm đường cứu nước trên tàu Đô Đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn:
Một là: Nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời. Nguyễn Ái Quốc rất
khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa
Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào. Trong khi nhiều
người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Người đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của
họ, đi tìm con đường cứu nước khác.
Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách
mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.
Chuyến đi đến nhiều nước đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai
loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức. Càng ngày
Người càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc.
Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản
Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy, Người vẫn
đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là “những cuộc cách mạng không đến nơi”. 5
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình
ở Vécxây (Pháp) để “chia phần”. Tại đây, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu
nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi chờ đợi
giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách “tối thiểu” và
“cấp thiết”. Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình 14 điểm với chiêu
bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị. Nhưng những yêu sách dù khiêm tốn
của Người không được Hội nghị đáp ứng.
Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò
bịp bợm lớn…”. Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến
tranh thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Muốn được giải
phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản
thân mình. Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng
tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng
ở Pháp. Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc
và cùng hoạt động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của
thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách
mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.
Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc
ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều cuộc vận
động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-1919, Quốc tế
Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế
giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều
đảng công nhân và ngày trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức
là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng. 6
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn
đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng
lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ
ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin
đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc.
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Người đã hướng niềm tin vào
Lênin và Quốc tế III, tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, đứng về phía
những người cánh tả Đảng Xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III
(1920) trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người
Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi trở thành người cộng sản, Người tích cực hoạt động trong phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa (1922), dự Hội
nghị Quốc tế Nông dân (1923), tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) và có
nhiều bài phát biểu quan trọng lên án chủ nghĩa thực dân, không ngừng lưu ý Quốc
tế Cộng sản, các đảng cộng sản ở chính quốc về vấn đề thuộc địa. Cuối năm 1924,
Người tới Quảng Châu (Trung Quốc) xúc tiến thành lập Hội Việt Nam cách mạng
Thanh niên (1925), xuất bản Báo Thanh Niên (1925), mở nhiều lớp huấn luyện, đào
tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam (1925-1927), xuất bản cuốn Đường kách mệnh
(1927), chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đưa nhân
dân Việt Nam đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. Cuối năm 1929, đầu năm
1930, trước sự chia rẽ, tranh chấp ảnh hưởng trong quần chúng của các tổ chức cộng
sản trong nước, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến 7
Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản thành
một chính đảng duy nhất ở Việt Nam.
Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến năm 1920
với những khảo nghiệm, phân tích thực tế xã hội, chế độ chính trị của nhiều quốc gia
lớn, nhỏ, giàu, nghèo ở hầu khắp các châu lục, để tìm ra bản chất của các học thuyết
và các cuộc cách mạng trên thế giới, từ đó chắt lọc, vận dụng và phát triển phù hợp
với yêu cầu của dân tộc. Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát
triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà
lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ
nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý
thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân
tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương pháp
nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục
tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết,
tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc được thể hiện nổi bật trong việc
vận dụng học thuyết Mác – Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.
2.2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng
2.2.1. Chuẩn bị về tư tưởng
Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa khác,
Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria
(Người cùng khổ). Người viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp
chí Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế, ... 8
Năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, Nguyễn
Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương. Vừa nghiên cứu
lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bản chất áp
bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu
gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Nguyễn Ái Quốc tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam nhằm làm chuyển biến nhận thức của
quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin
từng bước chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển của phong trào yêu
nước theo lập trường của giai cấp công nhân. Nội dung truyền bá là những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin được cụ thể hóa cho phù hợp với trình độ của các giai tầng
trong xã hội. Những bài báo, tạp chí và bài giảng, với lời văn giản dị, nội dung thiết thực,
nhanh chóng được truyền bá đến đông đảo quần chúng nhân dân. Nguyễn Ái Quốc chú
trọng vạch trần bản chất xấu xa, tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân thuộc địa và
nhân dân Việt Nam; “hướng các dân tộc bị áp bức” đi theo con đường Cách mạng Tháng
Mười Nga và đề ra cho dân Việt Nam con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
2.2.2. Chuẩn bị về chính trị
Nhiệm vụ của cách mạng: Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, kế thừa và phát triển quan điểm điểm
của V.I.Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, con
đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
Người nhấn mạnh đến vấn đề giành độc lập cho dân tộc, hướng tới tự do, hạnh phúc cho
đồng bào và xây dựng nhà nước XHCN, mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân. Nguyễn
Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Tác phẩm Đường Kách 9
mệnh (1927) của Người là sự chuẩn bị tập trung và chu đáo về lý luận chính trị cho Đảng
ta, đặt nền tảng tư tưởng cho đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam theo con đường
xã hội chủ nghĩa. Đường Kách mệnh đã chỉ ra mục tiêu giải phóng dân tộc tiến lên chủ
nghĩa xã hội, nhiệm vụ chủ yếu, trước hết của cách mạng Việt Nam và các nước thuộc địa là giải phóng dân tộc
Mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng thế giới: Người xác định rằng
cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản
thế giới, sự cần thiết phải liên hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc hình thành mặt trận
chung chống chủ nghĩa đế quốc và góp phần tích cực thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”.
Lực lượng cách mạng: Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ “công
nông là gốc của cách mệnh; còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh
của công nông”. Vì ở nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng lao động đông đảo
nhất, bị đế quốc và phong kiến áp bức nặng nề nhất do vậy cần thu phục và lôi cuốn họ để
xây dựng khối liên minh công - nông mạnh mẽ làm động lực cách mạng. Người xác định
rằng, cách mạng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”.
Về vấn đề Đảng Cộng sản: Nguyễn Ái Quốc khẳng định “Cách mạng trước hết phải có
đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc
bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh thì mới thành công, cũng
như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Ta phải có lý luận khoa học dẫn đường và
có đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn.
Phong trào “Vô sản hóa” do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên phát
động từ ngày 29-9-1928 đã góp phần truyền bá tư tưởng vô sản, rèn luyện cán bộ và xây
dựng phát triển tổ chức của công nhân.
2.2.3. Chuẩn bị về tổ chức
Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị một cách tỉ mỉ và có hệ thống cho sự ra đời của Đảng vô
sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong đó bao gồm việc đào tạo, giáo dục cán bộ, bắt 10
đầu từ các khóa đào tạo do ông thực hiện tại Quảng Châu (Trung Quốc) để chuẩn bị đội
ngũ cán bộ và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng
Châu (Trung Quốc), tháng 2-1925, Người thành lập nhóm Cộng sản đoàn. Tháng 6 năm
1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam tại Quảng Châu.
Hội đã xuất bản báo Thanh Niên (21-6-1925), đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam.
Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn
Ái Quốc trực tiếp phụ trách. Từ giữa năm 1925 đến tháng 4- 1927, Hội đã tổ chức được
trên 10 lớp huấn luyện tại nhà số 13 và 13B đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là nhà số
248 và 250). Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử về nước xây dựng và phát triển
phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản.
Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh (1927).
Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam đã giúp người Việt Nam yêu nước ở mọi tầng lớp
dễ dàng hiểu được tư tưởng cách mạng của Người và suy ngẫm về tư duy sáng tạo cũng
như những thành công trong chuẩn bị cách mạng của Người.
2.3. Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng và soạn thảo cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng
Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc triệu tập thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản:
Nửa cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông
Dương Cộng sản Đảng (thành lập tháng 6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (thành lập tháng
10/1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập tháng 1/1930). Sự ra đời của 3 tổ
chức cộng sản đã chứng minh sự thắng thế của xu hướng cộng sản trong phong trào cách mạng Việt Nam.
Ba tổ chức cộng sản ra đời tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu
nước phát triển mạnh mẽ. Các chi bộ của các tổ chức cộng sản đã trực tiếp lãnh đạo các
cuộc đấu tranh của quần chúng ở nhiều xí nghiệp, đồn điền. Từ tháng 4/1929 đến tháng
4/1930 có 43 cuộc bãi công của công nhân. Phong trào đã có sự phối hợp hành động thống
nhất giữa các cuộc đấu tranh, giữa các địa phương trong cả nước. 11
Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau,
không có lợi cho cách mạng.
Sự chia rẽ, mất đoàn kết đã làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu
để lâu sẽ không có lợi cho cách mạng. Yêu cầu của cách mạng Việt Nam lúc này phải thành
lập ngay một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên.
Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động tại Xiêm. Người vẫn thường xuyên
theo dõi tình hình của cách mạng Việt Nam. Sau khi nhận được tin tức về sự chia rẽ của
cách mạng Việt Nam, mặc dù chưa nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, song Nguyễn
Ái Quốc đã chủ động lên đường đi Trung Quốc, viết thư gửi các tổ chức cộng sản để bàn
về vấn đề hợp nhất.
Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc chủ trì thành công Hội nghị hợp nhất:
Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái viên
của Quốc tế Cộng sản, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông (Trung Quốc)
triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến họp tại
Cửu Long (Hồng Kông) tiến hành Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính
Đảng duy nhất của Việt Nam.
Thời gian Hội nghị từ ngày 06/01 - 07/02/1930. Thành phần dự Hội nghị: gồm 2 đại biểu
của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của
An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu) dưới sự chủ trì của Nguyễn
Ái Quốc - đại biểu của Quốc tế Cộng sản.
Chương trình nghị sự của Hội nghị:
1. Đại biểu Quốc tế Cộng sản nói lý do cuộc hội nghị
2. Thảo luận ý kiến của đại biểu Quốc tế Cộng sản về
a. Việc hợp nhất tất cả các nhóm cộng sản thành một tổ chức chung, tổ chức này sẽ là
một Đảng Cộng sản chân chính
b. Kế hoạch thành lập tổ chức đó 12
Thực tế là Hội nghị hợp nhất đã diễn ra rất sôi nổi với sự tranh luận gay gắt giữa cả 2
nhóm đại biểu Đông Dương và An Nam. Theo đồng chí Nguyễn Thiệu- đại biểu của An
Nam Cộng sản Đảng tham dự Hội nghị hợp nhất thì những ý kiến đầu tiên của cả hai nhóm
“cũng chỉ luẩn quẩn ở chỗ muốn đưa đồng chí Vương đến chỗ là quan tòa phán quyết những
đúng sai” của mỗi bên. Khi bàn đến vấn đề hợp nhất thì cũng không bên nào chịu bên nào.
Bên này thì cho rằng bên kia tổ chức quá phức tạp, bên kia lại bảo bên này tổ chức vô
nguyên tắc, hẹp hòi. Ngay tên Đảng là gì cũng xảy ra bất đồng chính kiến, “các đại biểu
nhóm Đông Dương đề nghị giữ lại cái tên Đông Dương Cộng sản Đảng. Các đại biểu nhóm
An Nam không đồng ý như vậy, cho rằng đó là cái tên của một nhóm cộng sản cũ rồi, không
nên dùng lại làm gì”. Cuộc tranh luận giữa hai bên có lúc gay gắt tưởng chừng như lại tan vỡ đến nơi.
Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, trên cương vị là người chủ trì Hội nghị,
bằng tài trí và kinh nghiệm hoạt động chính trị của mình, Người đã khéo léo tháo gỡ từng
bất đồng, đưa Hội nghị đi đến thành công.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra 5 điểm lớn cần thảo luận và thống nhất:
+ Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất nhóm cộng sản Đông Dương.
+ Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Thảo luận Chính cương và Điều lệ sơ lược.
+ Định bản kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước.
+ Cử một Ban Trung ương lâm thời.
Người chỉ phân tích, gợi ý, để cho các bên cùng thảo luận. Chính cách điều hành hội
nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã góp phần tạo nên sự thành công của Hội nghị hợp
nhất. Sau ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu không ai còn ý kiến gì khác
nữa. Tất cả đều nhất trí với đề xuất của Người.
Đến ngày 24/02/1930, việc thống nhất tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất
được hoàn thành với Quyết định của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam. 13
Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp soạn thảo những văn kiện quan trọng có ý
nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam:
Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh đã xác định rõ về đường lối, nhiệm vụ, lực lượng và
mối quan hệ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh sau khi thành lập Đảng.
Mục tiêu chiến lược là “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Cương lĩnh xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành
độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho
dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu.
Về chính trị, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt
Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công-nông-binh và tổ chức quân đội công nông.
Về kinh tế, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ mới;
tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, mở mang công
nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm tám giờ.
Về văn hóa, dân chính được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa.
+ Lực lượng cách mạng là tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa
vào hạng dân cày nghèo; lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản,
trí thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và
tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nhất cũng làm cho
họ đứng trung lập, bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ. Giai cấp lãnh
đạo cách mạng là giai cấp công nhân, thông qua Đảng Cộng sản. Đảng là đội tiên phong
của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận của giai cấp mình, phải làm cho
giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. 14
+ Về mối quan hệ quốc tế, Luận cương xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của cách mạng thế giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản
trên thế giới, nhất là với quần chúng vô sản Pháp.
+ Phương pháp cách mạng: bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong
bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được thỏa hiệp
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con
đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng
yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh thần
dân tộc. Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để giành chính
quyền về tay nhân dân đi tới xã hội cộng sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh này.
2.4. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu
nước, đưa cách mạng Việt Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ đại: cách mạng Việt Nam
trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới.
Là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào
công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “chủ
nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc
thành lập Đảng”. Chứng tỏ giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương
lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cơ
bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với cương lĩnh chính trị đầu tiên đã khẳng định
sự lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam-con đường cách mạng vô sản.
Con đường duy nhất đúng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 15
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của dân tộc
Việt Nam, trở thành nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này sang thắng lợi khác. 16
PHẦN III: LIÊN HỆ THỰC TIỄN
3.1. Liên hệ thực tiễn với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục đưa
đất nước đi theo con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với những đường lối đúng đắn,
sáng tạo, Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước, xây
dựng văn hóa xã hội, khôi phục và phát triển nền kinh tế và có vị thế quan trọng trên trường
quốc tế. Ngày nay, Đảng luôn tăng cường xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh qua các Đại hội Đảng. Qua các đại hội, Đảng ta đều có những điểm nhấn
quan trọng, Đại hội X tập trung vào “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng” hay tại Đại hội XI lấy “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng” làm một trong những thành tố quan trọng của chủ đề Đại hội. Đảng luôn cho rằng
xây dựng Đảng phải gắn liền với xây dựng Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh, chỉ khi Nhà nước mạnh, liêm chính, các tổ chức chính trị xã hội khác mới phát huy
mạnh mẽ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào
đời sống. Xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sang tạo, khát
vọng phát triển vì một Việt Nam hùng cường, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động
viên, khuyến khích nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, đáp ứng ngày
càng tốt hơn sự kì vọng, xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin của nhân dân.
Hơn 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang
của dân tộc gắn liền với sự lớn mạnh của Đảng cách mệnh chân chính - Đảng Cộng sản
Việt Nam, chúng ta càng cảm phục về tư tưởng, tầm vóc và công lao to lớn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong suốt tiến trình cách mạng đất nước. Tư tưởng của Người là kim chỉ nam
cho định hướng, chính sách của Đảng trên con đường xã hội chủ nghĩa mà Người đã dày
công vun đắp. Qua những gì đã chứng minh ở trên ta thấy được rằng Người đóng vai trò
rất lớn đối với việc thành lập Đảng. Trong công cuộc đổi mới hôm nay, chúng ta đã tiến
hành nhiều cải cách nhiều thay đổi để phù hợp với yêu cầu khách quan của thực tiễn. Thế
nhưng vẫn luôn tuyệt đối trung thành theo con đường vô sản mà Người đã chọn, thực hiện 17