



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÓM 1
CHỦ ĐỀ 1: NGHỆ THUẬT CHỚP THỜI CƠ TRONG
CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TRẦN THỊ MAI HÀ NỘI-2023
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÓM 1
CHỦ ĐỀ 1: NGHỆ THUẬT CHỚP THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TRẦN THỊ MAI SINH VIÊN STT HỌ VÀ TÊN CHỨC VỤ MÃ SINH VIÊN 1 Nguyễn Thị Thúy Hà Thành viên 25A4052341 2 Trần Hà Ngọc Hân Thành viên 25A4050045 3 Đoàn Ngọc Bích Thành viên 25A4011742 4 Nguyễn Thanh Giang Thành viên 25A4012116 5 Cao Thị Chung Nhóm trưởng 25A4052042 6 Bùi Thị Ngân Thành viên 25A4010099 HÀ NỘI-2023 MỤC LỤC 2 A: LỜI MỞ ĐẦU 5 1.Lý do chọn đề tài. 5 2. Mục đích nghiên cứu. 5
3. Đối tượng nghiên cứu. 5 4. Phạm vi nghiên cứu. 5 B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
1.Định nghĩa thời cơ cách mạng 6
2.Thời cơ cách mạng T8/1945 diễn ra như thế nào 6
2.1.Điều kiện khách quan... 6 2.2.Điều kiện chủ quan 7
3.Các yếu tố làm xuất hiện thời cơ cách mạng 7
4.Đảng lãnh đạo chớp thời cơ 10
5.Liên hệ Việt Nam giai đoạn hiện nay 13
6.1.Thời cơ của cách mạng tháng Tám 16
6.2.Bài học....................... 17 KẾT LUẬN 18 LỜI CAM ĐOAN 19 LỜI CẢM ƠN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 A: LỜI MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài.
Cách mạng Tháng Tám, nó đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và
phát xít Nhật, đồng thời lật đổ chế độ phong kiến đã “giam giữ” nước ta gần một nghìn
năm, lập ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc
lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, làm giàu thêm truyền thống cách mạng Việt
Nam, cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị của đất nước ta sau này. Để tìm hiểu kỹ
hơn về nguyên nhân thắng lợi này là nghệ thuật chớp thời cơ và sự ảnh hưởng của thời cơ
đến nước ta hiện nay, nhóm chúng em xin được nghiên cứu về đề tài: “Thời cơ cách
mạng tháng 8/1945 và liên hệ giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở làm rõ đường lối cách mạng của Đảng trong công cuộc giành độc lập dân tộc,
lập nhà Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chịu sự áp bức, bóc lột của 2 tầng xiềng
xích nô lệ là Thực dân Pháp và Phát xít Nhật, đồng thời nêu rõ hành trình chớp lấy thời
cơ của Đảng ta để đi đến thắng lợi Cách mạng tháng 8 năm 1945.
Để làm rõ mục đích trên, phải nghiên cứu yếu tố nào làm xuất hiện thời cơ cách mạng, và
khi có được thời cơ đó Đảng ta đã lãnh đạo chớp thời cơ như thế nào để có thể mang đến
một chiến thắng vẻ vang của Cách mạng tháng 8 năm 1945. Từ đó Đảng và Nhà nước ta
đã vận dụng sách lược như thế nào để chớp thời cơ trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Nghệ thuật chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
- Thực tiễn trong thời điểm hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu.
- Thời gian: Giai đoạn trước 1945. (1939-1945) 4
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Định nghĩa thời cơ cách mạng
Trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã
về phía cách mạng. Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng.
Hội đủ những điều kiện đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi”.
Như vậy, một cuộc khởi nghĩa diễn ra thành công không phải dựa vào một âm mưu,
một đảng phái mà phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân, dựa vào một chuyển
hướng lịch sử quyết định. Có thể thấy rằng sự thành công của Cách mạng tháng Tám là
nhờ sự hội tụ những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau. Và một trong những
vấn đề đó chính là việc Đảng ta đã biết nhận định về thời cơ và chớp lấy thời cơ
2. Thời cơ cách mạng T8/1945 diễn ra như thế nào 2.1. Điêu kiện khách quan
Chiến tranh thế giới thứ hai đi vào kết thúc. Ở Đông Dương Nhật đảo chính, Pháp
đầu hàng. Đến ngày 9/5/1945 phát xit Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở
Châu Âu. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức, thực hiện cam kết với các nước Đồng minh.
Ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với Nhật và chỉ trong vòng một tuần đã
tiêu diệt đạo quân Quan Đông tinh nhuệ bậc nhất của quân đội Nhật, giải phóng vùng
Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.
Trước đó nhằm gây sức ép với chính phủ Nhật và phô trương sức mạnh vũ khí hạt
nhân, trong hai ngày 6 và 9/8/1945, Mỹ đã ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành
phố của Nhật là Hiroshima và Nagasaki làm hàng chục vạn người chết và để lại những
hậu quả nặng nề kéo dài.
Ngày 14/8/1945 phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới thứ hai kết
thúc. Như vậy khủng hoảng tình hình chính trị ở Đông Dương, xuất hiện tình thế cách
mạng nhưng chưa chín muồi. 5 2.2. Điều kiện chủ quan
Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng
dâng cao. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Trong đêm
đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào
cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động,
tổ chức và đấu tranh cho thích hợp.
Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta. Tháng 4/1945, Trung ương triêu tập Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, quyết định nhiều
vấn đề quan trọng, thống nhất lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày
16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp
và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ tháng 4/1945 trở đi, cao
trào kháng Nhật cứu nước diễn a mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu
tháng 5/1945, Bác từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chon Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách
mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân
Ngay từ ngày 13/8/1945, khi nhận được những thông tin về Nhật đầu hàng, Trung
ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ban bố
Quân lệnh số 1 chính thức phát Lệnh Tổng khởi nghĩa cả nước. Từ ngày 14 đến ngày
15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định phát
động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào
Đông Dương; quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau
khi giành chính quyền. Từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân được triệu tập
ở Tân Trào, tán thành Tổng khởi nghĩa của Đảng thông qua 10 chính sách của Việt Minh,
cử ra Ủy Ban dân tộc Giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại
hội quyết định lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm quốc kì, bài hát Tiến quân ca là quốc ca [1]
3. Các yếu tố làm xuất hiện thời cơ cách mạng
Thời cơ của Cách mạng tháng Tám là thời cơ ngàn năm có một, nó không tự nhiên
xuất hiện mà trải qua thời gian nung nấu dài lâu để tụ hội những yếu tố cơ bản, tất yếu 6
đẩy tiến trình cách mạng đến cao trào. Trước hết là yếu tố khách quan, ngoại tại. Yếu tố
khách quan làm xuất hiện thời cơ cách mạng là những yếu tố khiến Nhật tuyên bố đầu
hàng quân Đồng minh, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Ngày 6 tháng 8 năm 1945,
quả bom nguyên tử với tên gọi “Little Boy” được Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima - nơi đặt
trụ sở Bộ Tư lệnh miền Nam và nhiều nhà máy quân sự của Nhật, khiến 247 nghìn người
thiệt mạng và nhấn chìm cả thành phố trong biển lửa. Hai ngày sau, “Fat Man” quả bom
nguyên tử thứ hai do Mĩ thả xuống Nagasaki tiếp tục lấy đi sinh mạng của 200 nghìn
người. Cùng lúc đó, vào tối muộn ngày 8 tháng 8, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản.
Ngay sáng ngày hôm sau, Hồng quân Liên Xô với lực lượng hùng hậu đã tấn công như
vũ bão vào đạo quân Quan Đông của Nhật, dàn trải trên chiến tuyến dài hơn 4 500 km.
Đồng thời, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã chuyển sang tổng phản công và ở
nhiều nước Đông Nam Á như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Myanmar, phong trào
chống Nhật đang dâng trào sôi sục. Trên chiến trường châu Âu, ngày 7/5/1945, nước Đức
đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Thất bại của phát xít Đức đã khiến Nhật đã mất đi chỗ
dựa, đồng thời cũng phát lên lời cảnh tỉnh, đe dọa về một thất bại tương tự của Nhật ở
mặt trận châu Á - Thái Bình Dương. Ngoài ra, trong lòng nước Nhật cũng gặp phải sức
ép của nhân dân Nhật Bản và áp lực của phái “chủ hàng” trong nội bộ giới cầm quyền
nước này. Sự thất bại trên các đảo ở Thái Bình Dương, Đông Nam Á đi cùng những thiệt
hại nặng nề về hải quân, không quân trong những trận hải chiến với Mỹ; việc oanh tạc
liên tiếp, dữ dội của không quân Mỹ kéo dài nhiều tháng xuống 70 thành phố lớn của
Nhật (kể cả thủ đô Tokyo); Mĩ chiếm được đảo Okinawa - cửa ngõ đi vào Nhật Bản. Cú
sốc cộng hưởng của những sự kiện này đã khiến Nhật hoàng Hirohito phải can thiệp và ra
lệnh cho Hội đồng Chiến tranh Tối cao chấp nhận những điều kiện kết thúc chiến tranh
mà Khối Đồng Minh đã soạn thảo trong Tuyên Potsdam. Thêm vài ngày nữa với những
cuộc đàm phán ở hậu trường và một cuộc đảo chính thất bại, Nhật hoàng Hirohito đã đọc
bài diễn văn Gyokuon-hōsō trên đài phát thanh vào ngày 15 tháng 8 tuyên bố Nhật Bản
đầu hàng Đồng Minh. Bài diễn văn được phát đi trên khắp Đế quốc. Sự đầu hàng của
Nhật cũng khiến cho chính phủ thân Nhật ở Việt Nam - chính phủ Trần Trọng Kim rơi
vào thế hoang mang cực độ. [2] 7
Trong mọi cuộc chiến, yếu tố chủ quan không bao giờ là động lực đi đến thành công,
ngã ngũ một vấn đề. Yếu tố chủ quan, nội tại mới là nhân tố đóng vai trò quyết định. Để
thời cơ là chín muồi đối với cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám lịch sử của dân tộc, trước
hết, không thể bỏ qua vai trò to lớn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc điều phối tiến trình cách mạng.
Thứ nhất, Đảng ta có nhận định chính xác về thời cơ chín muồi. Ngày 9 tháng 3 năm
1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng ta đã nhận định “những điều kiện khởi nghĩa chưa
thực chín muồi”, do giữa Pháp và Nhật “chưa chia rẽ, hoang mang, do dự đến cực điểm”;
sự giác ngộ và đồng lòng của nhân dân cần có thêm thời gian tuyên truyền, vận động; lực
lượng chưa được chuẩn bị đủ và sẵn sàng. Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1945, Đảng ta
nhận định tình thế đã thay đổi. Pháp chưa nắm lại được chính quyền, Nhật thì hoang
mang cực độ, chế độ quân chủ gần như sụp đổ. Nhân dân đã vùng dậy, từ tự phát phá kho
thóc của Nhật đến việc nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở tại một số nơi, lực lượng đã
được chuẩn bị cơ bản, không chỉ ở chiến khu Việt Bắc mà còn nhiều nơi khác…
Thứ hai, Đảng tiên phong đề ra chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn, chuẩn bị
bài bản các điều kiện và sẵn sàng lãnh đạo quần chúng nhân dân khởi nghĩa giành chính
quyền. Từ tháng 3 đến tháng 8/1945, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương nhằm chuyển
hướng đấu tranh cách mạng, củng cố lực lượng… bằng nhiều hình thức. Cụ thể, tháng
8/1945, Hồ Chí Minh đã có thư kêu gọi khởi nghĩa, ban hành mệnh lệnh khởi nghĩa, công
bố Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa… Đồng thơi, quân ta cũng đã xây dựng được
căn cứ cách mạng, chiến khu kháng chiến vững chắc, phát triển các hoạt động chiến tranh
du kích bài bản, tuần tự.
Thứ ba, ta đã tập hợp, xây dựng được lực lượng cách mạng đông đảo, vững chắc. Đây
là sự chuẩn bị rất dài hơi, nổi bật nhất từ khi lãnh tụ Hồ Chí Minh về nước hoạt động.
Tháng 5/1941, chỉ hơn 3 tháng sau khi về nước, Người thành lập Mặt trận Việt Minh để
tập hợp các lực lượng tham gia giành độc lập. Đặc biệt, lực lượng tối quan trọng là các
tầng lớp nhân dân đã được giác ngộ, vận động và tập hợp trong nhiều tổ chức, dưới nhiều
hình thức. Từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về quân sự, như về cách
đánh du kích, về binh pháp Tôn Tử, kinh nghiệm chiến tranh của các nước… Người mở 8
nhiều lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ, xây dựng căn cứ địa… Ngày 22/12/1944, Bác
giao đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân,
đơn vị vũ trang chính thức đầu tiên của cách mạng, nhưng nhiệm vụ chính không chỉ có
hoạt động vũ trang mà còn có hoạt động tuyên truyền. Đảng ta còn tranh thủ các đơn vị
của Mỹ trong lực lượng Đồng minh để giúp đỡ vũ khí và tham gia huấn luyện quân sự,
đây chính là lực lượng nòng cốt để hành quân về Hà Nội để cùng nhân dân giành chính
quyền. Ngoài ra, Đảng cũng tích cực vận động, lôi kéo tầng lớp trung gian đứng về phía cách mạng.
Thứ tư, quần chúng nhân dân được chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa khi
thời cơ đến. Đảng và quần chúng nhân dân đã trải qua 3 cuộc tập dượt cho Tổng khởi
nghĩa với Phong trào cách mạng 1930 – 1931, Phong trào dân chủ 1936 – 1939 và Cuộc
vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám. Sau chỉ thị “Nhật pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-
1945, Đảng lãnh đạo quần chúng tiến hành khởi nghĩa từng phần, làn sóng khởi nghĩa
phát triển mau lẹ, kịp thời và dâng lên gần như đồng thời ở nhiều nơi... Thời kỳ này, quần
chúng nhân dân được chuẩn bị mọi mặt. Nhân dân Việt Nam, nhất là quần chúng trong
các tổ chức Cứu quốc, từ lâu đã sẵn sàng hy sinh để giành độc lập, quyết tâm chiến đấu. [3]
Từ những sự chuẩn bị gắt gao và dài hơi cùng khả năng nắm bắt tình hình nhạy bén
của Đảng ta, có thể nói, thành công của Cách mạng tháng Tám thực chất là sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa nhân tố chủ quan và điều kiê ˜n khách quan; giữa nô ˜i lực và ngoại lực;
giữa sức mạnh dân tô ˜c với sức mạnh thời đại, chứ không phải là một sự “ăn may” như
một số luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đưa ra. [4]
4. Đảng lãnh đạo chớp thời cơ
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh, với nghệ thuật chớp thời cơ chiến lược “ngàn năm có một”, nhân dân Việt Nam đã
tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất” giành chính quyền trong cả nước. Việc
dự báo, nhận định đúng thời cơ, nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí 9
Minh là vô cùng quan trọng, yếu tố quyết định đến sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ngay sau khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ hai, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-
1939), Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Đảng (11-1940) đã phân tích tình hình trong và
ngoài nước, các mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trước mắt, quyết định điều chỉnh về đường
lối và phương pháp cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tập trung mũi nhọn
vào chống bọn đế quốc và tay sai. Tháng 6-1940, được tin Pháp đầu hàng Đức, Nguyễn
Ái Quốc triệu tập một cuộc họp cơ quan của Đảng ở nước ngoài để phân tích tình hình và
chuẩn bị kế hoạch hành động. Người đã phân tích và dự báo: “Việc Pháp mất nước là
một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để
tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Cuối tháng 9-1940, Người
đã đưa ra một nhận định cực kỳ quan trọng: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông
Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”.
Ngày 28-01-1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-
1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 để phân tích
tình hình thế giới đang bị tác động sâu sắc bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hội nghị
đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của các mạng Đông
Dương, không biết chớp thời cơ thì vạn năm cũng không đòi lại được. “Trong lúc này,
nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho
toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được”. Cũng từ nhiệm vụ
cấp thiết của dân tộc, theo chủ trương của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tập hợp quy tụ lực
lượng yêu nước trên toàn quốc, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận
Việt Minh ra đời (19/5/1941).
Năm 1944, tình hình thế giới có những chuyển biến mau lẹ, phong trào cách mạng
trong nước đã phát triển mạnh mẽ, Ðảng và Mặt trận Việt Minh đã chủ trương về sửa
soạn khởi nghĩa và sắm võ khí đuổi thù chung. Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào toàn
quốc 10-1944 đã chỉ rõ Cơ hội cho dân tộc ta, giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một
năm rưỡi nữa. Hồ Chí Minh cũng chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội 10
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đến giữa năm 1945, dưới
sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, lực lượng cách mạng trên toàn quốc
đã phát triển vượt bậc, sẵn sàng cho thời cơ đến.
Ngày 9-3-1945 phát-xít Nhật đã làm đảo chính gạt bỏ thực dân Pháp để độc chiếm
Ðông Dương. Thường vụ Trung ương Ðảng đã kịp thời ra bản chỉ thị lịch sử: Nhật - Pháp
bắn nhau và hành động của chúng ta (12-3-1945). Chỉ thị nêu rõ kẻ thù của cách mạng là
phát-xít Nhật, vì vậy khẩu hiệu là Ðánh đuổi phát-xít Nhật. Ðảng đã phát động cao trào
kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Những điều
kiện để khởi nghĩa mà chỉ thị của Trung ương nêu ra đã là định hướng quan trọng để các
đảng bộ địa phương chủ động phát động và lãnh đạo khởi nghĩa. Bản Chỉ thị còn chủ
trương phá kho thóc gạo của đế quốc để cứu đói, lập Ủy ban quân sự cách mạng và xây
dựng chính quyền (các Ủy ban dân tộc giải phóng và Ủy ban nhân dân cách mạng).
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cao trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Tháng 4-1945
các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 4-6-
1945, thành lập khu giải phóng Việt Bắc với sáu tỉnh như là căn cứ địa của cách mạng cả
nước. 15-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Người khẩn trương chỉ đạo
Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng, Hội nghị khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành
quyền độc lập đã tới” quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trước khi quân đồng minh
vào. Đại hội quốc dân (ngày 16 và 17-8) tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa
toàn quốc và Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam - Chính phủ lâm thời sau khi cách
mạng thắng lợi. Ngày 18-8-1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Hỡi
đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến! Toàn quốc đồng bào
hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới
đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên!
Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”.
Đáp lời kêu gọi của Người và Trung ương Đảng, chỉ trong vòng 15 ngày (từ ngày 14
đến ngày 28-8), toàn thể nhân dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, từ thành thị
đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, hải đảo… đều nhất loạt đứng lên tổ chức khởi
nghĩa, lập ra chính quyền nhân dân. Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch 11
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn đã khẳng định: “Một dân tộc
đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phe
Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.
5. Liên hệ Việt Nam giai đoạn hiện nay
Bài học mẫu mực về tận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã
không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và chiến thắng vẻ
vang của toàn quân, toàn dân ta, lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu,
chấn động địa cầu” năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975 mang tầm
cao thời đại… Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nhiều cơ hội được mở ra, không bỏ
qua, nhưng cũng không chờ đợi bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào. Quá trình
toàn cầu hóa đang tạo ra những điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần
nhau, tăng cường hội nhập, hợp tác, phát huy lợi thế cạnh tranh; xu hướng dân chủ hóa
đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc
gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước về sau này, chúng ta
cũng đều nhiều lần vận dụng thành công bài học về chớp thời cơ và tận dụng thời cơ:
Năm 1986, Trung ương Đảng đã kịp thời nắm bắt tình hình, tận dụng thời cơ có sự
chuyển biến trong lý luận và nhận thức để tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đưa
Việt Nam thoát ra khỏi những khó khăn của thời kỳ bao cấp và ảnh hưởng của chiến tranh.
Năm 1991, những biến cố chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tạo ra cho
chúng ta những thách thức rất lớn, nhưng chúng ta đã vượt qua thử thách, nắm bắt được
thời cơ, chuyển hóa khó khăn thành cơ hội để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,
nhưng cũng uyển chuyển trong ngoại giao để mở rộng quan hệ đối với nhiều nước trên
thế giới. Những năm sau đó, Việt Nam cũng đã nắm bắt tốt thời thế để gia nhập ASEAN
năm 1995; cùng trong năm 1995, Việt Nam đồng ý bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ; 12
năm 2007 gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); được bầu làm Ủy viên không
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc năm 2007…
Hiện nay, Việt Nam đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả
5 quốc gia thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam cũng
đã thiết lập quan hệ ngoại giao gần 200 quốc gia với nhiều cấp độ khác nhau, trong đó có
quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia gồm: Nga (2001), Ấn Độ (2007), Nhật Bản
(2006), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức (2011),
Italia, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Pháp (2013); quan hệ đối tác toàn diện với 4 quốc
gia gồm Australia (2009), New Zealand (2010), Đan Mạch, Hoa Kỳ (2013); và đối tác
chiến lược theo lĩnh vực với Hà Lan [5]. Đây là những cơ hội rất lớn giúp nâng cao vị thế
đất nước trên trường quốc tế.
Theo quy luật vận động, phát triển của xã hội, đi liền với những cơ hội, vận hội mới
luôn có những khó khăn, thách thức nảy sinh. Nếu biết vận dụng, nắm bắt tốt cơ hội và
luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách thì sẽ biến điều bất lợi thành có lợi. Trung ương
Đảng ta đã nắm bắt rất rõ quy luật vận động ấy, từ đó thường xuyên, kịp thời có những
nhận định, phân tích, định hướng, chỉ đạo mang tính chiến lược. Gần đây nhất, trong Báo
cáo chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và
trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề
mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và
bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn”
Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn trong quá trình phát
triển. Từ năm 2020, những khó khăn, thách thức càng tăng lên do ảnh hưởng tiêu cực
từ dịch COVID-19. Đà tăng trưởng về kinh tế nước ta bị chặn lại; đời sống của nhân dân,
cả về vật chất, tinh thần, việc làm … đều gặp muôn vàn khó khăn. Thế giới đang bị
khủng hoảng lớn về kinh tế và nhiều mặt khác, tình hình an ninh khu vực và thế giới còn
nhiều diễn biến phức tạp, khó lường… Trước tình hình ấy, những bài học của cuộc
CMT8 vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam dẫn lối cho sự nghiệp đổi mới đất nước
Việt Nam giai đoạn hiện nay 13
Mặc dù vậy, chúng ta cũng phải nhìn nhận và xác định rõ một số thách thức, rào cản
cần phải phá bỏ và vượt qua để từ đó đón bắt thêm được nhiều cơ hội mới, trong đó đáng
chú ý là tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong một bộ phận cán bộ, đảng viên làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước. Nếu phá bỏ được những rào cản này, cũng chính là cơ hội để chúng ta tận
dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả
quản lý của Nhà nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nghệ thuật chớp thời cơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm
1945 vẫn luôn là bài học cực kỳ quý báu cho cả hiện tại và tương lai, đang được Đảng và
nhân dân ta kế thừa, phát huy, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử trong công cuộc xây dựng đất nước. Bài học về tập hợp, đoàn kết, lôi cuốn toàn dân
tham gia sự nghiệp cách mạng, tham gia sự nghiệp xây dựng đất nước; nâng cao ý thức tự
lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của dân tộc, đồng thời mở rộng hợp tác
quốc tế. Bài học về xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân;
giữ vững ổn định chính trị, xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi
cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.Mỗi thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi mới đều có sự kế thừa và
phát triển những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua các thời kỳ cách mạng,
trong đó, bài học kinh nghiệm về tạo dựng, nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại, cần được thấm
nhuần và vận dụng sáng tạo trong giai đoạn . Vì thế cần phải “Kiên quyết, kiên trì đấu
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;
giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia,
giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận
dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện
mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín.
Trong từng thành tựu của công cuộc đổi mới ngày hôm nay đều được khởi nguồn
từ những bài học kinh nghiệm quý báu, đúc kết từ các thời kỳ cách mạng trước đây. 14
Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại;
tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức. Qua trên, bài học kinh nghiệm nắm bắt thời cơ của
CMT8 1945 luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại sâu sắc. 6. Mở rộng
Vì sao nói thời cơ tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 không những đã chín muồi mà
còn là thời cơ ngàn năm có một?
6.1.Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ chín muồi. Đến tháng 8-1945, Đảng
ta đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng cho một cuộc Tổng
khởi nghĩa. Toàn đảng, toàn dân đã sẵn sàng hành động, kiên quyết hy sinh để giành độc
lập. Về mặt đường lối: Hội nghị tháng 5-1941, đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn
khổ từng nước Đông Dương, thành lập mặt trận Việt Minh, đề ra chủ trương khởi nghĩa
vũ trang. Về mặt lực lượng: lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa các mạng
đều đã được đảng ta chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm 1930 - 1945. Về phía quần
chúng nhân dân đã sẵn sàng cùng Đảng vùng lên đấu tranh. Về phía tầng lớp trung gian
đã ngả về phía cách mạng. Từ khi Nhật đảo chính Pháp, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân
tộc, địa chủ nhỏ cũng đứng về phía cách mạng. Nhiều nhà tư sản dân tộc sẵn sàng bỏ tiền
ra mua phiếu ủng hộ Việt Minh. Bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp cũng
trở thành quần chúng cảm tình với cách mạng, nhờ đó các cán bộ cách mạng có điều kiện
hoạt động tích cực trong thành phố.
Là thời cơ "ngàn năm có một". Quân đồng minh đang thắng lợi trên tất cả các mặt
trận, phát xít Đức đầu hàng, Nhật Bản bị tấn công và cô lập => Chủ tịch Hồ Chí Minh dự
đoán chiến tranh sẽ nhanh chóng kết thúc, Nhật Bản sẽ thua trận.Tại Đông Dương, quân
Pháp đã bị Nhật hất cẳng từ trước. Quân Nhật thì lại đang thua trận, chính phủ Trần
Trọng Kim hoang mang, rệu rã => kẻ thù đang suy yếu, đây là thời cơ thuận lợi. Trong
khi đó, quân đồng minh đang bận đối phó với Nhật. Sau khi chiến tranh kết thúc, quân
đồng minh sẽ viện cớ giải giáp phát xít Nhật để tiến vào nước ta. Bản chất của chúng đều
là chủ nghĩa đế quốc xâm lược không khác gì Pháp - Nhật. Vì vậy, ta phải giành chính 15
quyền ngay khi quân đồng minh chưa kịp vào nước ta. Đây chính là thời cơ "ngàn năm có
một", nếu không chớp thời cơ để giành chính quyền thì sẽ không có cơ hội tốt đẹp như
vậy lần sau nữa. Trong bối cảnh trên, Đảng ta quyết định phát động Tổng khởi nghĩa
trong toàn quốc để giành chính quyền 6.2. Bài học
Như trên đã nói, thời cơ xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Đối
với cuộc Cách mạng tháng Tám, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng khoảng
20 ngày, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 13-8) và kết thúc khi quân
Đồng Minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pôt-xđam (ngày
5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 13-8
và sau ngày 5-9 đều không có khả năng thành công, bởi trước ngày 13-8, quân Nhật còn
mạnh, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu, còn sau ngày 5-9, trên đất nước có nhiều
kẻ thù (từ vĩ tuyến 16 trở ra là quân Tưởng - Mỹ, từ vĩ tuyến 16 trở vào là quân Anh và
sau nó là quân Pháp trở lại xâm lược), cuộc cách mạng Việt nam sẽ mất đi thế chủ động
và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Vì vậy chỉ có thể giành thắng lợi trong khoảng thời gian
khắc nghiệt đó. Đã mấy mươi năm đã trôi qua, nhưng bài học về nhận định thời cơ và
chớp thời cơ cách mạng của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám 1945, vẫn còn nguyên
giá trị thời sự. Qua đó chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn về hai câu thơ của Bác ở bài thơ “Học đánh cờ”
“lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công” 16 KẾT LUẬN
Chớp đúng thời cơ khởi nghĩa là một vấn đề có ý nghĩa quyết định tới
thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Nhận thức rõ tính chất quyết định, ý nghĩa
chiến lược của thời cơ khởi nghĩa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hành
động kịp thời và kiên quyết trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, mang
lại chiến thắng mang tính lịch sử của dân tộc Việt Nam ta.
Bài học mẫu mực về tận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đã không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và
chiến thắng vẻ vang của toàn quân, toàn dân ta. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày
nay, nhiều cơ hội được mở ra, không bỏ qua, nhưng cũng không chờ đợi bất cứ
ai, bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào. Quá trình toàn cầu hóa đang tạo ra những
điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập,
hợp tác, phát huy lợi thế cạnh tranh; xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, đời
sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng
định vai trò, vị trí của mình.
Bước vào thời kỳ mới, đất nước đứng trước những thuận lợi, thời cơ,
nhưng đồng thời cũng có không ít khó khăn, thách thức. Bài học về nắm bắt thời
cơ và vận dụng sáng tạo thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm xưa vẫn không
ngừng được phát huy, tỏa sáng, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc để nhân
dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách.
Mỗi thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi mới đều có sự kế thừa và
phát triển những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua các thời kỳ cách
mạng, trong đó, bài học kinh nghiệm về tạo dựng, nắm bắt và chớp thời cơ của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời
đại, cần được thấm nhuần và vận dụng sáng tạo trong giai đoạn phát triển mới. 17 LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan bài tiểu luận này là do nhóm chúng em thực hiện cùng sự
hỗ trợ, tham khảo tài liệu từ các tư liệu, giáo trình liên quan đến đề tài nghiên cứu và
không có sự sao chép y nguyên các tài liệu đó. 18 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài tiểu luận này, nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn Ban
Giám hiệu, quý thầy, cô của Học Viện Ngân Hàng, những người đã tận tình giúp đỡ và
tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
cô Trần Thị Mai - người đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn em thực hiện bài tiểu luận
này bằng tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận này, do hiểu biết còn nhiều hạn chế nên bài
làm khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những lời góp ý của
quý thầy cô để bài tiểu luận ngày càng hoàn thiện hơn. 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. L. Trịnh, "Phân tích thời cơ trong Cách mạng tháng Tám 1945," 14/06/2023. [Online].
Available: https://vndoc.com/phan-tich-thoi-co-trong-cach-mang-thang-tam-1945- 229827.
2. B. T. g. T. ủ. TPHCM, "76 năm sự kiện phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh
(15/8/1945 - 15/8/2021)," 14/08/2021. [Online]. Available:
https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/76-nam-su-kien-phat-xit-nhat-tuyen-bo-dau-hang-
dong-minh-15-8-1945-15-8-2021-1491882502.
3. T. T. T. K. Dung, "Vai trò lãnh đạo của Đảng trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945,"
09/092019. [Online]. Available: https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-
nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-90-nam-
lich-su-dang/vai-tro-lanh-dao-cua-dang-trong-tong-khoi-nghia-thang-tam-1945- 534444.html.
4. B. T. l. -. V. k. (. t. "Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện, kết thúc
chiến tranh thế giới thứ hai," 26/01/2018. [Online]. Available:
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-kien-va-nhan-chung/
ngay-1481945-phat-xit-nhat-dau-hang-khong-dieu-kien-ket-thuc-chien-tranh-the-gioi- thu-hai-3361.
5. T. N. H. B. PGS, "Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công
bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân," 23/10/2023. [Online]. Available:
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/
V8hhp4dK31Gf/content/tiep-tuc-xay-dung-nen-tu-phap-viet-nam-chuyen-nghiep-hien-dai-
cong-bang-nghiem-minh-liem-chinh-phung-su-to-quoc-phuc-vu-nhan-dan. 20