ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
HỌC PHẦN: LÝ LUẬN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Họ và tên sinh viên: : Thu Thảo
Mã sinh viên : 23030127
Khoa : Báo chí
Mã học phần : JOU1150 2
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đinh Văn Hường
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2024
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng
viên giảng dạy đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập học phần “Lý luận báo chí -
truyền thông” tại trường Đại học Khoa học hội Nhânn, Đại học quốc gia
Nội.
Trong quá trình nghiên cứu, em nhận thấy bản thân còn nhiều thiếu sót rất
mong thầy sẽ thông cảm góp ý để em hoàn thiện hơn trong những bài nghiên cứu
sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các nội dung nghiên cứu
trong đề tài hoàn toàn do tôi tự tìm hiểu, phân tích và đánh giá một cách khách quan và
trung thực.
Nếu phát hiện bất sự gian dối nào trong bài nghiên cứu trên, tôi xin chịu
trách nhiệm trước mọi quy định của Nhà trường.
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................5
Câu 1. Bằng kiến thức luận liên hệ thực tiễn, anh/chị hãy phân tích
chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Báo chí một mặt trận,
nhà báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng”..................5
1.1. Phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh....................................5
1.2. Chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh...............................7
Câu 2. Các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường xuyên
đưa luận điệu: “Việt Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận...”, ý
kiến của anh/chị về vấn đề này như thế nào?.......................................................10
2.1. Vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận...................................................10
2.2. Nhận diện luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động..............11
2.3. Ý kiến phản bác luận điệu.........................................................................11
Câu 3. Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” có ý nghĩa gì cho anh/chị
trước mắt và lâu dài?.............................................................................................16
3.1. Ý nghĩa trước mắt đối với cá nhân............................................................16
3.2.2. Ý nghĩa lâu dài đối với cá nhân..............................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................17
3
PHẦN NỘI DUNG
Câu 1. Bằng kiến thức lý luận và liên hệ thực tiễn, anh/chị hãy phân tích và
chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Báo chí là một mặt trận, nhà
báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng”.
1.1. Phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái quát về quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt
Nam, là người đã từng làm tất cả các công việc báo chí, từ chủ bút, quản trị đến
phóng viên, biên tập viên... Hơn ai hết, với kinh nghiệm hơn 50 năm cuộc đời
gắn bó với báo chí cách mạng, là người đã công bố gần 2.000 bài báo, sáng lập,
tổ chức và phát hành nhiều tờ báo cách mạng, thể nói, sự nghiệp báo chí của
Người đã tạo nền tảng vững chắc để phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam
hiện nay. Bày tỏ quan điểm về báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Báo
chí một mặt trận, nhà báo chiến sĩ, ngòi bút khí, bài báo tờ hịch
cách mạng”, đây những lời được Bác trình bày trong “Thư gửi lớp học viết
báo Huỳnh Thúc Kháng” (1949), tại Ðại hội II (1959), Ðại hội III (1962), tại
Hội Nhà báo Việt Nam trong Ðiện mừng Hội Nhà báo Á - Phi (1965). Lời
dạy của Người sự khẳng định vai trò sứ mệnh quan trọng của báo chí
trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộctrong công cuộc xây dựng, bảo
vệ, phát triển đất nước hôm nay.
Với hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, cũng như các quan điểm về báo chí, Chủ tịch Hồ Chí
Minh là một nhà báo kiệt xuất đã có công đặt nền móng vững chắc cho nền báo
chí cách mạng Việt Nam. Ðược dẫn dắt bởi tưởng đúng đắn của Bác, lịch sử
cách mạng Việt Nam đã chứng minh vai trò to lớn củao chí trong các cuộc
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất
nước hiện nay. Cho đến mãi về sau, những tưởng của Bác về đạo đức nghề
báo và những lời căn dặn của Bác với đội ngũ những người làm báo cách mạng
Việt Nam vẫn vẹn nguyên giá trị cốt lõi và nhân văn.
1.1.2. Chức năng và vai trò của báo chí
Theo Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định: “Báo chí sản phẩm
thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống hội thể hiện bằng chữ viết,
hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ phátnh, truyền dẫn
tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo
4
điện tử” [1]. Hay thể nói ngắn gọn hơn: “Báo chí loại hình hoạt động
thông tin chính trị - hội” [2]. Báo chí kênh truyền tải thông tin quan trọng,
là phương tiện tạo dư luận xã hội và định hướng dư luận xã hội, là tiếng nói của
mọi tầng lớp nhân dân lao động. Báo chí công cụ đấu tranh với những quan
điểm phản động để góp phần bảo vệ nền tảng tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng Nhà nước, “với sứ mệnh cao cả bảo vệ chính nghĩa,
phục vụ nhân dân cũng chính đảm bảo tính chiến đấu của báo chí qua đó
khẳng định danh dự, uy tín của tờ báo và nhà báo” [3].
Nói “Báo c một mặt trận” bởi lẽ báo chí vai trò đấu tranh trên
lĩnh vực tưởng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước xây dựng đất nước. Trước hết đấu tranh trên mặt trận tưởng cuộc
chiến tranh giành quyền tác động đến nhận thức, tưởng, tình cảm, giá trị đạo
đức, lối sống của con người. Đây mặt trận quan trọng trong công cuộc đấu
tranh nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ Tổ quốc của Đảng nhân dân ta. Trước hết nói báo chí mặt trận đấu
tranh tư tưởng là bởi báo chí giữ vai trò định hướng luận xã hội, tạo sự đồng
thuận về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân.
Đồng thời, báo chí chống lại các quan điểm, tưởng sai trái, thù địch để bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc
trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Cùng với đó, báo
chí khả năng giáo dục cũng như góp phần nâng cao trình độ cho người dân.
Cuối cùng, trong tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
báo chí giữ vai trò nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ. Vậy nên báo chí mặt trận
đấu tranh tư tưởng quan trọng trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc
hoàn toàn hợp lí.
1.1.3. Vai trò và trách nhiệm của nhà báo
Nhà báo được hiểu đơn giản “người làm hoạt động nghiệp vụ trong
lĩnh vực thông tin đại chúng” [2]. chiến trường của nhà báo một mặt trận
tư tưởng chính trị tư tưởng, trong đó người làm báo sử dụng ngòi bút, trang báo
của mình làm thứ khí sắc bén để đấu tranh cho sự thật, cho công lý, cho lợi
ích của nhân dân, của Tổ quốc. Thực chất, hình ảnh người chiến tượng trưng
cho tình yêu nước cùng những phẩm chất cao quý và lý tưởng cao đẹp. Vậy nên
ý nghĩa của hình ảnh ẩn dụ "nhà báo là chiến sĩ" thể hiện sự tôn vinh, ca ngợi và
khẳng định vai trò của báo chí nhà báo, như những chiến bảo vệ chủ
quyền quốc gia, nhà báo cũng đóng vai trò quan trọng trên mặt trận đấu tranh
5
chống lại những thế lực xấu xa đe dọa đến lợi ích của nhân dân. Cũng giống
như các chiến ngoài mặt trận, nhà báo luôn phải đặt mình trong tâm thế sẵn
sàng đương đầu với thách thức, đối mặt với nguy hiểm, kiên định, bền bỉ
thậm chí là hy sinh lợi ích nhân để phục vụ công chúng. Đặc biệt quan trọng
hơn cả, Người đặt tương quan so sánh giữa người chiến nhà báo nhằm
nhắn nhủ người làm báo rằng phải luôn nuôi dưỡng tình yêu nước, bản lĩnh đạo
đức nghề nghiệp để hoàn thành sứ mệnh vừa cao cả vừa nặng nề của mình trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nếu báo chí một mặt trận người làm o chiến cách mạng thì
việc nói “ngòi bút khí, trang báo tờ hịch cách mạng” nhằm nhấn mạnh
khả năng chiến đấu sức mạnh to lớn của ngòi bút trang báo trong cuộc
đấu tranh của dân tộc. Nói “ngòi bút khí” bởi, sức mạnh của ngòi bút giờ
đây còn thể gây ra những sát thương mạnh mẽ hơn tất thảy thứ khí vật
chất nào trên chiến trường. Sức mạnh của ngòi bút, của lời nói, của truyền
thông có thể tác động mạnh mẽ đến tưởng, nhận thức và hành động của quần
chúng nhân dân, từ đó huy động tập hợp lực lượng cách mạng. Việc nói
“trang báo tờ hịch cách mạng” nhằm chỉ vai trò tương tự của các trang báo,
phương tiện truyền thông như một tờ hịch cách mạng, trong đó “hịch” văn
bản kêu gọi nhân dân tham gia o cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Những
trang báo lúc ấy sẽ trở thành thứ "vũ khí" quan trọng góp phần vận động tập
hợp lực lượng cách mạng, tạo ra sự đồng thuận ủng hộ từ quần chúng nhân
dân. Như vậy, tổng quan câu nói trên nhằm mục đích nhấn mạnh vai trò chiến
đấu, cách mạng của báo chí các phương tiện truyền thông trong cuộc đấu
tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
1.2. Chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.1. Trong bối cảnh lịch sử dân tộc
Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa bản, báo chí tuyên truyền giữ vai
trò tưởng của giai cấp dân chủ sản, cổ việc xây dựng hội dân chủ
sản. Thời điểm ấy, gần như các tờ báo của người dân lao động, của giai cấp
công nhân đấu tranh cho cách mạng đều bị coi tưởng phản động. Bất bình
trước bởi sự cấm đoán khắc nghiệt khi ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên
quan điểm: “Giữa thế kỷ XX này một nước đến 20 triệu dân không
lấy một tờ báo... Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ” nhằm nêu bật lên tình
trạng mất tự do báo chí nặng nề của ta khi ấy đồng thời bộc lộ thái độ kiên
6
quyết đấu tranh giành chính quyền xây dựng cuộc sống mới cho tầng lớp
nhân dân lao động, giai cấp công nhân yếu thế. Thực tiễn lịch sử hoạt động báo
chí cách mạng nước ta bắt đầu từ khi do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập tờ
báo Thanh niên, chính thức ra số đầu tiên tại Quảng Châu - Trung Quốc vào
ngày 21/06/1925. Chủ tịch Hồ Chí Minh người sử dụngo clàm phương
tiện chính để hoạt động trên tất cả các lĩnh vực cách mạng. Và trên thực tế cách
mạng Việt Nam cho thấy, tờ báo Thanh Niên cùng với tác phẩm Ðường Kách
mệnh một số tờ báo khác do Người sáng lập ra đã góp phần quan trọng vào
việc chuẩn bị về mặt chính trị, tưởng tổ chức cho sự ra đời của Ðảng
Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 xa hơn sự ra đời của nhà nước Cộng
hòa hội chủ nghĩa Việt Nam sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng nghìn
bài báo cả trong ngoài nước, với nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng chỉ
hướng báo chí cách mạng Việt Nam đến mục tiêu cuối cùng phấn đấu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng giai cấp lao động khỏi áp bức,
bất công để tiến lên xây dựng cuộc sống mới ấm no, tự do, hạnh phúc bình
đẳng.
1.2.2. Trong bối cảnh đất nước hiện nay
Trải qua 96 năm xây dựng, chiến đấu trưởng thành, sự lớn mạnh
không ngừng cả về số lượng và chất lượng của báo chí Việt Nam là minh chứng
ràng nhất cho việc học làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính
đến nay, báo c nước ta đã hình thành thành một hệ thống thông tấn, báo chí,
phát thanh, truyền hình rộng khắp cả nước, theo thống của Bộ Thông tin
Truyền thông năm 2023 cho thấy, nước ta hiện nay tổng cộng 1 hãng thông
tấn quốc gia, 6 quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 quan báo,
706 quan báo chí in, 671 quan tạp chí 72 quan đài phát thanh,
truyền hình. Nhận thấy báo chí cách mạng Việt Nam đã đang nỗ lực phát
triển hơn từng ngày để thực hiện tốt sứ mệnh vẻ vang của mình trong công cuộc
kháng chiến, kiến quốc, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế của nước nhà trong tương lai.
Nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, Thủ
tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhận định: “Thời kỳ nào cũng vậy, các nhà
báo luôn những chiến dũng cảm trên tất cả các mặt trận. Chúng ta đã quá
quen thuộc với hình nh các nhà báo tác nghiệp quên mình trong phòng chống
tội phạm, thiên tai, bão lũ, những điểm nóng mọi nơi, mọi lúc đặc biệt
trong thời gian gần đây những chiến sỹ báo chí giữa tâm dịch COVID-19 để
7
thông tin kịp thời, chính xác tình hình đến công chúng” [5]. Quả thực, trong bối
cảnh chống lại đại dịch COVID-19, những người làm báo xứng đáng được ghi
nhận như những chiến binh thầm lặng trên tuyến đầu chống dịch. Mặc phải
đối diện với những khó khăn như nguy lây nhiễm cao, họ không chỉ hoàn
thành sứ mệnh chuyển tải lượng thông tin chính xác, kịp thời đến người dân
còn góp phần cổ tinh thần, động viên ý chí cho nhân dân trong cuộc chiến
chống “giặc” COVID-19. Trong giai đoạn ấy, có thể kể đến các phóng viên của
Báo Tuổi Trẻ luôn túc trực ngày đêm tại tâm dịch để cập nhật tình hình dịch
bệnh trong nước quốc tế, các biện pháp phòng chống dịch của chính quyền,
cũng như những diễn biến mới nhất về vắc-xin COVID-19.
Tuy nhiên, báo chí Việt Nam vẫn tồn tại những vấn đề chưa thể giải
quyết, cụ thể trong Hội nghị Báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2023,
triển khai nhiệm vụ năm 2024 tổng hợp lại nêu ra nhiều quan báo chí
chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa hoàn thành nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền
trong tình hình hiện nay. Ngoài ra, một số bộ phận người làm báo biểu hiện
suy thoái về tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống, vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, lạm dụng nghề nghiệp để thực hiện các hành vi sai trái. Vấn đề này gây
ra nhiều làn sóng bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy
tín và niềm tin của công chúng đối với báo chí [6]. Tình hình trên đề ra yêu cầu
cho các quan báo chí các nhà báo nhìn nhận lại những đóng góp tích cực
tiêu cực trong thời gian qua đối với sự nghiệp phát triển của báo chí nước
nhà. Với mục tiêu báo chí thời điểm này phấn đấu trở thành lực lượng đi đầu
trong việc vạch trần bộ mặt thật của kẻ thù, tích cực, chủ động trong việc định
hướng nhận thức tư tưởng, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”
của kẻ thù, giữ vững ổn định hội, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân.
“Muốn đi xa thì phải về gần. Báo chí muốn đi tiếp thì phải quay vền 90 năm
trước đây, khi báo chí cách mạng ra đời, để tìm lại những giá trị cốt lõi của
mình. Đó là tính cách mạng và tính tiên phong.” [7].
Việc đi sâu phân tích chứng minh quan điểm: “Báo chí một mặt
trận, nhà o chiến sĩ, ngòi bút khí, bài báo tờ hịch cách mạng” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu hơn về tầm quan trọng, trách
nhiệm nặng nề của người làm báo, từ đó đề cao vai trò những đóng góp của
báo chí, nhà báo trong công cuộc xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước.
8
Câu 2. Các thế lực thù địch, phản động trong ngoài nước thường xuyên
đưa luận điệu: “Việt Nam khôngtự do báo chí, không có tự do ngôn luận...”, ý
kiến của anh/chị về vấn đề này như thế nào?
2.1. Vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận
Khẩu hiệu “tự do báo chí” xuất hiện trong cuộc cách mạng dân chủ
sản, được giai cấp sản sừ dụng làm khí để lật đổ chế độ chuyên chế tập
quyền phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa [8]. Theo Tuyên ngôn quốc
tế nhân quyền năm 1948, tại Điều 19 quy định: “Ai cũng quyền tự do
quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai
can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ
biến tin tức ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới
quốc gia.” [9]. Trên sở đó, pháp luật Việt Nam sự ghi nhận bảo đảm
thực hiện nhóm quyền về tự do báo c tự do ngôn luận. Việc nghiên cứu
làm vấn đề về quyền tự do báo chí tự do ngôn luận ở Việt Nam nói riêng
góp phần tìm ra các giải pháp tăng cường việc đảm bảo thực hiện quyền này
trước các ảnh hưởng xấu của các thế lực thù đich, phản động trong ngoài
nước.
Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận những quyền bản của con
người, lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966). Cụ thể, trong văn
bản Luật Báo chí Việt Nam năm 2016 tại Điều 10 đã cụ thể hóa quyền tự do báo
chí, tự do ngôn luận bao gồm: “1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông
tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí;
5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo
in.” [1]. Luật trên còn khẳng định báo chí diễn đàn tin cậy của nhân dân,
nơi công dân quyền thực hiện các quyền tự do ngôn luận trên báo chí qua
các phương tiện báo chí như sau: “1. Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước
thế giới; 2. Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; 3. Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác [1].
9
2.2. Nhận diện luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước có xu
hướng tận dụng các phương tiện thông tin để “tấn côngm lý” gây ảnh hưởng
mạnh mẽ đến lòng tin của công chúng với chế độ nhà nước. Đây một trong
những thủ đoạn phổ biến trong việc thực hiện “diễn biến hòa bình” một chiến
lược cơ bản được các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhằm mục đích lật đổ
chế độ chính trị - hội của các nước tiến bộ, chủ yếu bằng các biện pháp phi
quân sự trên tất cả các lĩnh vực. Vậy nên, việc các thế lực trên đưa ra luận điệu
sai trái trên nhằm mục đích bôi nhọ phủ nhận những thành tựu to lớn của
hoạt động báo chỉ cách mạng Việt Nam.
Một dụ điển hình gần đây nhất, vào năm 2023 nội dung trong báo cáo
đánh giá chỉ số tự do o chí được RSF tổ chức Phóng viên không biên giới
công bố nhân ngày Báo chí Toàn cầu 3/5, Việt Nam hiện đứng thứ 178/180
quốc gia vùng lãnh thổ được khảo sát, tụt 4 hạng so với năm 2022. Họ
bình luận trongo cáo trên rằng: “Báo chí truyền thống của Việt Nam bị kiểm
soát chặt chẽ bởi một đảng. Các nhà báo tự do blogger thường xuyên bị cầm
tù, biến Việt Nam thành nhà lớn thứ ba trên thế giới đối với nhà báo”. Đây
dường như không phải lần đầu xuất hiện những luận điệu sai trái bàn về báo chí
nước ta từ các thế lực thù địch, tuy nhiên đây lại càng tín hiệu nhắc nhở
chúng ta phải nâng cao cảnh giác mạnh mẽ đâu tranh, phản bác lại những
luận điệu xuyên tạc đang gây ra ảnh hưởng xấu đến uy tín của Việt Nam.
2.3. Ý kiến phản bác luận điệu
2.3.1. Dựa trên khía cạnh pháp lý
Tự do ngôn luận, tự do báo chí những quyền bản của con người
được Liên hợp quốc thông qua tại Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm
1948. quốc gia thành viên trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã
sớm tham gia ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con
người quyền công dân. Dù phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình
đảm bảo quyền cho công dân nhưng Việt Nam vẫn luôn nỗ lực thực hiện tốt các
quyền nêu trên để góp phần thúc đẩy dân chủ, phát triển xã hội và bảo vệ lợi ích
của nhân dân.
Trên phương diện pháp lý, theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã
ban hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều
10
văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp cho báo chí Việt Nam phát
triển. Cụ thể, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bản
Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông quam 1946 đã hiến định tương đối
khái quát về vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Điều 10 như sau: “Công
dân Việt Nam quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội
họp, tự do tín ngưỡng, tự do trú, đi lại trong nước ra nước ngoài” [10].
Tiếp đó, Hiến pháp năm 1980 tại Điều 67 cũng đánh dấu bước phát triển rõ ràng
hơn trong vấn đề này: “Công dân các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa
hội của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân
sử dụng các quyền đó.” [11]. Hiến pháp năm 1992 có quy định một cách đầy đủ
hơn về hoạt động báo chí quyền tự do báo chí của công dân tại Điều 33
Điều 69, cụ thể Điều 33 quy định: “Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo
chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện các phương tiện
thông tin đại chúng khác.” Điều 69 quy định: “Công dân quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin; quyền hội họp, lập hội,
biểu tình theo quy định của pháp luật” [12]. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 25
quy định: “Công dân quyển tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình” [13]. Trên cơ sở quy định này, Luật Báo chí năm
2016 tại Điều 13 có ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực
hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát
huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, nhân nào được hạn chế,
cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo
chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập
thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng” [1]. Điều
4 của Luật Báo chí cũng khẳng định tương tự, rằng mọi công dân Việt Nam đều
quyền “tiếp xúc, cung cấp thông tin cho quan báo chí nhà báo; gửi tin,
bài, ảnh các tác phẩm khác cho báo chí không chịu sự kiểm duyệt của tổ
chức, nhân nào chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”
[1].
Như vậy, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận tự do thông tin trong
hoạt động báo chí vẫn luôn được pháp luật nước ta khẳng định rất chi tiết
ràng, điều này thể hiện tính dân chủ văn minh của hoạt động báo chí nước
ta hiện nay. Trong quá trình khẳng định nền báo chí nước nhà các quyền của
công dân ta, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi để không
11
một nhân nào đánh mất hội thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do
ngôn luận trên báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
2.3.2. Dựa trên thực tiễn
Thời gian qua, Đảng Nhà nước ta luôn nỗ lực tạo điều kiện cho báo
chí phát huy đúng vai trò của mình, đồng thời đảm bảo cho công dân thực hiện
quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Bàn về sự phát triển
của báo chí hiện nay, dựa trên số liệu thống của Bộ Thông tin Truyền
thông năm 2023 cho thấy: nước ta hiện nay tổng cộng 6 quan truyền
thông đa phương tiện chủ lực, 127 quan báo, 671 quan tạp chí 72
quan đài phát thanh, truyền hình. Ngoài ra số lượng nhân sự hoạt động trong
lĩnh vực báo chí khoảng hơn 40.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000
vẫn đang có xu hướng tăng. Có thể nhận định, sự gia tăng số lượng cơ quan báo
chí nhân sự báo chí một minh chứng nét cho việc nhà nước Việt Nam
đã đang tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động báo chí phát triển, thể hiện sự
tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân. Ngoài ra, để bảo
vệ quyền lợi chính đáng của các nhà o, Việt Nam lập ra các tổ chức, hội
hoạt động trong nước cũng như tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, tiêu
biểu như: Hội Nhà báo Việt Nam, tổ chức Hội Nhà báo các địa phương Hội
Nhà báo quốc tế (OIJ), Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ). Nhìn chung trong
nhiều năm qua, báo chí nước ta luôn sự tham gia cùng những đóng góp tích
cực vào sự phát triển của báo chí trong nước, khu vực và thế giới.
Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng đa dạng của các phương tiện
thông tin đại chúng tại Việt Nam đã và đang đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự
do báo c tự do thông tin một cách tích cực. Điều này được phản ánh qua
các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách diễn ra tại
Quốc hội, cũng như trong các cuộc tọa đàm, tranh luận đa lĩnh vực trên các
phương tiện thông tin đại chúng với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính
trị, hội người dân. Hằng ngày nước ta vẫn cập nhật hàng triệu tin, bài gửi
cho các báo về nhiều chủ đề liên quan các mặt thiết thực của đời sống xã hội đã
được đăng tải, phản ánh trên nhiều tờ báo, điều này không chỉ thể hiện sự phát
triển sinh động của báo chí nước ta còn một mực khẳng định quyền tự do
báo chỉ, tự do ngôn luận của nhân dân. Đầu năm 2023, Việt Nam hơn 77
triệu người sử dụng mạng hội Internet, chiếm gần 80% tổng dân số. Ngoài
ra, tính đến tháng 1 năm 2023, Việt Nam 70 triệu người dùng mạng hội,
theo tổ chức GWI và data.ai đánh giá, sự phổ biến của mạng xã hội Việt Nam
12
vẫn đang tiếp tục gia tăng không dấu hiệu thụt lùi. Tiếp đó, theo dữ liệu
được công bố của Meta: 66,20 triệu người dùng tại Việt Nam sử dụng
Facebook - mạng hội lớn nhất, nền tảng trực tuyến phổ biến để lưu hành tin
tức thông tin Việt Nam [14]. Vậy nên, không thể quy chụp để đưa ra luận
điệu Việt Nam một nước không sở hữu quyền tự do báo chí quyền tự do
ngôn luận lại thể đạt được những thành tựu phát triển trong lĩnh vực báo
chí như hiện nay.
2.3.3. Quan điểm cá nhân
Quyền con người vốn minh chứng cho quá trình phát triển của lịch sử
một đất nước, gắn liền với quyền dân tộc tự quyết chủ quyền quốc gia. Trên
thực tế, tự do báo c vốn được các công ước quốc tế cũng như luật pháp của
các nước công nhận một quyền bản của con người. Tuy nhiên đó sự tự
do trong khuôn khổ chứ không phải sự tự do tuyệt đối, bởi lẽ báo chí bao giờ
cũng mang tính giai cấp, công cụ để bảo vệ quyền lợi vai trò của giai cấp
thống trị. Vậy nên, thể khẳng định tự do báo chí của Việt Nam nếu không
dựa trên sự định hướng bởi đường lối đúng đắn của Đảng, pháp luật của Nhà
nước sẽ dễ dàng bị chệch hướng khỏi mục tiêu, lý tưởng đi lên xã hội chủ nghĩa
toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu y dựng từng ngày. Vậy
nên, việc những thế lực thù địch, phản động liên tục xuyên tạc bịa đặt cho
rằng Việt Nam không có tự do báo chí vì đang bị định hướng và quản lý là hoàn
toàn sai trái. Điều này xuất phát từ nhận thức hồ về quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận nước ta, hay do hiểu biết phiến diện hoặc cố tình hiểu sai về tự
do báo chí dẫn đến việc đưa ra những luận điệu thiếu căn cứ như trên.
Đối diện với tình hình bị các thế lực thù địch, phản động trong ngoài
nước đưa ra các luận điệu sai lệch ảnh hưởng trầm trọng đến uy tín quốc gia,
trên sở cấp bách đó, đặt ra yêu cầu phải kịp thời đề ra những hướng đi đúng
đắn để làm rõ vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Từ đó có giải pháp tích
cực cho quá trình đấu tranh, phản bác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù,
góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tưởng của Đảng ta. Đặc biệt, cần chú
trọng việc đào tạo bồi dưỡng những cây bút chuyên sâu nhằm đấu tranh
tưởng chống âm mưudiễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đây không
chỉ giải pháp đáp ứng yêu cầu giải quyết vấn đề trước mắt còn nhiệm
vụ chiến lược trong công cuộc xây dựng, phát triển bảo vệ Tổ quốc [15].
Đồng thời, những công dân Việt Nam, được hưởng trọn vẹn các quyền con
người do pháp luật bảo hệ, yêu cầu những nghĩa vụ kèm theo, bởi “Không
13
quyền lợi nào không nghĩa vụ, không nghĩa vụ nào không
quyền lợi” [15]. Để phát huy quyền tự do báo chí tự do ngôn luận trong
nước, bảo vệ quyền của nhân, mỗi công dân cần nhận thức hành động
đúng dắn chống lại những luận điệu xuyên tạc từ các thế lực xấu xa, đồng thời
khẳng định những cố gắng của Đảng Nhà nước trong việc tăng cường đảm
bảo thực hiện quyền tự do báo chí tự do ngôn luận trước các ảnh hưởng xấu
của các thế lực thù đich, phản động trong và ngoài nước.
14
Câu 3. Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” ý nghĩa cho anh/chị
trước mắt và lâu dài?
3.1. Ý nghĩa trước mắt đối với cá nhân
Học phần luận báo chí - truyền thông môn học nền tảng trong
chương trình đào tạo về luận báo chí tại Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa
học hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Nội. Học phần vai trò quan
trọng trong việc cung cấp cho sinh viên kiến thứcbản trong lĩnh vực báo chí
truyền thông, từ đó góp phần vào quá trình đào tạo nên nguồn nhân lực chất
lượng cao cho ngành báo chí truyền thông của nước nhà. Học phần diễn ra
trong 15 tuần học gắn với 10 chương trong giáo trình “Cơ sở luận báo chí
truyền thông”. Sau khi kết thúc học phần, nhân sinh viên sẽ nắm bắt được
khái lược các kiến thức luận bao gồm: khái niệm truyền thông quá trình
truyền thông, những vấn đề chung của báo chí, tổng quan các vấn đề trong lĩnh
vực báo chí và nhà báo.
Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” vai trò quan trọng trong
việc trang bị cho sinh viên những kiến thức kỹ năng cần thiết để trở thành
lực lượng lao động tiềm năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Việc nắm
chắc nền tảng kiến thức lý luận về báo chí, truyền thông giúp mỗi cá nhân có sự
phân tích đánh giá các vấn đế hội một cách có hệ thống khoa học qua
góc nhìn của một người làm trong lĩnh vực báo chí truyền thông. Việc nhìn
nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau cũng giúp nhân chủ động trong việc
nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan và toàn diện nhất.
3.2.2. Ý nghĩa lâu dài đối với cá nhân
Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” không chỉ giúp nắm chắc kiến
thức bản chuyên sâu về báo chí truyền thông học phân còn góp
phần xây dựng, định hình nền tảng duy đạo đức nghề qua đó giúp tôi có
những định hướng đúng đắn cho sự phát triển toàn diện bền vững cho
nhân trong lĩnh vực này. Ngoài ra, những kiến thức t học phần này còn xây
dưng cho nhân cái nhìn biện chứng, sâu sắc hơn về vai trò, ảnh hưởng của
truyền thông trong đời sống. Từ đó giúp nhân tôi vận dụng các phương tiện
truyền thông vào các hoạt động của hội một cách hiệu quả nhất. Tóm lại,
học phần "Lý luận báo chí truyền thông" có ý nghĩa cùng quan trọng đối với
tôi, trước mắt hay lâu dài thì đây vẫn một học phần rất hay, bổ ích
đáng học.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] "Luật Báo chí," 5 4 2016. [Online]. Available: https://s.net.vn/wFYj.
[
2]
Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, "Cơ sở luận báo chí truyền
thông," Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004. [Online]. Available: tr.51.
[
3]
Quang Trường, "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí," Tạp chí
Tổ chức nhà nước, 21 6 2015. [Online]. Available: https://s.net.vn/kGFk.
[Accessed 23 5 2024].
[
4]
Kim Dung, "Chính phủ sẽ giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của
các quan báo chí," Tạp chí Tòa án Nhân dân, 21 6 2021. [Online]. Available:
https://s.net.vn/DXh9. [Accessed 21 5 2024].
[
5]
Hoàng Hoàng, Việt Trung, "Hội nghị Báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm
2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024," Quân đội Nhân dân, 21 12 2023. [Online].
Available: https://s.net.vn/QdJy. [Accessed 18 5 2024].
[
6]
Nguyễn Mạnh Hùng, "Báo chí phải đi đầu trong những vấn đề lớn và mới của đất
nước," Việt báo, 22 12 2023. [Online]. Available: https://s.net.vn/fqzN. [Accessed
25 5 2024].
[
7]
PGS.TS Nguyễn Sĩ Trung, Dương Thành Tn, "Tự do báo chí và tự do báo chí
Việt Nam," Diễn đàn học thuật đấu tranh tưởng, 10 8 2022. [Online].
Available: https://s.net.vn/kcKU. [Accessed 25 5 2024].
[
8]
"Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền," Thư viện pháp luật, 1948. [Online]. Available:
https://s.net.vn/KDwP. [Accessed 24 5 2024].
[
9]
"Hiến pháp Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa," Thư viện pháp luật, 1946.
[Online]. Available: https://s.net.vn/Fw9m. [Accessed 17 5 2024].
[
10]
"Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
1980. [Online]. Available: https://s.net.vn/9CSH.
[
11]
"Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
1992. [Online]. Available: https://s.net.vn/GbbW.
16
[
12]
"Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
2013. [Online]. Available: https://s.net.vn/B5RW.
[
13]
"Internet Việt Nam 2023: Số liệu mới nhất xu hướng phát triển,"
VNETWORK, 2024. [Online]. Available: https://s.net.vn/ZPCV. [Accessed 26 5
2024].
[
14]
Các Mác, Ăng-ghen, "Toàn tập, Sđđ," [Online]. Available: t.16, tr.25. [Accessed
22 5 2024].
[
15]
Hồ Chí Minh, "Toàn tập, tập 10," Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. [Online].
Available: tr.616. [Accessed 18 5 2024].
[
16]
Hồ Chí Minh, "Toàn tập, tập 5," Nxb Chính trị quốc gia, Nội, 2000. [Online].
Available: tr.368. [Accessed 18 5 2024].
[
17]
T.S Đoàn Trường Thụ, "Nhận diện phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc
của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt
Nam," Tạp chí Cộng sản, 15 5 2023. [Online]. Available: https://s.net.vn/KofB.
[Accessed 21 5 2024].
[
18]
Hồ Chí Minh, "Toàn tập, Sđd," Nxb Chính trị quốc gia, Nội, 2000. [Online].
Available: tr.615. [Accessed 23 5 2024].
[
19]
GS, TS. Mạch Quang Thắng, "Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền báo chí cách mạng
Việt Nam," Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 19 6 2022. [Online]. Available:
https://s.net.vn/Pj7Y. [Accessed 23 5 2024].
[
20]
Nguyễn Chí Dũng , "Báo chí một mặt trận," Báo Quân đội nhân dân, 20 6
2010. [Online]. Available: https://s.net.vn/C6pX. [Accessed 24 5 2024].
[
21]
"Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền," Tạp chí pháp luật về quyền con người điện
tử, 10 12 1948. [Online]. Available: https://s.net.vn/ejbO. [Accessed 25 5 2024].
17

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
HỌC PHẦN: LÝ LUẬN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Họ và tên sinh viên: : Lý Thu Thảo Mã sinh viên : 23030127 Khoa : Báo chí Mã học phần : JOU1150 2
Giảng viên hướng dẫn :
PGS.TS Đinh Văn Hường
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2024 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng
viên giảng dạy đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập học phần “Lý luận báo chí -
truyền thông” tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu, em nhận thấy bản thân còn nhiều thiếu sót rất
mong thầy sẽ thông cảm và góp ý để em hoàn thiện hơn trong những bài nghiên cứu sau. Em xin chân thành cảm ơn! 1 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các nội dung nghiên cứu
trong đề tài hoàn toàn do tôi tự tìm hiểu, phân tích và đánh giá một cách khách quan và trung thực.
Nếu phát hiện bất kì sự gian dối nào trong bài nghiên cứu trên, tôi xin chịu
trách nhiệm trước mọi quy định của Nhà trường. 2 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................5
Câu 1. Bằng kiến thức lý luận và liên hệ thực tiễn, anh/chị hãy phân tích
và chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Báo chí là một mặt trận,
nhà báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng”..................5
1.1.
Phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh....................................5 1.2.
Chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh...............................7
Câu 2. Các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường xuyên
đưa luận điệu: “Việt Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận...”, ý
kiến của anh/chị về vấn đề này như thế nào?.......................................................10

2.1. Vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận...................................................10
2.2. Nhận diện luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động..............11
2.3. Ý kiến phản bác luận điệu.........................................................................11
Câu 3. Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” có ý nghĩa gì cho anh/chị
trước mắt và lâu dài?.............................................................................................16
3.1. Ý nghĩa trước mắt đối với cá nhân............................................................16
3.2.2. Ý nghĩa lâu dài đối với cá nhân..............................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................17 3 PHẦN NỘI DUNG
Câu 1. Bằng kiến thức lý luận và liên hệ thực tiễn, anh/chị hãy phân tích và
chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Báo chí là một mặt trận, nhà
báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng”.
1.1.
Phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái quát về quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt
Nam, là người đã từng làm tất cả các công việc báo chí, từ chủ bút, quản trị đến
phóng viên, biên tập viên... Hơn ai hết, với kinh nghiệm hơn 50 năm cuộc đời
gắn bó với báo chí cách mạng, là người đã công bố gần 2.000 bài báo, sáng lập,
tổ chức và phát hành nhiều tờ báo cách mạng, có thể nói, sự nghiệp báo chí của
Người đã tạo nền tảng vững chắc để phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam
hiện nay. Bày tỏ quan điểm về báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Báo
chí là một mặt trận, nhà báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch
cách mạng”, đây là những lời được Bác trình bày trong “Thư gửi lớp học viết
báo Huỳnh Thúc Kháng” (1949), tại Ðại hội II (1959), Ðại hội III (1962), tại
Hội Nhà báo Việt Nam và trong Ðiện mừng Hội Nhà báo Á - Phi (1965). Lời
dạy của Người là sự khẳng định vai trò và sứ mệnh quan trọng của báo chí
trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo
vệ, phát triển đất nước hôm nay.
Với hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, cũng như các quan điểm về báo chí, Chủ tịch Hồ Chí
Minh là một nhà báo kiệt xuất đã có công đặt nền móng vững chắc cho nền báo
chí cách mạng Việt Nam. Ðược dẫn dắt bởi tư tưởng đúng đắn của Bác, lịch sử
cách mạng Việt Nam đã chứng minh vai trò to lớn của báo chí trong các cuộc
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất
nước hiện nay. Cho đến mãi về sau, những tư tưởng của Bác về đạo đức nghề
báo và những lời căn dặn của Bác với đội ngũ những người làm báo cách mạng
Việt Nam vẫn vẹn nguyên giá trị cốt lõi và nhân văn.
1.1.2. Chức năng và vai trò của báo chí
Theo Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định: “Báo chí là sản phẩm
thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết,
hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn
tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo 4
điện tử” [1]. Hay có thể nói ngắn gọn hơn: “Báo chí là loại hình hoạt động
thông tin chính trị - xã hội” [2]. Báo chí là kênh truyền tải thông tin quan trọng,
là phương tiện tạo dư luận xã hội và định hướng dư luận xã hội, là tiếng nói của
mọi tầng lớp nhân dân lao động. Báo chí là công cụ đấu tranh với những quan
điểm phản động để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, “với sứ mệnh cao cả bảo vệ chính nghĩa,
phục vụ nhân dân cũng chính là đảm bảo tính chiến đấu của báo chí qua đó
khẳng định danh dự, uy tín của tờ báo và nhà báo” [3].
Nói “Báo chí là một mặt trận” bởi lẽ báo chí có vai trò đấu tranh trên
lĩnh vực tư tưởng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước và xây dựng đất nước. Trước hết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng là cuộc
chiến tranh giành quyền tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm, giá trị đạo
đức, lối sống của con người. Đây là mặt trận quan trọng trong công cuộc đấu
tranh nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Trước hết nói báo chí là mặt trận đấu
tranh tư tưởng là bởi báo chí giữ vai trò định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng
thuận về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân.
Đồng thời, báo chí chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch để bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc
trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Cùng với đó, báo
chí có khả năng giáo dục cũng như góp phần nâng cao trình độ cho người dân.
Cuối cùng, trong tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
báo chí giữ vai trò là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ. Vậy nên ví báo chí là mặt trận
đấu tranh tư tưởng quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hoàn toàn hợp lí.
1.1.3. Vai trò và trách nhiệm của nhà báo
Nhà báo được hiểu đơn giản là “người làm hoạt động nghiệp vụ trong
lĩnh vực thông tin đại chúng” [2]. Ví chiến trường của nhà báo là một mặt trận
tư tưởng chính trị tư tưởng, trong đó người làm báo sử dụng ngòi bút, trang báo
của mình làm thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh cho sự thật, cho công lý, cho lợi
ích của nhân dân, của Tổ quốc. Thực chất, hình ảnh người chiến sĩ tượng trưng
cho tình yêu nước cùng những phẩm chất cao quý và lý tưởng cao đẹp. Vậy nên
ý nghĩa của hình ảnh ẩn dụ "nhà báo là chiến sĩ" thể hiện sự tôn vinh, ca ngợi và
khẳng định vai trò của báo chí và nhà báo, như những chiến sĩ bảo vệ chủ
quyền quốc gia, nhà báo cũng đóng vai trò quan trọng trên mặt trận đấu tranh 5
chống lại những thế lực xấu xa đe dọa đến lợi ích của nhân dân. Cũng giống
như các chiến sĩ ngoài mặt trận, nhà báo luôn phải đặt mình trong tâm thế sẵn
sàng đương đầu với thách thức, đối mặt với nguy hiểm, kiên định, bền bỉ và
thậm chí là hy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ công chúng. Đặc biệt quan trọng
hơn cả, Người đặt tương quan so sánh giữa người chiến sĩ và nhà báo nhằm
nhắn nhủ người làm báo rằng phải luôn nuôi dưỡng tình yêu nước, bản lĩnh đạo
đức nghề nghiệp để hoàn thành sứ mệnh vừa cao cả vừa nặng nề của mình trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nếu báo chí là một mặt trận và người làm báo là chiến sĩ cách mạng thì
việc nói “ngòi bút là vũ khí, trang báo là tờ hịch cách mạng” nhằm nhấn mạnh
khả năng chiến đấu và sức mạnh to lớn của ngòi bút và trang báo trong cuộc
đấu tranh của dân tộc. Nói “ngòi bút là vũ khí” bởi, sức mạnh của ngòi bút giờ
đây còn có thể gây ra những sát thương mạnh mẽ hơn tất thảy thứ vũ khí vật
chất nào trên chiến trường. Sức mạnh của ngòi bút, của lời nói, của truyền
thông có thể tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, nhận thức và hành động của quần
chúng nhân dân, từ đó huy động và tập hợp lực lượng cách mạng. Việc nói
“trang báo là tờ hịch cách mạng” nhằm chỉ vai trò tương tự của các trang báo,
phương tiện truyền thông như một tờ hịch cách mạng, trong đó “hịch” là văn
bản kêu gọi nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Những
trang báo lúc ấy sẽ trở thành thứ "vũ khí" quan trọng góp phần vận động và tập
hợp lực lượng cách mạng, tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ từ quần chúng nhân
dân. Như vậy, tổng quan câu nói trên nhằm mục đích nhấn mạnh vai trò chiến
đấu, cách mạng của báo chí và các phương tiện truyền thông trong cuộc đấu
tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. 1.2.
Chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.1. Trong bối cảnh lịch sử dân tộc
Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, báo chí tuyên truyền giữ vai
trò tư tưởng của giai cấp dân chủ tư sản, cổ vũ việc xây dựng xã hội dân chủ tư
sản. Thời điểm ấy, gần như các tờ báo của người dân lao động, của giai cấp
công nhân đấu tranh cho cách mạng đều bị coi là tư tưởng phản động. Bất bình
trước bởi sự cấm đoán khắc nghiệt khi ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên
quan điểm: “Giữa thế kỷ XX này ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có
lấy một tờ báo... Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ” nhằm nêu bật lên tình
trạng mất tự do báo chí nặng nề của ta khi ấy đồng thời bộc lộ thái độ kiên 6
quyết đấu tranh giành chính quyền và xây dựng cuộc sống mới cho tầng lớp
nhân dân lao động, giai cấp công nhân yếu thế. Thực tiễn lịch sử hoạt động báo
chí cách mạng ở nước ta bắt đầu từ khi do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập tờ
báo Thanh niên, chính thức ra số đầu tiên tại Quảng Châu - Trung Quốc vào
ngày 21/06/1925. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sử dụng báo chí làm phương
tiện chính để hoạt động trên tất cả các lĩnh vực cách mạng. Và trên thực tế cách
mạng Việt Nam cho thấy, tờ báo Thanh Niên cùng với tác phẩm Ðường Kách
mệnh và một số tờ báo khác do Người sáng lập ra đã góp phần quan trọng vào
việc chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Ðảng
Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và xa hơn là sự ra đời của nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh có hàng nghìn
bài báo cả ở trong và ngoài nước, với nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng chỉ có
hướng báo chí cách mạng Việt Nam đến mục tiêu cuối cùng là phấn đấu vì độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng giai cấp lao động khỏi áp bức,
bất công để tiến lên xây dựng cuộc sống mới ấm no, tự do, hạnh phúc và bình đẳng.
1.2.2. Trong bối cảnh đất nước hiện nay
Trải qua 96 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, sự lớn mạnh
không ngừng cả về số lượng và chất lượng của báo chí Việt Nam là minh chứng
rõ ràng nhất cho việc học và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính
đến nay, báo chí nước ta đã hình thành thành một hệ thống thông tấn, báo chí,
phát thanh, truyền hình rộng khắp cả nước, theo thống kê của Bộ Thông tin và
Truyền thông năm 2023 cho thấy, nước ta hiện nay có tổng cộng 1 hãng thông
tấn quốc gia, 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo,
706 cơ quan báo chí in, 671 cơ quan tạp chí và 72 cơ quan đài phát thanh,
truyền hình. Nhận thấy báo chí cách mạng Việt Nam đã và đang nỗ lực phát
triển hơn từng ngày để thực hiện tốt sứ mệnh vẻ vang của mình trong công cuộc
kháng chiến, kiến quốc, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế của nước nhà trong tương lai.
Nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, Thủ
tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhận định: “Thời kỳ nào cũng vậy, các nhà
báo luôn là những chiến sĩ dũng cảm trên tất cả các mặt trận. Chúng ta đã quá
quen thuộc với hình ảnh các nhà báo tác nghiệp quên mình trong phòng chống
tội phạm, thiên tai, bão lũ, những điểm nóng ở mọi nơi, mọi lúc và đặc biệt
trong thời gian gần đây là những chiến sỹ báo chí giữa tâm dịch COVID-19 để 7
thông tin kịp thời, chính xác tình hình đến công chúng” [5]. Quả thực, trong bối
cảnh chống lại đại dịch COVID-19, những người làm báo xứng đáng được ghi
nhận như những chiến binh thầm lặng trên tuyến đầu chống dịch. Mặc dù phải
đối diện với những khó khăn như nguy cơ lây nhiễm cao, họ không chỉ hoàn
thành sứ mệnh chuyển tải lượng thông tin chính xác, kịp thời đến người dân mà
còn góp phần cổ vũ tinh thần, động viên ý chí cho nhân dân trong cuộc chiến
chống “giặc” COVID-19. Trong giai đoạn ấy, có thể kể đến các phóng viên của
Báo Tuổi Trẻ luôn túc trực ngày đêm tại tâm dịch để cập nhật tình hình dịch
bệnh trong nước và quốc tế, các biện pháp phòng chống dịch của chính quyền,
cũng như những diễn biến mới nhất về vắc-xin COVID-19.
Tuy nhiên, báo chí Việt Nam vẫn tồn tại những vấn đề chưa thể giải
quyết, cụ thể trong Hội nghị Báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2023,
triển khai nhiệm vụ năm 2024 có tổng hợp lại và nêu ra nhiều cơ quan báo chí
chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa hoàn thành nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền
trong tình hình hiện nay. Ngoài ra, một số bộ phận người làm báo có biểu hiện
suy thoái về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống, vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, lạm dụng nghề nghiệp để thực hiện các hành vi sai trái. Vấn đề này gây
ra nhiều làn sóng bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy
tín và niềm tin của công chúng đối với báo chí [6]. Tình hình trên đề ra yêu cầu
cho các cơ quan báo chí và các nhà báo nhìn nhận lại những đóng góp tích cực
và tiêu cực trong thời gian qua đối với sự nghiệp phát triển của báo chí nước
nhà. Với mục tiêu báo chí thời điểm này phấn đấu trở thành lực lượng đi đầu
trong việc vạch trần bộ mặt thật của kẻ thù, tích cực, chủ động trong việc định
hướng nhận thức tư tưởng, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”
của kẻ thù, giữ vững ổn định xã hội, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân.
“Muốn đi xa thì phải về gần. Báo chí muốn đi tiếp thì phải quay về hơn 90 năm
trước đây, khi báo chí cách mạng ra đời, để tìm lại những giá trị cốt lõi của
mình. Đó là tính cách mạng và tính tiên phong.” [7].
Việc đi sâu phân tích và chứng minh quan điểm: “Báo chí là một mặt
trận, nhà báo là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tầm quan trọng, trách
nhiệm nặng nề của người làm báo, từ đó đề cao vai trò và những đóng góp của
báo chí, nhà báo trong công cuộc xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước. 8
Câu 2. Các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường xuyên
đưa luận điệu: “Việt Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận...”, ý
kiến của anh/chị về vấn đề này như thế nào?

2.1. Vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận
Khẩu hiệu “tự do báo chí” xuất hiện trong cuộc cách mạng dân chủ tư
sản, được giai cấp tư sản sừ dụng làm vũ khí để lật đổ chế độ chuyên chế tập
quyền phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa [8]. Theo Tuyên ngôn quốc
tế nhân quyền năm 1948, tại Điều 19 có quy định: “Ai cũng có quyền tự do
quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai
can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ
biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới
quốc gia.” [9]. Trên cơ sở đó, pháp luật Việt Nam có sự ghi nhận và bảo đảm
thực hiện nhóm quyền về tự do báo chí và tự do ngôn luận. Việc nghiên cứu và
làm rõ vấn đề về quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận ở Việt Nam nói riêng
góp phần tìm ra các giải pháp tăng cường việc đảm bảo thực hiện quyền này
trước các ảnh hưởng xấu của các thế lực thù đich, phản động trong và ngoài nước.
Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận là những quyền cơ bản của con
người, lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966). Cụ thể, trong văn
bản Luật Báo chí Việt Nam năm 2016 tại Điều 10 đã cụ thể hóa quyền tự do báo
chí, tự do ngôn luận bao gồm: “1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông
tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí;
5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo
in.” [1]. Luật trên còn khẳng định báo chí là diễn đàn tin cậy của nhân dân, là
nơi công dân có quyền thực hiện các quyền tự do ngôn luận trên báo chí qua
các phương tiện báo chí như sau: “1. Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và
thế giới; 2. Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; 3. Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác [1]. 9
2.2. Nhận diện luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước có xu
hướng tận dụng các phương tiện thông tin để “tấn công tâm lý” gây ảnh hưởng
mạnh mẽ đến lòng tin của công chúng với chế độ nhà nước. Đây là một trong
những thủ đoạn phổ biến trong việc thực hiện “diễn biến hòa bình” – một chiến
lược cơ bản được các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhằm mục đích lật đổ
chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, chủ yếu bằng các biện pháp phi
quân sự trên tất cả các lĩnh vực. Vậy nên, việc các thế lực trên đưa ra luận điệu
sai trái trên nhằm mục đích bôi nhọ và phủ nhận những thành tựu to lớn của
hoạt động báo chỉ cách mạng Việt Nam.
Một ví dụ điển hình gần đây nhất, vào năm 2023 nội dung trong báo cáo
đánh giá chỉ số tự do báo chí được RSF – tổ chức Phóng viên không biên giới
công bố nhân ngày Báo chí Toàn cầu 3/5, Việt Nam hiện đứng thứ 178/180
quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát, tụt 4 hạng so với năm 2022. Họ có
bình luận trong báo cáo trên rằng: “Báo chí truyền thống của Việt Nam bị kiểm
soát chặt chẽ bởi một đảng. Các nhà báo tự do và blogger thường xuyên bị cầm
tù, biến Việt Nam thành nhà tù lớn thứ ba trên thế giới đối với nhà báo”. Đây
dường như không phải lần đầu xuất hiện những luận điệu sai trái bàn về báo chí
nước ta từ các thế lực thù địch, tuy nhiên đây lại càng là tín hiệu nhắc nhở
chúng ta phải nâng cao cảnh giác và mạnh mẽ đâu tranh, phản bác lại những
luận điệu xuyên tạc đang gây ra ảnh hưởng xấu đến uy tín của Việt Nam.
2.3. Ý kiến phản bác luận điệu
2.3.1. Dựa trên khía cạnh pháp lý
Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người
được Liên hợp quốc thông qua tại Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm
1948. Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã
sớm tham gia ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con
người và quyền công dân. Dù phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình
đảm bảo quyền cho công dân nhưng Việt Nam vẫn luôn nỗ lực thực hiện tốt các
quyền nêu trên để góp phần thúc đẩy dân chủ, phát triển xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Trên phương diện pháp lý, theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã
ban hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều 10
văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát
triển. Cụ thể, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bản
Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua năm 1946 đã hiến định tương đối
khái quát về vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Điều 10 như sau: “Công
dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội
họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” [10].
Tiếp đó, Hiến pháp năm 1980 tại Điều 67 cũng đánh dấu bước phát triển rõ ràng
hơn trong vấn đề này: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa
xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân
sử dụng các quyền đó.” [11]. Hiến pháp năm 1992 có quy định một cách đầy đủ
hơn về hoạt động báo chí và quyền tự do báo chí của công dân tại Điều 33 và
Điều 69, cụ thể Điều 33 quy định: “Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo
chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện
thông tin đại chúng khác.” và Điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội,
biểu tình theo quy định của pháp luật” [12]. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 25
quy định: “Công dân có quyển tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình” [13]. Trên cơ sở quy định này, Luật Báo chí năm
2016 tại Điều 13 có ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực
hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát
huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế,
cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo
chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập
thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng” [1]. Điều
4 của Luật Báo chí cũng khẳng định tương tự, rằng mọi công dân Việt Nam đều
có quyền “tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin,
bài, ảnh và các tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ
chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin” [1].
Như vậy, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin trong
hoạt động báo chí vẫn luôn được pháp luật nước ta khẳng định rất chi tiết và rõ
ràng, điều này thể hiện tính dân chủ và văn minh của hoạt động báo chí ở nước
ta hiện nay. Trong quá trình khẳng định nền báo chí nước nhà và các quyền của
công dân ta, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi để không 11
một cá nhân nào đánh mất cơ hội thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do
ngôn luận trên báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
2.3.2. Dựa trên thực tiễn
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực tạo điều kiện cho báo
chí phát huy đúng vai trò của mình, đồng thời đảm bảo cho công dân thực hiện
quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Bàn về sự phát triển
của báo chí hiện nay, dựa trên số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền
thông năm 2023 cho thấy: nước ta hiện nay có tổng cộng 6 cơ quan truyền
thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí và 72 cơ
quan đài phát thanh, truyền hình. Ngoài ra số lượng nhân sự hoạt động trong
lĩnh vực báo chí khoảng hơn 40.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000 và
vẫn đang có xu hướng tăng. Có thể nhận định, sự gia tăng số lượng cơ quan báo
chí và nhân sự báo chí là một minh chứng rõ nét cho việc nhà nước Việt Nam
đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động báo chí phát triển, thể hiện sự
tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân. Ngoài ra, để bảo
vệ quyền lợi chính đáng của các nhà báo, Việt Nam có lập ra các tổ chức, hội
hoạt động trong nước cũng như tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, tiêu
biểu như: Hội Nhà báo Việt Nam, tổ chức Hội Nhà báo các địa phương và Hội
Nhà báo quốc tế (OIJ), Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ). Nhìn chung trong
nhiều năm qua, báo chí nước ta luôn có sự tham gia cùng những đóng góp tích
cực vào sự phát triển của báo chí trong nước, khu vực và thế giới.
Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của các phương tiện
thông tin đại chúng tại Việt Nam đã và đang đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí và tự do thông tin một cách tích cực. Điều này được phản ánh qua
các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách diễn ra tại
Quốc hội, cũng như trong các cuộc tọa đàm, tranh luận đa lĩnh vực và trên các
phương tiện thông tin đại chúng với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính
trị, xã hội và người dân. Hằng ngày nước ta vẫn cập nhật hàng triệu tin, bài gửi
cho các báo về nhiều chủ đề liên quan các mặt thiết thực của đời sống xã hội đã
được đăng tải, phản ánh trên nhiều tờ báo, điều này không chỉ thể hiện sự phát
triển sinh động của báo chí nước ta mà còn một mực khẳng định quyền tự do
báo chỉ, tự do ngôn luận của nhân dân. Đầu năm 2023, Việt Nam có hơn 77
triệu người sử dụng mạng xã hội Internet, chiếm gần 80% tổng dân số. Ngoài
ra, tính đến tháng 1 năm 2023, Việt Nam có 70 triệu người dùng mạng xã hội,
theo tổ chức GWI và data.ai đánh giá, sự phổ biến của mạng xã hội ở Việt Nam 12
vẫn đang tiếp tục gia tăng và không có dấu hiệu thụt lùi. Tiếp đó, theo dữ liệu
được công bố của Meta: có 66,20 triệu người dùng tại Việt Nam sử dụng
Facebook - mạng xã hội lớn nhất, nền tảng trực tuyến phổ biến để lưu hành tin
tức và thông tin ở Việt Nam [14]. Vậy nên, không thể quy chụp để đưa ra luận
điệu Việt Nam là một nước không sở hữu quyền tự do báo chí và quyền tự do
ngôn luận mà lại có thể đạt được những thành tựu phát triển trong lĩnh vực báo chí như hiện nay. 2.3.3. Quan điểm cá nhân
Quyền con người vốn là minh chứng cho quá trình phát triển của lịch sử
một đất nước, gắn liền với quyền dân tộc tự quyết và chủ quyền quốc gia. Trên
thực tế, tự do báo chí vốn được các công ước quốc tế cũng như luật pháp của
các nước công nhận là một quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên đó là sự tự
do trong khuôn khổ chứ không phải là sự tự do tuyệt đối, bởi lẽ báo chí bao giờ
cũng mang tính giai cấp, là công cụ để bảo vệ quyền lợi và vai trò của giai cấp
thống trị. Vậy nên, có thể khẳng định tự do báo chí của Việt Nam nếu không
dựa trên sự định hướng bởi đường lối đúng đắn của Đảng, pháp luật của Nhà
nước sẽ dễ dàng bị chệch hướng khỏi mục tiêu, lý tưởng đi lên xã hội chủ nghĩa
mà toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu và xây dựng từng ngày. Vậy
nên, việc những thế lực thù địch, phản động liên tục xuyên tạc và bịa đặt cho
rằng Việt Nam không có tự do báo chí vì đang bị định hướng và quản lý là hoàn
toàn sai trái. Điều này xuất phát từ nhận thức mơ hồ về quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận ở nước ta, hay do hiểu biết phiến diện hoặc cố tình hiểu sai về tự
do báo chí dẫn đến việc đưa ra những luận điệu thiếu căn cứ như trên.
Đối diện với tình hình bị các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài
nước đưa ra các luận điệu sai lệch ảnh hưởng trầm trọng đến uy tín quốc gia,
trên cơ sở cấp bách đó, đặt ra yêu cầu phải kịp thời đề ra những hướng đi đúng
đắn để làm rõ vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Từ đó có giải pháp tích
cực cho quá trình đấu tranh, phản bác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù,
góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đặc biệt, cần chú
trọng việc đào tạo và bồi dưỡng những cây bút chuyên sâu nhằm đấu tranh tư
tưởng chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đây không
chỉ là giải pháp đáp ứng yêu cầu giải quyết vấn đề trước mắt mà còn là nhiệm
vụ chiến lược trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc [15].
Đồng thời, là những công dân Việt Nam, được hưởng trọn vẹn các quyền con
người do pháp luật bảo hệ, yêu cầu những nghĩa vụ kèm theo, bởi “Không có 13
quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có
quyền lợi” [15]. Để phát huy quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trong
nước, bảo vệ quyền của cá nhân, mỗi công dân cần có nhận thức và hành động
đúng dắn chống lại những luận điệu xuyên tạc từ các thế lực xấu xa, đồng thời
khẳng định những cố gắng của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường đảm
bảo thực hiện quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trước các ảnh hưởng xấu
của các thế lực thù đich, phản động trong và ngoài nước. 14
Câu 3. Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” có ý nghĩa gì cho anh/chị
trước mắt và lâu dài?
3.1. Ý nghĩa trước mắt đối với cá nhân
Học phần Lý luận báo chí - truyền thông là môn học nền tảng trong
chương trình đào tạo về lý luận báo chí tại Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Học phần có vai trò quan
trọng trong việc cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản trong lĩnh vực báo chí
và truyền thông, từ đó góp phần vào quá trình đào tạo nên nguồn nhân lực chất
lượng cao cho ngành báo chí và truyền thông của nước nhà. Học phần diễn ra
trong 15 tuần học gắn với 10 chương trong giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí
truyền thông”. Sau khi kết thúc học phần, cá nhân sinh viên sẽ nắm bắt được
khái lược các kiến thức lý luận bao gồm: khái niệm truyền thông và quá trình
truyền thông, những vấn đề chung của báo chí, tổng quan các vấn đề trong lĩnh
vực báo chí và nhà báo.
Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” có vai trò quan trọng trong
việc trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết để trở thành
lực lượng lao động tiềm năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Việc nắm
chắc nền tảng kiến thức lý luận về báo chí, truyền thông giúp mỗi cá nhân có sự
phân tích và đánh giá các vấn đế xã hội một cách có hệ thống và khoa học qua
góc nhìn của một người làm trong lĩnh vực báo chí và truyền thông. Việc nhìn
nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau cũng giúp cá nhân chủ động trong việc
nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan và toàn diện nhất.
3.2.2. Ý nghĩa lâu dài đối với cá nhân
Học phần “Lý luận báo chí truyền thông” không chỉ giúp nắm chắc kiến
thức cơ bản và chuyên sâu về báo chí và truyền thông mà học phân còn góp
phần xây dựng, định hình nền tảng tư duy và đạo đức nghề qua đó giúp tôi có
những định hướng đúng đắn cho sự phát triển toàn diện và bền vững cho cá
nhân trong lĩnh vực này. Ngoài ra, những kiến thức từ học phần này còn xây
dưng cho cá nhân cái nhìn biện chứng, sâu sắc hơn về vai trò, ảnh hưởng của
truyền thông trong đời sống. Từ đó giúp cá nhân tôi vận dụng các phương tiện
truyền thông vào các hoạt động của xã hội một cách có hiệu quả nhất. Tóm lại,
học phần "Lý luận báo chí truyền thông" có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
tôi, dù là trước mắt hay lâu dài thì đây vẫn là một học phần rất hay, bổ ích và đáng học. 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] "Luật Báo chí," 5 4 2016. [Online]. Available: https://s.net.vn/wFYj.
[Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, "Cơ sở lý luận báo chí truyền
2] thông," Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004. [Online]. Available: tr.51.
[Hà Quang Trường, "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí," Tạp chí 3] Tổ chức nhà nước, 21 6
2015. [Online]. Available: https://s.net.vn/kGFk. [Accessed 23 5 2024].
[Kim Dung, "Chính phủ sẽ có giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của
4] các cơ quan báo chí," Tạp chí Tòa án Nhân dân, 21 6 2021. [Online]. Available:
https://s.net.vn/DXh9. [Accessed 21 5 2024].
[Hoàng Hoàng, Việt Trung, "Hội nghị Báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm
5] 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024," Quân đội Nhân dân, 21 12 2023. [Online].
Available: https://s.net.vn/QdJy. [Accessed 18 5 2024].
[Nguyễn Mạnh Hùng, "Báo chí phải đi đầu trong những vấn đề lớn và mới của đất
6] nước," Việt báo, 22 12 2023. [Online]. Available: https://s.net.vn/fqzN. [Accessed 25 5 2024].
[PGS.TS Nguyễn Sĩ Trung, Dương Thành Tuân, "Tự do báo chí và tự do báo chí ở
7] Việt Nam," Diễn đàn học thuật và đấu tranh tư tưởng, 10 8 2022. [Online].
Available: https://s.net.vn/kcKU. [Accessed 25 5 2024].
["Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền," Thư viện pháp luật, 1948. [Online]. Available:
8] https://s.net.vn/KDwP. [Accessed 24 5 2024].
["Hiến pháp Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa," Thư viện pháp luật, 1946.
9] [Online]. Available: https://s.net.vn/Fw9m. [Accessed 17 5 2024].
["Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
10] 1980. [Online]. Available: https://s.net.vn/9CSH.
["Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
11] 1992. [Online]. Available: https://s.net.vn/GbbW. 16
["Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam," Thư viện pháp luật,
12] 2013. [Online]. Available: https://s.net.vn/B5RW.
["Internet Việt Nam 2023: Số liệu mới nhất và xu hướng phát triển,"
13] VNETWORK, 2024. [Online]. Available: https://s.net.vn/ZPCV. [Accessed 26 5 2024].
[Các Mác, Ăng-ghen, "Toàn tập, Sđđ," [Online]. Available: t.16, tr.25. [Accessed 14] 22 5 2024].
[Hồ Chí Minh, "Toàn tập, tập 10," Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. [Online].
15] Available: tr.616. [Accessed 18 5 2024].
[Hồ Chí Minh, "Toàn tập, tập 5," Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. [Online].
16] Available: tr.368. [Accessed 18 5 2024].
[T.S Đoàn Trường Thụ, "Nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc
17] của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt
Nam," Tạp chí Cộng sản, 15 5 2023. [Online]. Available: https://s.net.vn/KofB. [Accessed 21 5 2024].
[Hồ Chí Minh, "Toàn tập, Sđd," Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. [Online].
18] Available: tr.615. [Accessed 23 5 2024].
[GS, TS. Mạch Quang Thắng, "Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền báo chí cách mạng
19] Việt Nam," Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 19 6 2022. [Online]. Available:
https://s.net.vn/Pj7Y. [Accessed 23 5 2024].
[Nguyễn Chí Dũng , "Báo chí là một mặt trận," Báo Quân đội nhân dân, 20 6
20] 2010. [Online]. Available: https://s.net.vn/C6pX. [Accessed 24 5 2024].
["Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền," Tạp chí pháp luật về quyền con người điện
21] tử, 10 12 1948. [Online]. Available: https://s.net.vn/ejbO. [Accessed 25 5 2024]. 17