



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: LÝ LUẬN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
GV: Ths. Vũ Trà My
ĐỀ BÀI số 2: Phân tích đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người
làm báo trong BÁO IN
Sinh viên thực hiện: Vũ Phương Thảo MSV: 22030770 1 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô ThS Vũ Trà My đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình em trong học phần “ Lý luận báo chí truyền thông” trong suốt thời gian học kỳ vừa qua.
“ Lý luận báo chí truyền thông” là một môn học đóng vai trò làm nền tảng quan trọng cho
các môn học chuyên ngành sau này của chúng em. Tại môn học này, em không chỉ được
học những kiến thức về lý thuyết cơ bản mà còn được xem những hình ảnh và những câu
chuyện cô kể. Không những vậy, tại môn học này, em được làm quen với những người
bạn mới, những người cộng tác đến từ những khoa khác nhau. Chúng em không chỉ cùng
nhau thực hiện những bài tập, những yêu cầu mà giảng viên đưa ra mà còn rèn luyện
được khả năng làm việc nhóm, biết được điểm yếu, điểm mạnh của bản thân.
Tiếp nữa, em cũng xin cảm ơn đội ngũ cán bộ lớp, bạn bè đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
trong quá trình tiếp cận kiến thức và hoàn thành bài tiểu luận cá nhân của mình. Những
kiến thức mà em đã học được là hành trang ban đầu cho quá trình học tập của em sau này.
Em xin gửi tới cô và tất cả mọi người lời chúc sức khỏe và thành công trên con đường sự nghiệp của mình!
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2023
Sinh viên thực hiện Vũ Phương Thảo 2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
2.1. Mục tiêu của tiểu luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
2.2. Nhiệm vụ của tiểu luận. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
3. Đóng góp của tiểu luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
4. Kết cấu của tiểu luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
Chương 1 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO IN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Về báo chí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.1. Khái niệm báo chí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.2. Lịch sử báo chí và sự hình thành báo chí tại Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.3. Các loại hình báo chí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Về báo in . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.2.1. Khái niệm báo in và sự phát triển của báo in tại Việt Nam . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2. Các đặc điểm của báo in . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2.1. Tính thời sự . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2.2. Tính định kỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
Chương 2 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
XU HƯỚNG LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA NHÀ BÁO HIỆN NAY VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.1. Hiện trạng phát triển của người làm báo in tại Việt Nam hiện nay . . . . . . . . . . . 14
2.1.1. Những thành tựu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.1.2. Những hạn chế và thách thức mà người làm báo cần đối mặt . . . . . . . . . . . 15
2.1.3. Nhận định về xu hướng phát triển của sáng tạo báo in hiện nay . . . . . . . . . 15
2.1.4. Những yếu tố cấu thành nên đặc trưng của lao động nhà báo . . . . . . . . . . . 16
2.2 Quy trình sáng tạo tác phẩm báo in của nhà báo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.2.1. Chuẩn bị chất liệu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.2.2. Thể hiện tác phẩm báo chí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.3. Giải pháp kiến nghị để phát triển lao động sáng tạo báo in tại Việt Nam . . . . . . 18
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19 3 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại thông tin đại chúng như hiện nay thì báo chí đóng một vai trò quan
trọng trong việc truyền tải thông tin. Với quãng thời gian hình thành và phát triển hết sức
dài hơi của mình thì báo chí vẫn luôn khẳng định vai trò là một loại hình truyền tải thông
tin quan trọng, có ý nghĩa to lớn với đời sống con người. Bản thân một tác phẩm báo chí
nói riêng và cả một hệ thống báo chí nói chung đều mang trong những đặc điểm về chức
năng cơ bản. Những chức năng này giúp cho báo chí thực thi đúng nhiệm vụ cũng như
mang đến những giá trị cho việc truyền tải thông tin.
Việc nghiên cứu các chức năng của báo chí có ý nghĩa đối với việc xây dựng nền
tảng cho quá trình sáng tác các tác phẩm báo chí và hoạt động trong lĩnh vực này. Đồng
thời cũng mang đến những tri thức, hiểu biết cho bản thân tác giả tiểu luận về báo chí nói
chung. Đây là những trang bị cần thiết cho quá trình học tập cũng như làm việc trong lĩnh vực báo chí.
Nằm trong sự hình thành và phát triển của báo chí thì không thể không kể đến báo
in, một loại hình báo chí ra đời sớm nhất và có sức ảnh hưởng đến nền báo chí nói chung.
Thế nhưng ngày nay, báo in đang được đặt lên bàn cân so sánh bởi bối cảnh phát triển
nhanh của công nghệ hiện đại. Việc tìm hiểu về sự phát triển cũng như xu thế phát triển
của báo in hiện tại và tương lai là một việc làm cần thiết, từ đó góp phần vào sự phát triển
chung của báo in Việt Nam.
Bên cạnh đó, để báo in phát triển thì vai trò của người làm báo - những người sáng
tạo nên tác phẩm báo chí ngày càng được đề cao. Ngành báo chí đang trải qua sự biến đổi
mạnh mẽ do ảnh hưởng của công nghệ và xu hướng truyền thông mới. Trong bối cảnh này,
người làm báo không chỉ đòi hỏi kỹ năng chuyên môn mà còn cần phải có tinh thần sáng
tạo mạnh mẽ để đối mặt với những thách thức đa dạng. Chính vì thế tôi lựa chọn chủ đề:
“Đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người làm báo trong báo in hiện nay” là
đề tài cho tiểu luận của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận
2.1. Mục tiêu của tiểu luận
- Tìm hiểu về báo chí và chức năng cơ bản của báo chí. 4
- Tìm hiểu về quá trình ứng dụng chức năng cơ bản này vào nền báo chí Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu và đưa ra nhận định về xu thế phát triển của báo in tại Việt Nam và
những đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người làm báo.
2.2. Nhiệm vụ của tiểu luận
- Tiểu luận thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, nghiên cứu các nguồn tư liệu vốn có liên quan đến đề tài
- Tiến hành phân tích tình hiểu về báo in và và các đặc trưng lao động sáng tạo của nhà báo.
3. Đóng góp của tiểu luận
Kết quả nghiên cứu của tiểu luận góp phần làm rõ về lao động sáng tạo báo in nói
riêng và báo chí nói chung. Bên cạnh đó, việc phân tích hiện trạng báo in cũng mang đến
sự đánh giá, bình luận tổng quan về xu thế phát triển của loại hình báo chí này. Kết quả
nghiên cứu của tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu học tập và giảng dạy.
4. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu gồm 2 chương. 5 NỘI DUNG Chương 1
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO IN 1.1. Về báo chí
1.1.1. Khái niệm báo chí
Nghiên cứu về khái niệm tác phẩm báo chí từ lâu đã được giới chuyên môn quan
tâm để nghiên cứu. Qua sự phân tích những quan điểm khác nhau về tác phẩm báo chí, đặc
biệt là Luật báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật khác, TS. Nguyễn Thị Thoa (chủ biên) [1; tr. 11] đã nêu: “Tác phẩm báo chí là:
- Sản phẩm tư duy của nhà báo, lấy hiện thực khách quan (mang tính thời điểm) làm
đối tượng nghiên cứu và phản ánh;
- Có hình thức tương ứng với nội dung thông tin;
- Được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và là một bộ phận cấu thành một sản phẩm báo chí.
- Có giá trị sử dụng: tạo dư luận xã hội (tức thời) và làm thay đổi hành vi của người tiếp cận thông tin;
- Được pháp luật bảo hộ bản quyền tác giả và được trả tiền.”
Trong quan niệm dân gian, báo chí nhiều khi được ví, được coi như là “thằng mõ”;
là người mách lẻo, tọc mạch, đưa chuyện, là người hóng hớt,.. Ở khía cạnh khác, báo chí
được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin về những sự việc mới diễn ra hàng ngày, cho nhiều người biết.
Theo quan điểm của giai cấp vô sản, báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện
đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; là bộ phận không thể tách rời trong bộ
máy tổ chức của Đảng Cộng sản; là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng.
Theo Điều 3 Luật Báo chí năm 2016: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện,
vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo,
xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng qua các loại hình báo
in, báo nói, báo viết hay báo điện tử.” 6
1.1.2. Lịch sử báo chí và sự hình thành báo chí tại Việt Nam
Có thể nói báo chí không chỉ là một loại hình hoạt động thông tin mà còn có thể
được xem là một khoa học. Sự ra đời của báo chí hiện nay còn có nhiều học thuyết về thời
gian ra đời. Chính vì thế, thời gian ra đời cụ thể của báo chí chưa có kết quả xác đáng.
Theo nhiều nghiên cứu, học thuyết cho rằng từ đời Hán đã tồn tác ấn phẩm khắc
chữ nhằm thông báo những sự kiện quan trọng của đất nước, được ra khoảng vài kỳ một
năm. Tên gọi cho loại hình ấn phẩm này là Hán triều đề báo. Chính vì thế, có thể coi đấy
là loại văn bản đầu tiên thuộc về phong cách báo chí. Tuy nhiên ấn phẩm này chưa phải là
hình thức phổ biến đối với quần chúng nhân dân, phạm vi hoạt động của ấn phẩm này tương
đối hẹp chỉ đối với quan chức trong triều đình.
Chữ viết ra đời và sự phát triển vượt bậc của nghề làm giấy, đặc biệt là ở Trung
Quốc ở thế kỷ thứ II, nhưng văn bản báo chí in trên giấy chưa ra đời vào thời kỳ này. Phải
cho đến khi nhân loại có sự sáng chế ra đồng mô tức khuôn đúc chữ, và phương pháp in
bằng chữ kim loại rời vào thế kỷ XV thì văn bản báo chí in trên giấy mới được ra đời. Các
văn bản báo chí này xuất hiện ở châu u vào thế kỷ XVI, đặc biệt phải kể đến tờ Venice
phát hành tại Italia - ấn phẩm được giới nghiên cứu nhắc đến như một tờ báo có những đặc
điểm của ấn phẩm báo chí. Cũng từ đây có sự xuất hiện của thuật ngữ gazeta (tờ báo).
Những cuộc cải tiến kỹ thuật tại Anh và Pháp vào thế kỷ XVI cũng đã đưa công
nghiệp in và nghề làm giấy lên bước phát triển hiện đại hoá hơn so với trước đây. Báo chí
phát triển rầm rộ hơn, đình hình dần ra phong cách riêng của mình. Theo sát tiến trình phát
triển của lịch sử đời sống, khi công nghệ viễn thông ra đời đánh dấu cho phong cách báo
chí mở rộng phạm vi giao tiếp đối với toàn thể xã hội trên cả 3 kênh: kênh viết, kênh nói và kênh hình.
Đối với nền báo chí ở Việt Nam thì sự ra đời của báo chí tại nước ta có bước phát
triển có thể coi là “sinh sau đẻ muộn” so với báo chí châu u. Vào khoảng năm 1865, sau
khi thực dân Pháp đặt chân vào nước ta đã có sự xuất hiện của những tờ báo đầu tiên tại
Sài Gòn. Trong số đó phải kể đến những tờ báo chữ Pháp, chữ hán và cả chữ Quốc ngữ.
Các tờ như Le Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (tiếng Pháp), Le Bulletin
des commune (chữ Hán), Gia Định báo, Phan Yên Báo, Thông loại khóa trình, Nông cổ
mến đàn, Lục tỉnh,... đều là những tờ báo có sự phổ biến trong thời kỳ này. Cùng với đó,
sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đến chiến tranh thế giới thứ hai ở Sài Gòn đã có sự phát 7
triển lớn mạnh của báo chí với một số tờ báo mới ra đời như Nữ giới chung, Đuốc Nhà Nam,. .1
Có thể nói Sài Gòn là nơi có sự xuất hiện báo chí sớm nhất tại Việt Nam, ở Hà Nội
và Huế báo chí xuất hiện chậm hơn nhưng lại có sự phát triển phong phú và đa dạng. Với
sự tác động tích cực của các phong trào cách mạng, có nhiều tờ báo tuy thuộc chính quyền
thuộc địa nhưng lại mang tư tưởng hết sức tiến bộ. Trong số đó phải kể đến các tờ báo như
L’Annam, le cloche fêlée, Notre voix, En avant,...
Các loại truyền đơn, báo chí bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam (đương thời là
Đảng Cộng sản Đông Dương) cũng có sự song hành cùng báo chí công khai trong giai đoạn
này. Đây là các dạng ấn phẩm được lưu hành trong quần chúng nhằm phục vụ mục đích tổ
chức, động viên nhân dân đứng lên giành độc lập. Vào những năm 1936 - 1939, trước khi
có sự bùng nổ của Cách mạng Tháng Tám, đã có nhiều tờ báo của Đảng được phát hành
theo hình thức công khai. Sau khi nước ta giành độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng báo
chí Việt Nam đã có những bước phát triển mới với quy mô mở rộng trước nay chưa từng có.
Đến ngày nay, trong thời đại của công nghệ thông tin, báo chí Việt Nam trở thành
phương tiện thông tin cực kỳ quan trọng đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin đầy bức thiết
của công chúng. Số lượng đầu báo cực kỳ đa dạng, số lượng ấn phẩm lớn, báo chí Việt
Nam đã và đang hình thành một phong cách ngôn ngữ riêng phù hợp với các chức năng của tiếng Việt.
1.1.3. Các loại hình báo chí Loại Khái niệm Thế mạnh Hạn chế hình Báo in
Là những ấn phẩm xuất bản - Thông tin, phân tích, giải - Tính thời sự của thông tin
định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, tích và giải đáp những vấn đề chậm.
hình ảnh và các ngôn ngữ phi phức tạp một cách hệ thống, - Ký hiệu thông tin của báo
văn tự, thông tin về các sự kiện sâu sắc với độ tin cậy cao; có in đơn điệu, chỉ có chữ viết
1 Theo Hữu Đạt, Phong cách học Tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001. 8
và vấn đề thời sự, phát hành lợi thế thu phục lý trí và tình và hình ảnh tĩnh.
rộng rãi và định kỳ nhằm phục cảm con người bằng tính - Việc phát hành tốn kém,
vụ công chúng - nhóm đối logic và chiều sâu nghệ thuật chậm chạp, cồng kềnh, phụ
tượng nào đó với mục đích nhất lập luận.
thuộc vào phương tiện vận định.
- Người đọc hoàn toàn chủ tải, đường xá giao thông và
động về không gian, thời gian điều kiện thiên nhiên
và tư thế trong việc tiếp nhận - Nhìn chung đắt hơn các ấn thông tin. phẩm truyền thông khác.
- Thông tin có độ tin cậy, - Ngày nay giấy báo cũ hầu
chính xác và tính tư liệu cao, như chỉ có dùng vào việc tái dễ bảo quản.
tái chế; sau khi sử dụng, rác
- Dễ dàng chuyền tay nhau thải báo in cũng là vấn đề.
các ấn phẩm báo chí và bản
tin thời sự, khả năng lây lan
kết nối công chúng gián tiếp,
hình thành dư luận xã hội bền vững hơn.
- Đề tài và nguồn tin trên báo
chí có thể là nguồn tin cho các
loại hình báo chí khác khai thác, phát triển. Phát
Phát thanh được định nghĩa trên - Tính tỏa khắp.
- Do tác động theo tuyến thanh
11 đặc tính sau: phát thanh là - Thông tin nhanh, tiếp nhận tính thời gian nên có thể
hình ảnh; là thân mật riêng tư; đồng thời.
nghe đoạn đầu mà bỏ mất
dễ tiếp cận và dễ mang theo; là - Sống động, riêng tư, thân đoạn cuối, nếu không tập
trực tiếp; có ngôn ngữ riêng của mật.
trung sự chú ý của thính
mình; có tính tức thời; không - Là kênh truyền thông rẻ giác liên tục.
đắt tiền; có tính lựa chọn; gợi tiền.
- Thông tin tiếp nhận qua
nên cảm xúc; làm công việc - Có thể nghe kết hợp với làm phát thanh dễ quên, khả
thông tin và giáo giáo dục; là việc khác, không phải tập năng lưu giữ thông tin qua âm nhạc
trung mọi giác quan vào việc radio khó khăn và hạn chế. 9 tiếp nhận thông tin.
- Khó có thể trình trình bày,
- Đến với mọi đối tượng, chỉ phân tích các vấn đề phức cần có khả năng nghe
tạp, nhất là việc phân tích
- Có lợi thế trong việc giữ gìn những số liệu.
ngôn ngữ lời nói của các dân tộc.
- Hệ thống phát phát thanh,
truyền thanh lan tỏa đến tận
phường, xã, các ấp dân cư. Truyền
Là kênh truyền thông chuyển - Tính hấp dẫn vô song với - Các tín hiệu truyền hình hình
tải thông điệp bằng hình ảnh thông điệp qua hình ảnh cùng được truyền đi theo tuyến
động với nhiều sắc màu vốn có âm thanh sống động.
tính thời gian, làm đối
từ cuộc sống với lời nói, âm - Thông điệp hấp dẫn nhưng tượng tiếp nhận bị động về thanh, tiếng động.
rất dễ hiểu, thích ứng cho tất tốc độ và trình tự tiếp nhận cả các nhóm công chúng.
cũng như phải tập trung vào
- Có thế mạnh trong việc màn hình.
hướng dẫn kỹ năng hoạt - Muốn tiếp nhận chương
động, thao tác; có năng lực cổ trình truyền hình phải có
vũ, kêu gọi hành động xã hội máy thu.
trong một thời điểm nhất định - Chi phí sản xuất thường và trên diện rộng. cồng kềnh và tốn kém.
- Là kênh truyền thông giao - Tính tư liệu thấp, khó lưu
lưu văn hóa với nhiều ưu thế giữ thông tin cho số đông.
vượt trội, nhất là qua các - Tính hai mặt: một cảnh
phóng sự tài liệu, phim ảnh, quay, hình ảnh trên màn trò chơi, quảng cáo...
hình có thể làm đảo lộn
những bài giảng đạo đức trong các nhà trường. Báo
- Internet là thông tin - truyền - Cho phép kết nối và truyền - Độ tin cậy của thông tin mạng
thông, là trường học, giải trí, là tải một dung lượng thông tin không cao, vì nhiều khi 10 điện tử
thương mại, việc làm, là hầu lớn, với tốc độ nhanh. nguồn tin không rõ ràng.
như tất cả quá trình cuộc sống - Tạo ra khả năng giao lưu - Vấn đề an ninh mạng; mất
con người được tái hiện hoạt trực tuyến, tương tác nhiều cắp bí mật quốc gia; hacker
động giao lưu. Internet là tài chiều, tạo điều kiện trực tiếp tấn công. nguyên.
tiếp cận nguồn tin; tần suất - Tiềm ẩn nguy cơ biến
- Báo mạng điện tử là loại hình tương tác giữa chủ thể và thành công cụ can thiệp
báo chí - truyền thông tồn tại, công chúng truyền thông có chính trị.
phát triển trên mạng internet điều kiện thực hiện tốt nhất; - Kết nối về mọi phương toàn cầu.
năng lực và hiệu quả tác động diện và hình thành sức rất lớn.
mạnh xã hội, thế lực xã hội
- Cung cấp thông tin, dữ liệu đặc biệt quan trọng, tiềm ẩn
theo yêu cầu của mỗi người nhiều cơ hội và nguy cơ
nhờ khả năng liên kết khó lường.
hyperlink; tạo ra nhiều tầng,
nhiều lớp thông tin không
giới hạn - một siêu thị thông
tin đa dạng, phong phú và sinh động.
- Khả năng lưu giữ thông tin
và rất tiện lợi cho việc tìm
kiếm, truy cập, kết nối đa nguồn.
- Là kênh truyền thông đa
phương tiện, sinh động và hấp dẫn.
- Cho phép nhà truyền thông
nắm bắt từng giờ số lượng, cơ
cấu, địa bàn công chúng,
nghiên cứu tiếp cận thị trường.
- Giảm đi tính độc quyền: mỗi 11
người đều có thể bày tỏ ý kiến.
- Có khả năng kết nối các ký
hiệu, dạng thức và loại hình thông tin. 1.2. Về báo in
1.2.1. Khái niệm báo in và sự phát triển của báo in tại Việt Nam
Báo in là loại báo được in trên giấy và phát hành định kỳ. Tại Việt Nam, báo in xuất
hiện từ thế kỷ 19, khi các nhà thời báo phát hành các tờ báo bằng chữ Hán để thông tin cho
cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, đến thế kỷ 20 mới có sự phát triển mạnh mẽ của báo in tại Việt Nam.
Trong thời kỳ thuộc địa, các thế lực thuộc phương Tây đã sử dụng báo in để truyền
tải thông tin và tác động đến ý kiến của người dân. Điển hình là những tờ báo như Nam
Phong, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Báo, Quốc Dân Báo... Những tờ báo này đã có vai trò
quan trọng trong việc tuyên truyền ý chí độc lập, dân chủ và tiến bộ cho người dân Việt Nam.
Trong thời kỳ này, báo in được sử dụng để truyền tải thông tin và tuyên truyền chính
trị. Đầu tiên là báo "Gazette de Saigon" (1865), sau đó là "Gazette de Hanoi" (1869) và
"Gazette de Huế" (1877). Những báo này được phát hành bằng tiếng Pháp, và chỉ dành cho
giới quan lại và người nước ngoài. Sau đó, các báo tiếng Việt như "Nam Phong" (1907),
"Phụ Nữ Tân Văn" (1910), "Tiếng Dân" (1913) và "Đông Pháp Thời Báo" (1931) được
thành lập, đánh dấu sự phát triển của báo in tiếng Việt.
Ở thời kỳ Cách mạng (1945 - 1975) báo in được sử dụng để tuyên truyền chính trị
và giáo dục nhân dân. Các báo như "Công Lý" (1945), "Hà Nội mới" (1954), "Sài Gòn Giải
Phóng" (1960) và "Thanh niên" (1965) được thành lập. Các báo này đều có tính chất cách
mạng, và được sử dụng để tuyên truyền chính sách của đảng và nhà nước.
Từ năm 1975 - 1990 nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, báo in được sử dụng để
truyền tải thông tin và giải trí. Các báo như "Tuổi Trẻ" (1975), "Thể thao & Văn hóa"
(1986) và "Phụ nữ Việt Nam" (1987) được thành lập. Các báo này có tính chất đa dạng,
phục vụ nhiều mục đích khác nhau. 12
Tuy nhiên, sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế từ những năm
1980, các tờ báo in đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Sự phát triển của các phương tiện
truyền thông mới như internet, điện thoại di động đã làm giảm sức hấp dẫn của báo in.
Trong thời kỳ này, báo in được sử dụng để truyền tải thông tin và giải trí, cũng như để tuyên
truyền chính trị và giáo dục. Các báo như "Thanh niên" (1992), "Tuổi Trẻ Cuối Tuần"
(1995), "VnExpress" (2001) và "Zing News" (2012) được thành lập. Các báo này có tính
chất đa dạng, phục vụ nhiều mục đích khác nhau, và được phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, báo in vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính
xác và đáng tin cậy cho người dân Việt Nam.
1.2.2. Các đặc điểm của báo in
1.2.2.1. Tính thời sự
Tính thời sự của báo in được thể hiện thông qua việc đưa tin tức mới nhất, nhanh
nhất và chính xác nhất về các sự kiện, vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ.
Báo in đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho công chúng. Với
sự phát triển của công nghệ thông tin, ngày nay, thông tin có thể được truyền tải qua nhiều
phương tiện khác nhau như truyền hình, radio, internet, tuy nhiên, báo in vẫn giữ được vị
trí quan trọng của mình trong việc cung cấp thông tin cho độc giả. Báo in cung cấp cho độc
giả những thông tin chính xác, đáng tin cậy và được kiểm chứng trước khi đưa ra công
chúng. Điều này giúp người đọc có thể tin tưởng vào thông tin mà báo in đưa ra và đưa ra
quyết định đúng đắn.
Ngoài việc cung cấp thông tin, báo in còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo
dục và tư vấn cho độc giả. Báo in đưa ra các bài viết phân tích, bình luận và đánh giá về
các sự kiện và vấn đề đó, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình hình thế giới và đất nước. Báo
in cũng đưa ra các bài viết về các chủ đề như sức khỏe, giáo dục, kinh tế, văn hóa, giải trí,
thể thao, giúp người đọc có thể cập nhật thông tin và kiến thức mới nhất về các lĩnh vực này.
Báo in cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một xã hội thông tin. Báo in
giúp người đọc có thể tiếp cận với các thông tin mới nhất về các sự kiện và vấn đề xã hội, 13
giúp họ có thể tham gia vào các cuộc tranh luận và đưa ra ý kiến của mình. Điều này giúp
tăng cường sự tương tác giữa các thành viên trong xã hội và giúp xã hội phát triển hơn.
Tuy nhiên, báo in cũng đối mặt với nhiều thách thức trong thời đại số. Với sự phát
triển của internet, người đọc có thể tiếp cận với thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng
hơn. Điều này đã làm giảm sự phụ thuộc của người đọc vào báo in. Ngoài ra, báo in cũng
đối mặt với sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông khác như truyền hình, radio và internet.
1.2.2.2. Tính định kỳ
Tính định kỳ của báo in là một trong những đặc trưng quan trọng của phương tiện
truyền thông này. Báo in được phát hành theo chu kỳ nhất định, thường là hàng ngày, hàng
tuần hoặc hàng tháng. Tính định kỳ này giúp người đọc có thể dễ dàng tiếp cận với thông
tin mới nhất và cập nhật những sự kiện mới nhất trong một khoảng thời gian nhất định.
Tính định kỳ của báo in cũng giúp cho các nhà xuất bản và các nhà báo có thể lên
kế hoạch và chuẩn bị cho các bài viết và thông tin sẽ được đưa ra trong báo. Điều này giúp
cho báo in có thể đưa ra những thông tin chính xác và đầy đủ nhất cho độc giả.
Tuy nhiên, tính định kỳ của báo in cũng đối mặt với nhiều thách thức trong thời đại
số. Với sự phát triển của internet, người đọc có thể tiếp cận với thông tin một cách nhanh
chóng và dễ dàng hơn. Điều này đã làm giảm sự phụ thuộc của người đọc vào báo in và
làm cho tính định kỳ của báo in trở nên ít quan trọng hơn.
Ngoài ra, tính định kỳ của báo in cũng đối mặt với sự cạnh tranh từ các phương tiện
truyền thông khác như truyền hình, radio và internet. Các phương tiện truyền thông này có
thể đưa ra thông tin một cách nhanh chóng và linh hoạt hơn, không bị giới hạn bởi tính định kỳ như báo in.
Dù vậy, tính định kỳ của báo in vẫn giữ được vị trí quan trọng của mình trong việc
cung cấp thông tin cho độc giả. Báo in vẫn là một phương tiện truyền thông quan trọng và
được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tính định kỳ của báo in vẫn giúp cho người đọc
có thể tiếp cận với thông tin mới nhất và cập nhật những sự kiện mới nhất trong một khoảng thời gian nhất định. 14 Chương 2
XU HƯỚNG LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA NHÀ BÁO HIỆN NAY VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
2.1. Hiện trạng phát triển của người làm báo in tại Việt Nam hiện nay
2.1.1. Những thành tựu
● Đa dạng hoá các loại báo: Trong suốt quá trình phát triển, người làm báo in tại
Việt Nam đã có đa dạng hóa sáng tạo các loại báo, từ báo chính trị đến báo giải trí,
từ báo tiếng Pháp đến báo tiếng Việt, từ báo truyền thống thuần tin tức đến báo kết
hợp các yếu tố khác như đồ hoạ thông tin (infographic),... Điều này đã giúp cho
người đọc có nhiều lựa chọn hơn, và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội.
● Sử dụng công nghệ thông tin: Với sự phát triển của công nghệ thông tin, người
làm báo in tại Việt Nam đã sử dụng các công nghệ mới như máy tính, internet và
điện thoại di động để phát triển các báo điện tử. Điều này đã giúp cho người đọc có
thể tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn.
● Tăng cường vai trò của báo chí: Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc
truyền tải thông tin và tuyên truyền chính trị, giáo dục nhân dân, và giải trí cho
người dân. Điều này đã giúp cho người dân có thể tiếp cận thông tin một cách đầy
đủ và chính xác hơn, và đóng góp vào sự phát triển của xã hội.
Từ những bước đầu tiên của sáng tạo tác phẩm báo in tại Việt Nam cho đến hiện
nay, người làm báo in đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, và đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng. Chính thành quả lao động này đã giúp cho báo in trở thành một
phương tiện truyền thông quan trọng, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông
tin và tuyên truyền chính trị, giáo dục nhân dân, và giải trí cho người dân.
2.1.2. Những hạn chế và thách thức mà người làm báo cần đối mặt
● Sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông khác: Trong thời đại số hóa, các
phương tiện truyền thông trực tuyến như mạng xã hội, trang web tin tức, ứng dụng
tin tức đã trở thành đối thủ cạnh tranh của báo in. Các phương tiện truyền thông trực
tuyến này có thể cập nhật tin tức nhanh chóng và đa dạng hơn so với báo in. Ngoài
ra, các phương tiện truyền thông trực tuyến còn có thể cung cấp cho người đọc các 15
tính năng tương tác như bình luận, chia sẻ, đánh giá, tạo ra một môi trường trao đổi thông tin đa chiều hơn.
● Chi phí sản xuất và phân phối: Sản xuất và phân phối báo in đòi hỏi một khoản
đầu tư lớn, bao gồm chi phí in ấn, giấy, mực in, máy móc và nhân lực. Ngoài ra, chi
phí vận chuyển và phân phối báo in cũng rất đắt đỏ. Điều này làm cho giá bán của
báo in tăng lên, khiến cho nhiều người đọc chuyển sang sử dụng các phương tiện
truyền thông trực tuyến miễn phí.
● Sự giảm thiểu độc giả: Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông trực
tuyến, nhiều người đọc đã chuyển sang sử dụng các trang web tin tức và ứng dụng
tin tức để cập nhật thông tin. Điều này làm cho số lượng độc giả của báo in giảm
sút. Ngoài ra, nhiều người đọc cũng không muốn mua báo in vì họ cho rằng các tin
tức trên báo in đã lỗi thời và không cập nhật kịp thời.
● Sự giảm thiểu quảng cáo: Quảng cáo là một nguồn thu chính của các tờ báo in.
Tuy nhiên, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông trực tuyến, nhiều
doanh nghiệp đã chuyển sang sử dụng các kênh quảng cáo trực tuyến để tiếp cận
khách hàng. Điều này làm cho số lượng quảng cáo trên báo in giảm sút, khiến cho
các tờ báo in phải đối mặt với khó khăn trong việc thu hút quảng cáo và tăng doanh thu.
● Sự giảm thiểu chất lượng nội dung: Với sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền
thông trực tuyến, nhiều tờ báo in đã phải giảm thiểu chất lượng nội dung để cạnh
tranh với các trang web tin tức và ứng dụng tin tức. Điều này làm cho nhiều người
đọc cảm thấy không hài lòng với chất lượng nội dung của các tờ báo in và chuyển
sang sử dụng các phương tiện truyền thông trực tuyến.
Để phát triển báo in, các tờ báo cũng như người làm báo cần phải tìm cách thích
ứng với thời đại số hóa và cải thiện chất lượng nội dung để thu hút độc giả.
2.1.3. Nhận định về xu hướng phát triển của sáng tạo báo in hiện nay
Báo in là một phương tiện truyền thông truyền thống đã tồn tại trong nhiều thế kỷ
và vẫn đang phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ và sự thay
đổi trong thói quen đọc tin tức của người dân, báo in đang phải đối mặt với nhiều thách thức. 16
Trước đây, người làm báo in giữ vai trò quan trọng. Bởi đây là phương tiện truyền
thông chính để cung cấp thông tin cho người dân. Tuy nhiên, với sự phát triển của internet
và các phương tiện truyền thông khác như truyền hình, radio và mạng xã hội, người dân có
nhiều lựa chọn hơn để cập nhật tin tức. Điều này đã dẫn đến sự suy giảm về số lượng người đọc báo in.
Bên cạnh đó báo in vẫn có những ưu điểm riêng của mình. Báo in có thể cung cấp
thông tin chi tiết và sâu sắc hơn so với các phương tiện truyền thông khác. Ngoài ra, báo in
còn có tính chất lưu trữ cao, cho phép người đọc lưu giữ và tham khảo lại thông tin trong tương lai.
Để đối phó với sự thay đổi trong thói quen đọc tin tức của người dân, những nhà
làm báo in ở Việt Nam đã phải thay đổi và cải tiến để thu hút độc giả. Nhiều tờ báo in đã
chuyển sang sử dụng các công nghệ mới để cung cấp thông tin cho người đọc, bao gồm cả
việc tạo ra các phiên bản trực tuyến của báo in. Ngoài ra, các tờ báo in cũng đã tập trung
vào việc cung cấp các nội dung độc đáo và chất lượng cao để thu hút độc giả. Chính điều
này đòi hỏi người làm báo phải tiếp trang bị vốn kiến thức và kỹ năng quan trọng để làm nghề.
Tuy nhiên, báo in vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những
thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông khác. Ngoài ra, báo in
cũng đang phải đối mặt với sự thay đổi trong thói quen đọc tin tức của người dân, khi mà
nhiều người đã chuyển sang sử dụng các phương tiện truyền thông trực tuyến để cập nhật tin tức.
Tóm lại, báo in vẫn đang phát triển ở Việt Nam, tuy nhiên, để tồn tại và phát triển
trong thời đại số, các tờ báo in cần phải thay đổi và cải tiến để thu hút độc giả. Các tờ báo
in cần tập trung vào việc cung cấp các nội dung độc đáo và chất lượng cao để thu hút độc
giả, cũng như sử dụng các công nghệ mới để cung cấp thông tin cho người đọc.
2.1.4. Những yếu tố cấu thành nên đặc trưng của lao động nhà báo
a) Sự đa dạng và nhanh nhạy: Môi trường làm việc của người làm báo đòi hỏi sự đa
dạng và linh hoạt. Các nhà cần phải làm việc sáng tạo với nhiều chủ đề khác nhau,
từ sự kiện chính trị, kinh tế đến văn hóa và giáo dục. Điều này đòi hỏi sự sáng tạo
để tìm kiếm góc nhìn mới, phong cách viết lạ mắt nhằm thu hút độc giả. 17
b) Nắm bắt tin tức, đáp ứng tính thời sự của báo chí: Với tốc độ thông tin ngày càng
nhanh, người làm báo cần phải có khả năng nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng
và chính xác. Điều này đặt ra yêu cầu về sự nhạy bén, sự tỉ mỉ trong công việc để
đảm bảo rằng tin tức được chuyển đạt một cách đầy đủ và chính xác nhất.
c) Kỹ năng viết lách, xử lý thông tin: Trong báo in, người làm báo cần phải có kỹ năng
viết lách sáng tạo để tạo ra những bài báo có sức lôi cuốn. Phong cách viết phải phản
ánh không chỉ sự chuyên nghiệp mà còn sự sáng tạo, đôi khi là sự nghệ thuật, để tạo
ra ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí độc giả.
d) Sự hiểu biết vững chắc về độc giả: Để tạo ra những bài báo có sức ảnh hưởng, người
làm báo cần phải có sự hiểu biết sâu rộng về đối tượng độc giả của mình. Điều này
đòi hỏi khả năng nắm bắt xu hướng xã hội, tâm lý và nhu cầu thông tin của độc giả.
e) Khả năng chịu áp lực và thích nghi với kỹ năng mới: Người làm báo thường phải
làm việc dưới áp lực thời gian và áp lực công việc. Với thời hạn ngắn hạn để thu
thập, xử lý thông tin và viết bài, họ cần phải giữ được tinh thần sáng tạo dù ở trong tình trạng áp lực cao.
2.2 Quy trình sáng tạo tác phẩm báo in của nhà báo
2.2.1. Chuẩn bị chất liệu
Việc chuẩn bị chất liệu cho tác phẩm là một trong những nền tảng quan trọng để
nhà báo tiến hành sáng tạo nên tác phẩm. Theo TS. Nguyễn Thị Kim Thoa thì quy trình
chuẩn bị chất liệu cho tác phẩm báo in bao gồm: Khám phá đề tài; Khai thác và xử lý tư
liệu; Phác thảo mô hình tác phẩm báo chí. [1; tr 92 - 98].
2.2.2. Thể hiện tác phẩm báo chí
a) Đặt đầu đề: đầu đề là tên gọi của các tác phẩm báo chí. Xét về mặt nội dung, đầu đề
phải trả lời được các câu hỏi: Tác phẩm ấy phản ánh về ai? Về cái gì? Về nơi nào?
Về thời gian nào? Ý nghĩa của chúng ra sao?
b) Viết sapo (Chapeau): sapo là bộ phân tương đối độc lập trong tác phẩm, có dung
lượng khoảng 3 - 5 câu, thường in nghiêng để phân biệt với dẫn nhập.
c) Dẫn nhập: là đoạn “hành lang” nối đầu đề, sapo với phần thân của tác phẩm báo chí.
Kết thúc phần dẫn nhập mới đặt đề xen. 18
d) Phần thân: là bộ phận quan trọng, nơi mà nhà báo phải trình bày toàn bộ diễn biến
của sự việc, hay toàn bộ cuộc đời con người với những thăng trầm. Chính vì vậy,
nhà báo dành phần lớn dung lượng tác phẩm cho phần này.
e) Phần tư liệu mở rộng (box): đây là phần mà nhà báo có thể sử dụng để bổ trợ, làm
rõ hơn, sâu hơn cho chi tiết nội dung chính của tác phẩm.
f) Phần kết: tùy thuộc vào kiểu loại và nội dung phản ánh mà nhà báo lựa chọn phần
kết hoặc không cho tác phẩm của mình.
2.3. Giải pháp kiến nghị để phát triển lao động sáng tạo báo in tại Việt Nam
Báo in là một phương tiện truyền thông truyền thống đã tồn tại từ rất lâu đời và vẫn
đang được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ số và
thói quen tiêu dùng của người dân đang thay đổi, các nhà báo in đang gặp nhiều thách thức
trong việc thích ứng với thời đại số hoá và cải thiện chất lượng nội dung.
Chuyển đổi để kết hợp cùng hình thức kỹ thuật số: Người làm báocần chuyển đổi
sang hình thức kỹ thuật số để đáp ứng nhu cầu của người đọc. Báo điện tử sẽ giúp
cho người đọc có thể truy cập thông tin mọi lúc mọi nơi, đồng thời giảm thiểu chi
phí sản xuất và phân phối báo in. Bên cạnh đó, báo điện tử còn cho phép báo in tăng
cường tính tương tác với độc giả thông qua các tính năng như bình luận, chia sẻ,
đánh giá, thăm dò ý kiến, v.v.
● Đầu tư vào nội dung chất lượng cao: Để thu hút độc giả và cạnh tranh với các
phương tiện truyền thông khác, người làm báo cần đầu tư vào nội dung chất lượng
cao. Chính vì thế nhà báo cần tập trung vào việc cung cấp thông tin chính xác, đầy
đủ và có giá trị cho độc giả. Đồng thời, báo in cần phát triển các chuyên mục đặc
biệt, phản ánh các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, v.v. để thu hút độc giả
và tăng tính độc đáo của báo.
● Tận dụng công nghệ để tăng tính tương tác: Báo in cần tận dụng các công nghệ mới
để tăng tính tương tác với độc giả. Các tính năng như video, hình ảnh, âm thanh,
v.v. sẽ giúp cho báo in trở nên sinh động và thu hút hơn. Đồng thời, báo in cần phát
triển các ứng dụng di động để đáp ứng nhu cầu của người đọc và tăng tính tiện lợi.
Nhà báo cần trang bị vốn kiến thức về đồ họa, nhiếp ảnh hay dữ liệu để phát triển
kết hợp báo chí và dữ liệu số. 19
● Tăng cường quảng cáo và marketing: Báo in cần tăng cường quảng cáo và marketing
để thu hút độc giả và tăng doanh thu. Báo in cần phát triển các chiến dịch quảng cáo
và marketing sáng tạo, đồng thời tận dụng các kênh truyền thông xã hội để quảng bá báo in.
● Đào tạo và phát triển nhân lực: Báo in cần đào tạo và phát triển nhân lực để đáp
ứng nhu cầu của thị trường. Báo in cần tập trung vào việc đào tạo các nhân viên về
kỹ năng viết báo, biên tập, thiết kế, v.v. Đồng thời, báo in cần tạo điều kiện để nhân
viên có thể tiếp cận với các công nghệ mới và phát triển kỹ năng của mình. KẾT LUẬN
Trong quá trình trình bày kết quả nghiên cứu, tiểu luận đã làm rõ được những khái
niệm liên quan cũng như những chức năng cơ bản của báo in nói riêng và báo chí nói chung.
Báo in luôn là một kênh thông tin quan trọng của đời sống. Vì thế việc nghiên cứu chuyên
và sâu về lịch sử hình thành, xu hướng phát triển và đặc biệt là đặc trưng lao động của báo
in tại Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết trong nghiên cứu về báo chí nói chung. Từ việc
hiểu về tiến trình lịch sử của báo in, những vấn đề về đặc điểm chức năng báo in đã cung
cấp tri thức, hiểu biết về báo in và tác phẩm báo in. Từ đó mà nhìn nhận được những lao
động sáng tạo của nhà báo trong loại hình này.
Tiểu luận cũng đã đưa ra nhận định về thực trạng lao động sáng tạo của báo in tại
Việt Nam cả về những phương diện tích cực lẫn tiêu cực. Để rồi từ đó, tiểu luận đưa ra
những kiến nghị, đề xuất nhằm tối ưu hoá sáng tạo tác phẩm báo in, giúp cho các nhà báo
in phát triển ngay cả trong thời đại công nghệ số.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Kim Thoa. (2011). Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. Dương Xuân Sơn. (2004). Cơ sở lý luận báo chí truyền thông. Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin. Hà Nội.
3. Hữu Đạt. (2001). Phong cách học tiếng Việt hiện đại. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Đức Dũng. (2012). Viết báo như thế nào. Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội.