-
Thông tin
-
Quiz
Bài tiểu luận kiểm tra giữa học kì | Môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, tiếp thu vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem !
tư tưởng Hồ Chí Minh ( UEH ) 259 tài liệu
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh 1.7 K tài liệu
Bài tiểu luận kiểm tra giữa học kì | Môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, tiếp thu vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem !
Môn: tư tưởng Hồ Chí Minh ( UEH ) 259 tài liệu
Trường: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh 1.7 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:









Tài liệu khác của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Preview text:
lOMoAR cPSD| 49831834
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC UEH
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ BÀI:
Hãy nêu và phân tích một vật dụng hoặc một sự kiện lịch sử liên quan
đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch mà bạn cảm thấy
tâm đắc và rút bài học cho bản thân.
Giáo viên hướng dẫn : TS.Nguyễn Thị Thảo Nguyên
Sinh viên thực hiện : Tô Nguyễn Phương Linh Số Thứ Tự : 28 MSSV : 31211021321 lOMoAR cPSD| 49831834 LỜI MỞ ĐẦU
“Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương”
(Người đi tìm hình của Nước – Chế Lan Viên)
Đó là bài thơ mà nhà văn, nhà thơ Chế Lan Viên đã dành tặng riêng cho Bác
Hồ-Người cha già của dân tộc Việt Nam ta. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, đất nước ta chìm đắm dưới ách thống trị của thực dân Pháp xâm lược.
Các phong trào cứu nước của Nhân dân ta liên tiếp tiếp nổ ra nhưng đều thất bại
nặng nề. Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam thời kỳ này đã cho
thấy cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc.
Khi ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu
nước, đó là sự kiện đặc biệt quan trọng trong cuộc đời người. Đồng thời, chính
con đường ấy đã mang lại giá trị to lớn về thời đại và có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với vận mệnh của đất nước. Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất
nước ta và thời đại đã sinh ra. Người và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta,
nhân dân ta, non sông đất nước ta và thời đại của chúng ta. Đó cũng là một sự
kiện lịch sử liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch mà em
cảm thấy cực kì tâm đắc và qua đó em cũng đã học tập, rút ra được bài học cho bản thân mình. NỘI DUNG
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp
và phong kiến tay sai, phong trào yêu nước ở Việt Nam đã nổ ra khắp nơi với
nhiều xu hướng khác nhau. Đó là các cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ
Cần Vương; các cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng
Hoa Thám kéo dài hơn 30 năm; phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục... do
các sĩ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo. Mặc dù diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi nhưng tất lOMoAR cPSD| 49831834
cả các phong trào đó đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối đấu
tranh đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp
phong kiến trở thành giai cấp phản động, bán nước, làm tay sai cho thực dân
Pháp. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu không có khả năng lãnh đạo cuộc
đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông
dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong
kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể
đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng
hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có
truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi
còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, tiếp
thu vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và bước đầu tiếp xúc với văn hoá
phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu
tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun
đúc những hoài bão lớn. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước
của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành
đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần
ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái
mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi
ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu
hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành
tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc
đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành
quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc
hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911. Hành trang ban đầu của Nguyễn
Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây,
lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các
nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và
các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào
ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. lOMoAR cPSD| 49831834
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng
Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp.
Với những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm trong 10 năm ròng, từ năm 1911
đến năm 1920, Người đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế
giới. Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu,
Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở 3 nước là Mỹ, Anh
và Pháp. Người hòa mình vào cuộc sống của những người lao động, làm bất cứ
việc gì để sống và hoạt động, như: phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm
vườn, vẽ thuê... Trên cơ sở đó, người đã có nhận thức quan trọng là: Cách mạng
tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa
đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và
những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư
sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách
mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm
cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách
mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Bác Hồ đã tìm ra những mặt
trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở
mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã
giúp Người có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới
cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau
thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.
Sống hoà mình cùng Nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công
nhân Pháp, Bác Hồ say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền,
cổ động. Năm 1917, Bác Hồ tham gia hoạt động trong phong trào của những
người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn
đến tình cảm và nhận thức của Người. Năm 1919, bác Hồ tham gia Đảng xã hội
Pháp, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước
tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ,
bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận,
nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời lOMoAR cPSD| 49831834
cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn
được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.
Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa,
nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp,
đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin... Từ những hoạt động
thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam
sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra
được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc
những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi
ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải
phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã
ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.
Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ
thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học
phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở
Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của
nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách
mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống
đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính
quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những
luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng
12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước
của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất
trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người - từ một người yêu
nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng
đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá
trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. lOMoAR cPSD| 49831834
Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.
Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người
bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: Truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng
lớp Nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát
triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều
lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến
1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.
Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài trở về nước trực tiếp lãnh
đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa cuộc Khởi nghĩa Cách mạng Tháng
Tám thành công, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước
công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; chứng minh sự lãnh đạo tài tình,
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng
lập, rèn luyện. Suốt cuộc đời vì nước vì dân, di sản vô giá mà Người để lại cho Tổ
quốc ta, Nhân dân ta chính là tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh sáng ngời cùng thời gian.
Như vậy, sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới;
chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với
trào lưu phát triển chung của nhân loại và xu thế của thời đại. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho phong trào yêu
nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước
vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này là
biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực lOMoAR cPSD| 49831834
dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và trong công cuộc tái thiết và phát triển đất
nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. KẾT LUẬN
Đã nhiều năm trôi qua nhưng mốc son chói lọi ấy vẫn thắm tươi trong lòng
mỗi người dân Việt. Con đường cứu nước chính là nguồn cội, nền tảng đem lại
những thành tựu vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta: hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; Chiến thắng Điện
Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu năm 1954; Chiến thắng 30/4/1975
giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Thắng lợi của công cuộc 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có
một “cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế trên thế giới” như ngày hôm nay. Hơn nữa,
quá trình ra đi tìm đường cứu nước đã hình thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí
Minh: đó là sự tổng hòa của tư tưởng yêu nước Việt Nam chân chính; truyền
thống, tinh hoa văn hóa dân tộc ta với hệ tư tưởng tiên tiến giai cấp công nhân
mà chủ nghĩa Mác – Lênin là đại diện cốt yếu là tự do cho đồng bào, độc lập cho
Tổ quốc. Đồng thời khi ra đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác- Lênin,
người đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới:
Chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước. Tìm thấy đường lối phát triển
đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với tiến bộ của nhân loại và xu thế của thời đại.
Bác Hồ đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho phong trào yêu
nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam vươn lên tầm thời đại. Trở
thành biểu tượng sáng ngời trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc lOMoAR cPSD| 49831834
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc kiến thiết và
phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 111 năm trôi qua kể
từ ngày ra đi tìm đường cứu nước của Người thanh niên Nguyễn Tất Thành, từ
chuyến đi lịch sử Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
Dù Người đã đi xa, nhưng Đảng ta, dân tộc ta nguyện sẽ mãi mãi học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, xây dựng thành công Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. BÀI HỌC
Qua hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ đã để lại nhiều bài học quý
báu cho em, nó có ý nghĩa rất thiết thực đối trong cuộc sống, học tập, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Bài học đầu tiên mà em học được từ bác đó là lòng yêu nước.
Học tập và làm theo Bác, sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc
cần. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, em có thể làm bằng
những hành động cụ thể đó là sự nỗ lực, tiên phong trong chính những công việc
hằng ngày, trong học tập, lao động,…
Bài học thứ hai mà em học được đó là rèn luyện nghị lực kiên cường vượt qua
khó khăn thử thách, tinh thần tự học tập không ngừng. Năm 1911, từ bến cảng
Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước với hành trang là lòng yêu nước, khát
vọng giải phóng dân tộc. Nhờ nghị lực kiên cường đã giúp Người vượt qua mọi
khó khăn thử thách trên hành trình tìm đường cứu nước. Qua đó cho em thấy
rằng bản thân nên rèn luyện nghị lực, tránh tư tưởng ngại khó, ngại khổ, thích
hưởng thụ, tích cực học tập biến những thách thức thành cơ hội. Đặc biệt là tự
học, tự thích ứng với những biến đổi của thực tiễn.
Bài học tiếp theo mà em học được đó chính là lòng nhân ái. Cũng như Bác Hồ
trải qua các châu lục: Âu, Á, Phi, Mỹ, Bác đã hiểu được những khổ đau của nhân
dân lao động và có sự đồng cảm sâu sắc. Bác đã truyền lại cho em tư tưởng, bài
học để em càng thêm hun đúc ý chí trở thành người hữu dụng.
Bài học thứ tư mà em học được đó là bài học về tư duy độc lập, sáng tạo, kiên
định với mục tiêu đề ra. Trên hành trình tìm đường cứu nước, với tư duy độc lập, lOMoAR cPSD| 49831834
sáng tạo đã giúp Người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho nhân dân Việt
Nam, lãnh đạo đất nước giành nhiều thắng lợi. Đó là bài học thiết thực để em
phải luôn có tinh thần sáng tạo, chủ động đề xuất các sáng kiến, ý tưởng mang
hiệu quả cao và kiên định với mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Một bài học nữa mà em học được từ Bác đó là bài học về giữ vững bản sắc
dân tộc và hội nhập quốc tế, tích cực nâng cao năng lực ngoại ngữ. Sự kế thừa
tinh hoa văn hóa nhân loại và giữ vững bản sắc dân tộc được Bác thể hiện rõ nét
trên hành trình tìm đường cứu nước và quá trình lãnh đạo đất nước. Trong khi
chủ trương “dựa vào sức mình là chính”, Người vẫn kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ
của nhân dân thế giới- nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt.
Nhớ ơn và học tập Bác, em sẽ nỗ lực hết mình để thực hiện sứ mệnh cao cả
xây dựng đất nước Việt Nam “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai
với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.