



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN
MÔN: CHỦ NGHĨA KHOA HỌC XÃ HỘI ĐỀ TÀI:
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. HÀ NỘI (3/2025) STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN 1 Vũ Nguyễn Thanh Huyền 27A4020401 2 Phạm Quang Anh 27A4020357 3 Nguyễn Hà Linh Chi 27A4020367 4 Nguyễn Bảo Khánh 27A4020403 5 Nguyễn Nhật Minh 27A4020424 6 Phan Trung Kiên 27A4020405 7 Nguyễn Hữu Quang Minh 27A4020423 8 Chu Bảo Ngọc 27A4020434 9 Đỗ Thị Thảo 27A4020466
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỔI VỀ QUY MÔ, KẾT CẤU.............................................................1 1.1.
Biến đổi về quy mô............................................................................................1 1.2.
Sự biến đổi về kết cấu gia đình Việt Nam.......................................................1 1.3.
Cần phải làm gì?...............................................................................................2
CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG.................................................3 2.1.
Sự biến đổi chức năng tái sản xuất con người................................................3 2.2.
Sự thay đổi trong chức năng kinh tế...............................................................4
2.2.1. Gia đình không còn là đơn vị sản xuất chủ yếu........................................................4
2.2.2. Gia đình trở thành đơn vị tiêu dùng chủ yếu............................................................5
2.2.3. Ảnh hưởng của công nghệ và dịch vụ tài chính........................................................5
2.2.4. Tác động của sự thay đổi chức năng kinh tế đối với gia đình..................................5 2.3.
Sự biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa)..................................................6
2.4. Sự biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm.................7
2.5. Bảng tổng quan..............................................................................................................8
CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI VỀ MỐI QUAN HỆ......................................................................9 3.1.
Quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng.............................................................9
3.1.1. Khái niệm..................................................................................................................9
3.1.2. Thực trạng biến đổi...................................................................................................9
3.1.3. Nguyên nhân gây ra sự biến đổi...............................................................................9
3.1.4. Tác động.................................................................................................................10
3.1.5. Biện pháp................................................................................................................10 3.2.
Quan hệ giữa các thế hệ, chuẩn mực văn hóa...................................................10
3.2.1. Quan hệ giữa các thế hệ.........................................................................................10
3.2.1.1, Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ và con cháu.......................................................10
3.2.1.2, Quan hệ giữa cha mẹ và con cái.......................................................................11
3.2.1.3, Quan hệ giữa anh, chị, em................................................................................11
3.2.2. Chuẩn mực văn hóa trong gia đình.........................................................................11
3.2.2.1, Chuẩn mực trong hôn nhân và đời sống vợ chồng...........................................11
3.2.2.2, Chuẩn mực về vai trò giới trong gia đình........................................................12
NGUỒN THAM KHẢO:.......................................................................................................14 LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là một phần không thể thiếu đối với tất cả mọi người. Mỗi một gia đình
được coi là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, môi trường lưu giữ, giáo dục
trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc cho các thành viên trong gia đình. Xây dựng
gia đình hạnh phúc chính là tạo nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, là vấn đề hết
sức quan trọng của dân tộc ta. Công tác xây dựng gia đình vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Chính vì lí do đó, các vấn đề liên quan
đến gia đình luôn phải được dành sự quan tâm, chú ý đến, đặc biệt là trong thời kì quá
độ lên xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh với sự phát triển về các mặt khác của xã hội, một
số thách thức mới liên quan đến gia đình cũng dần nảy sinh. Bên cạnh những biến đổi
tích cực thì gia đình Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính
tiêu cực do chịu sự ảnh hưởng lớn từ nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất
nước. Để giúp cho xã hội ngày càng phát triển, ta phải hiểu rõ những vấn đề phát sinh
là gì, từ đó đặt ra những hướng giải quyết tối ưu nhằm khắc phục triệt để những thách thức được đề ra.
Đề tài thảo luận được đưa ra với mục đích làm sáng tỏ sự biến đổi của gia đình trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó cung cấp cho sinh viên cái
nhìn khách quan nhất về các vấn đề phải đối mặt cũng như một số các phương pháp
để có thể xây dựng một được gia đình hạnh phúc.
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu làm rõ, đầy đủ những lý luận chung về vấn đề gia
đình và những cơ sở lý luận xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ
nghĩa. Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích, nghiên cứu tác động, nguyên nhân sự biến
đổi chức năng gia đình và thực trạng một số vấn đề gia đình ở Việt Nam, từ đó đề xuất
giải pháp phù có thể được thực hiện để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng.
CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỔI VỀ QUY MÔ, KẾT CẤU.
1.1. Biến đổi về quy mô
Trong quá trình chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội
công nghiệp hiện đại, gia đình Việt Nam ngày nay đang trong giai đoạn “gia đình
quá độ.” Điều này thể hiện qua sự chuyển dịch từ mô hình gia đình truyền thống
(nhiều thế hệ cùng chung sống) sang gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái).
Sự thay đổi này diễn ra phổ biến ở cả khu vực nông thôn và thành thị, trở thành một xu hướng tất yếu.
So với trước đây, quy mô gia đình ngày càng nhỏ lại, số lượng thành viên trong
một gia đình có xu hướng giảm dần. Nếu như trước kia, nhiều thế hệ cùng sinh sống
trong một mái nhà, thì hiện nay, phần lớn gia đình chỉ có cha mẹ và con cái. Số
lượng con trong gia đình cũng giảm xuống, phổ biến là chỉ có 1 đến 2 con. Đặc biệt,
gia đình đơn thân (chỉ có cha hoặc mẹ nuôi con) ngày càng phổ biến hơn, mặc dù
vẫn thuộc dạng gia đình hạt nhân nhưng với quy mô nhỏ hơn nữa.
Việc thu hẹp quy mô gia đình mang lại một số lợi ích nhất định. Mỗi thành
viên có không gian riêng tư, dễ dàng làm những điều mình thích mà không bị sự
giám sát hay đánh giá từ các thế hệ khác. Điều này giúp giảm bớt những mâu thuẫn
giữa các thành viên, tạo điều kiện để con cái có môi trường sống thoải mái, ít áp lực hơn.
Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng đi kèm với nhiều hạn chế. Khi gia đình truyền
thống dần thu hẹp, các mối quan hệ giữa các thế hệ có nguy cơ lỏng lẻo hơn, người
già ít được quan tâm chăm sóc từ con cháu. Bên cạnh đó, việc gia đình ít con cũng
có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cho xã hội trong tương lai.
Dù vậy, mô hình gia đình nhỏ vẫn đang trở thành xu hướng phù hợp với xã hội
hiện đại. Việc gia đình chỉ có hai thế hệ (cha mẹ – con cái) giúp cuộc sống cá nhân
trở nên độc lập hơn, tránh những xung đột thường thấy trong gia đình nhiều thế hệ.
Đồng thời, điều này cũng giúp các gia đình dễ thích nghi hơn với sự phát triển kinh
tế – xã hội, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thời đại mới.
1.2. Sự biến đổi về kết cấu gia đình Việt Nam
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu của các gia đình Viêt Nam đã có
sự thay đổi rõ rệt so với các thời kì trước. Trong thời phong kiến, người đàn ông giữ
vai trò trụ cột gia đình và có quyền quyết định toàn bộ các công việc quan trọng
trong gia đình, trong khi đó, người phụ nữ buộc phải nghe theo chồng, họ không hề
có quyền đưa ra quyết định. Nguyên nhân gây ra là do thời kì này bị ảnh hưởng bởi
các chuẩn mực xã hội lúc bấy giờ, người phụ nữ trong gia đình luôn phải tuân theo
“tam tòng tứ đức”. Trong đó:
“Tam tòng”: Là các nghĩa vụ của người phụ nữ đối với xã hội. Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Tức là khi ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì
phải theo chồng, chồng mất thì phải theo con trai. Như vậy, dù ở hoàn cảnh nào
người phụ nữ cũng chịu cảnh bị lệ thuộc và không có tiếng nói trong xã hội phong
kiến. “Tứ đức”: Là các tiêu chí để người phụ nữ xưa rèn luyện và hoàn thiện bản
thân: (Công-Dung-Ngôn-Hạnh). Người phụ nữ phải biết khéo léo trong công việc;
phải tôn trọng hình thức bản thân; lời ăn tiếng nói phải khoan thai, dịu dàng; tính
tình phải nết na, thùy mị.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu gia đình thay đổi, ở thời kì này,
sự bình đẳng giới giữa nam và nữ được nâng lên nhiều so với thời kỳ trước, người
phụ nữ được giải phóng khỏi những “xiềng xích vô hình” của xã hội cũ. Một minh
chứng rõ ràng đó là chế độ hôn nhân một vợ một chồng thay vì đàn ông tam thê tứ
thiếp. Do đó quyền quyết định trong gia đình sẽ được thay đổi theo chiều hướng tích
cực hơn. Họ ngày càng được đối xử bình đẳng hơn và có nhiều điều kiện để phát
triển, nâng cao vị thế xã hội của mình; vai trò của họ trong cuộc sống, trong sản
xuất,... ngày càng trở nên quan trọng hơn, gánh nặng gia đình cũng dần được chia sẻ
từ hai phía. Bình đẳng giới nói riêng và bình đẳng nói chung được tôn trọng làm cho
mỗi người được tự do phát triển mà không phải chịu nhiều ràng buộc bởi các định
kiến xã hội truyền thống.
Ngoài ra, ở thời kỳ này, các “gia đình khuyết” trở nên phổ biến hơn so với thời
kỳ trước. Một gia đình khuyết tức là gia đình không có đầy đủ cả bố mẹ và con cái.
Kết cấu của gia đình khuyết có thể thiếu đi bố hoặc mẹ, kiểu gia đình khuyết này là
gia đình đơn thân. Còn một loại gia đình khuyết khác đó là gia đình có vợ chồng
nhưng không thể sinh con hoặc không có ý định sinh con vì một lý do nào đó.
1.3. Liên hệ thực tế
Dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, quy mô gia
đình đang có xu hướng thu nhỏ, chuyển từ gia đình truyền thống "tam đại đồng
đường" sang gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Đi đôi với đó là sự thay
theo nhiều hướng trong kết cấu của các hộ gia đình. Điều này vừa mang lại cơ hội,
vừa đặt ra nhiều thách thức cho từng cá nhân, tổ chức hay thậm chí là cả xã hội.
1.3.1. Đối với cá nhân (các thành viên trong gia đình): •
Thích nghi với mô hình gia đình nhỏ: Mỗi người cần học cách sống độc lập
hơn, chủ động hơn trong các mối quan hệ, đặc biệt là giữa cha mẹ và con cái,
giữa con cái với ông bà (dù không sống cùng vẫn cần gắn bó, quan tâm). •
Duy trì mối quan hệ liên thế hệ: Dù quy mô gia đình thu hẹp, nhưng các giá
trị như lòng hiếu thảo, kính trên nhường dưới, truyền thống gia đình vẫn cần được bảo tồn. •
Thích nghi với vai trò linh hoạt trong kết cấu mới:Dù là cha, mẹ đơn thân,
con cái trong gia đình tái hôn, hay ông bà sống riêng,... mỗi người đều cần
thực hiện tốt vai trò của mình, không bị phụ thuộc vào hình thức "chuẩn" của gia đình truyền thống. •
Giữ gìn tình cảm, trách nhiệm giữa các thành viên:Dù không sống cùng,
mối quan hệ huyết thống, trách nhiệm đạo đức vẫn phải được gìn giữ. Ví dụ:
con cái vẫn có nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ, dù không ở chung nhà. •
Tôn trọng sự đa dạng trong mô hình gia đình:Không kỳ thị hay phân biệt
những mô hình gia đình "khác thường" như cha mẹ đơn thân, con nuôi, gia đình đa văn hóa…
1.3.2. Đối với gia đình (như một đơn vị cơ bản của xã hội): •
Chủ động tổ chức cuộc sống hợp lý: Trong mô hình gia đình nhỏ, việc phân
chia vai trò, trách nhiệm giữa các thành viên cần rõ ràng, đặc biệt trong việc
nuôi dạy con cái và chăm sóc người già. •
Giáo dục con cái về giá trị truyền thống và đương đại: Gia đình hạt nhân
không có nghĩa là rời rạc. Cha mẹ vẫn phải dạy con giữ gìn nếp sống gia
phong, biết tôn trọng ông bà, tổ tiên. Bên cạnh đó các giá trị như tinh thần
trách nhiệm, đoàn kết, lòng nhân ái, cũng phải được chú trọng
1.3.3. Đối với các tổ chức xã hội (trường học, hội phụ nữ, công đoàn…): •
Tuyên truyền nâng cao nhận thức: Giúp người dân hiểu rõ những thay đổi
trong mô hình gia đình, tránh tâm lý lo lắng hoặc đánh mất giá trị truyền thống. •
Tổ chức các hoạt động gắn kết gia đình: Như ngày hội gia đình, tọa đàm về
nuôi dạy con, chăm sóc người già, để khơi gợi tình cảm và sự quan tâm giữa các thế hệ. •
Hỗ trợ tâm lý - xã hội: Với những người già sống một mình, cha mẹ đơn
thân, hoặc người trẻ gặp khó khăn khi làm cha mẹ trong gia đình hạt nhân.
1.3.4. Đối với xã hội và Nhà nước: •
Xây dựng chính sách an sinh phù hợp: Phát triển các mô hình nhà ở phù
hợp, xây dựng trung tâm chăm sóc người già, nhà trẻ công cộng,... •
Đẩy mạnh phúc lợi xã hội: Đảm bảo các quyền lợi về y tế, bảo hiểm, hưu trí
cho người già khi không còn sống trong gia đình lớn. •
Tôn vinh các mô hình gia đình tốt: Dù quy mô nhỏ, nhưng vẫn giữ được sự
ấm áp, truyền thống và có đóng góp tích cực cho xã hội.
Tóm lại, dù quy mô và kết cấu gia đình thay đổi, song chức năng và vai trò cơ
bản của gia đình – như nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc – vẫn cần được bảo tồn và
phát huy. Cả cá nhân, tổ chức và xã hội phải cùng phối hợp chung tay để thích nghi
với thực tiễn mới mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa Việt Nam.
CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG
2.1. Sự biến đổi chức năng tái sản xuất con người
Trong bối cảnh xã hội Việt Nam và thế giới đang có nhiều biến đổi, vai trò của gia
đình trong việc duy trì nòi giống và đáp ứng nhu cầu tình dục đang ngày càng giảm
sút. Điều này thể hiện rõ ràng khi những quan niệm về quan hệ tình dục trước và
ngoài hôn nhân không còn bị xã hội lên án gay gắt như trước đây.
Nếu như trong xã hội truyền thống, việc một người phụ nữ không kết hôn mà
có con thường bị xem là điều không thể chấp nhận được, thì ngày nay, dù hôn nhân
vẫn là một quyết định quan trọng đối với phụ nữ, họ ngày càng có nhiều quyền tự
chủ hơn trong việc kết hôn và sinh con nhờ sự bảo vệ của pháp luật và sự du nhập
của văn hóa phương Tây. Quyền làm mẹ của phụ nữ không chỉ là sự thay đổi trong
nhận thức xã hội mà còn là minh chứng cho sự nhân văn trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.
Để đảm bảo sự ổn định dân số, các gia đình ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên
thế giới hiện nay thường chỉ có từ một đến hai con. Điều này vừa giúp bảo vệ sức
khỏe của người mẹ, vừa nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình và tạo điều kiện tốt
hơn cho việc nuôi dạy con cái. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hiện
đại cũng trở nên yêu thương và hòa thuận hơn so với trước đây, khi gia đình có xu
hướng kém bền vững hơn. Gia đình Việt Nam ngày nay không còn là nơi trú ẩn an
toàn và có những ràng buộc nghĩa vụ chặt chẽ như trước kia.
Một sự thay đổi đáng chú ý trong chức năng của gia đình là sự suy yếu của
chức năng sinh sản, nhường chỗ cho vai trò kinh tế ngày càng quan trọng. Một
nghiên cứu tại TP.HCM, một trong những đô thị phát triển nhất Việt Nam, cho thấy
tỷ lệ sinh ở các cặp vợ chồng tại đây đã giảm đáng kể. Nguyên nhân chính là do áp
lực từ cuộc sống công nghiệp, công việc và gánh nặng kinh tế gia đình, dẫn đến xu
hướng kết hôn muộn, sinh con muộn, sinh ít con hoặc thậm chí không muốn sinh
con ngày càng phổ biến. Điều này cho thấy chức năng kinh tế đang ngày càng đóng
vai trò trung tâm trong đời sống của các gia đình hiện đại.
2.2. Sự thay đổi trong chức năng kinh tế
Gia đình luôn đóng một vai trò thiết yếu trong nền kinh tế, tuy nhiên, sự phát
triển của xã hội đã làm thay đổi vai trò này theo thời gian. Trong xã hội truyền
thống, gia đình đồng thời là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, nơi các thành viên
cùng nhau làm việc để tạo ra thu nhập và đảm bảo cuộc sống. Nhưng trong bối cảnh
hiện đại, với sự chuyển dịch sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ, chức năng sản
xuất của gia đình ngày càng thu hẹp, và gia đình dần trở thành một đơn vị tiêu dùng chủ yếu.
2.2.1. Gia đình không còn là đơn vị sản xuất chủ yếu
Nếu như trước đây ở các vùng quê, các gia đình thường tự cung tự cấp, tự sản
xuất những nhu yếu phẩm như lương thực, thực phẩm, quần áo để phục vụ nhu cầu
của bản thân. Thì ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt
động sản xuất dần được chuyển giao cho các doanh nghiệp, nhà máy, hợp tác xã
hoặc các trang trại quy mô lớn, làm giảm vai trò sản xuất của các hộ gia đình.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ đã tạo ra nhiều cơ
hội việc làm hơn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và di cư lao động. Nhiều thành viên
trong gia đình, đặc biệt là giới trẻ, đã rời bỏ quê hương để tìm kiếm việc làm ở các
thành phố lớn hoặc khu công nghiệp, dẫn đến sự thiếu hụt lao động tại các gia đình
nông thôn. Sự di cư này không chỉ ảnh hưởng đến cơ cấu gia đình mà còn làm thay
đổi chức năng kinh tế của nó.
2.2.2. Gia đình trở thành đơn vị tiêu dùng chủ yếu
Khi nguồn thu nhập của các thành viên gia đình chủ yếu đến từ công việc bên
ngoài thay vì tự sản xuất, gia đình tập trung hơn vào việc tiêu thụ hàng hóa và dịch
vụ. Các nhu cầu về thực phẩm, dịch vụ, giáo dục, giải trí ngày càng được đáp ứng
thông qua việc mua sắm thay vì tự làm như trước đây.
Các xu hướng tiêu dùng cũng có sự thay đổi đáng kể do sự phát triển của kinh
tế và công nghệ. Ví dụ, trước đây người dân thường mua hàng ở chợ truyền thống,
nhưng hiện nay họ có xu hướng mua sắm tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi hoặc
thậm chí mua hàng trực tuyến. Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và
dịch vụ giao hàng tận nhà càng làm nổi bật vai trò tiêu dùng của gia đình.
2.2.3. Ảnh hưởng của công nghệ và dịch vụ tài chính
Sự tiến bộ của công nghệ không chỉ thay đổi cách thức tiêu dùng mà còn tác
động đến cách quản lý tài chính trong gia đình. Các phương thức thanh toán điện tử,
ngân hàng số, ví điện tử giúp việc chi tiêu và quản lý tài chính trở nên dễ dàng hơn.
Nhiều gia đình hiện nay sử dụng các ứng dụng quản lý chi tiêu để theo dõi ngân
sách, lập kế hoạch tài chính và tiết kiệm hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống tín dụng, vay tiêu dùng, mua trả góp
cũng tạo điều kiện cho các gia đình tiếp cận được nhiều sản phẩm và dịch vụ hơn, từ
đó làm tăng mức tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những thách thức về
việc quản lý tài chính cá nhân và nợ của các hộ gia đình, đòi hỏi mỗi gia đình phải
có sự điều chỉnh chi tiêu một cách hợp lý.
2.2.4. Tác động của sự thay đổi chức năng kinh tế đối với gia đình
Sự chuyển dịch từ vai trò sản xuất sang tiêu dùng đã mang lại nhiều tác động
đến với đời sống gia đình: •
Thay đổi cấu trúc gia đình: Để tìm kiếm việc làm, nhiều gia đình đã phải
sống xa nhau về mặt địa lý, dẫn đến hình thành mô hình "gia đình ly tán" –
nơi cha mẹ đi làm ăn xa, con cái ở lại quê nhà với ông bà. Điều này ảnh
hưởng đến sự gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình. •
Gia tăng áp lực kinh tế: Khi gia đình chủ yếu đóng vai trò tiêu dùng, gánh
nặng tài chính dồn lên vai những người trụ cột kinh tế. Chi phí cho nhà ở,
giáo dục, y tế, giải trí ngày càng tăng, đòi hỏi mỗi gia đình phải có kế hoạch tài chính chặt chẽ. •
Tác động đến vai trò giới: Trước đây, nam giới thường là người kiếm tiền
chính trong gia đình, nhưng ngày nay, với sự tham gia ngày càng nhiều của
phụ nữ vào lực lượng lao động, vai trò này đang dần thay đổi. Ngày càng có nhiều
gia đình mà cả vợ và chồng đều đi làm, dẫn đến sự điều chỉnh trong việc
phân chia công việc nhà và chăm sóc con cái.
2.3. Sự biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Vai trò giáo dục của gia đình là một chức năng xã hội cốt lõi, hướng đến việc
hình thành những người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội. Bởi lẽ, gia
đình chính là môi trường giáo dục đầu tiên, cha mẹ là những người thầy cô đầu tiên
trong cuộc đời mỗi cá nhân. Do đó, nội dung giáo dục trong gia đình cần toàn diện,
bao gồm kiến thức, kinh nghiệm sống, đạo đức, lối sống, ý thức cộng đồng và các kỹ năng ứng xử.
Sự phát triển kinh tế qua các giai đoạn lịch sử luôn tác động đến các khía cạnh
xã hội. Đối với chức năng giáo dục của gia đình, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt
giữa thời kỳ hiện tại và thời kỳ phong kiến, khi trình độ kinh tế - xã hội có sự thay
đổi đáng kể. Nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mỗi cá nhân và gia đình tích
lũy tài sản, làm giàu, từ đó đầu tư vào các nhu cầu, trong đó có giáo dục. Nhờ vậy,
chức năng giáo dục của gia đình đã được cải thiện đáng kể. Trong các gia đình hiện
nay, cả con trai và con gái đều có cơ hội đến trường học tập và được chuẩn bị đầy đủ
cơ sở vật chất cần thiết cho việc học.
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ mở ra cơ hội tiếp cận những ứng dụng
mới cho con người. Sự phổ biến của internet và điện thoại di động đã có những ảnh
hưởng đáng kể đến việc giáo dục con cái trong các gia đình hiện đại. Điều này đã
giúp cho việc thực hiện chức năng giáo dục trở nên dễ dàng hơn, đồng thời tạo ra
nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc học tập và tiếp thu kiến thức.
Về mặt văn hóa, những tác động từ phong tục, tập quán có ảnh hưởng nhất
định đến đời sống. Trong thời kỳ phong kiến, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng
Nho giáo, việc giáo dục trong gia đình thường do người đàn ông – người giữ vai trò
trụ cột – đảm nhiệm. Điều này đã hạn chế sự hiểu biết của các thành viên khác về
các vấn đề xã hội bên ngoài gia đình. Ngày nay, với sự gia tăng của phong trào bình
đẳng giới, phụ nữ được tôn trọng và trao quyền nhiều hơn trong cả gia đình và xã
hội, bao gồm cả việc giáo dục con cái.
Việc pháp luật quy định trách nhiệm giáo dục con cái thuộc về cha mẹ và bảo
vệ quyền lợi của trẻ em trong gia đình là cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo việc thực
hiện chức năng giáo dục của gia đình.
Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển của hệ thống giáo dục xã hội và sự tăng
trưởng của nền kinh tế hiện nay, là sự xuất hiện của các hiện vấn đề tiêu cực trong
chính xã hội và trường học. Điều này có thể làm giảm kỳ vọng và niềm tin của cha
mẹ vào hệ thống giáo dục xã hội trong việc rèn luyện đạo đức, nhân cách cho con
cái so với trước đây. Mâu thuẫn này có nguy cơ khiến gia đình mất đi vị trí là nơi
giáo dục đầu tiên và cơ bản của mỗi người, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực cho xã
hội. Những tác động này đang làm suy giảm đáng kể vai trò của gia đình trong việc
thực hiện chức năng xã hội hóa và giáo dục trẻ em cũng như người lớn.
2.4. Sự biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm
Trong hệ thống các giá trị đạo đức, tâm lý và tình cảm của gia đình, lòng
chung thủy được xem là giá trị quan trọng hàng đầu trong quan hệ hôn nhân và gia
đình. Tiếp theo đó là các giá trị như tình yêu thương, sự sẻ chia trách nhiệm và sự
bình đẳng.Theo kết quả khảo sát năm 2019 của Trần Thị Minh Thi về “Các giá trị cơ
bản của gia đình Việt Nam”, có tới 88,75% người tham gia khảo sát coi chung thủy
là “rất quan trọng” tiếp đến là tình yêu thương với 85%, sự chia sẻ trách nhiệm với
74% và sự bình đẳng với 72,75%. Đồng thời, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tình
trạng bạo lực gia đình từng khắt khe với phụ nữ và xu hướng vi phạm các chuẩn
mực đạo đức gia đình đang giảm đi đáng kể. Điều này mở đường cho một nền tảng
gia đình phát triển vững chắc và hạnh phúc hơn.
Ngày nay, các gia đình ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của
trách nhiệm và sự sẻ chia trong cuộc sống gia đình. Điều này thể hiện qua việc các
thành viên chia sẻ những mối quan tâm, lắng nghe tâm tư, suy nghĩ của nhau. Ở
những gia đình có mức độ hiện đại hóa cao hơn, mang nhiều đặc điểm hiện đại như
sống ở đô thị, có việc làm, trình độ học vấn cao, mức sống tốt và sinh sống tại các
khu vực kinh tế phát triển thì các giá trị sẻ chia và trân trọng càng được các cặp vợ
chồng thể hiện rõ rang hơn. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng sự bất bình đẳng giới vẫn
còn tồn tại, thể hiện qua tỷ lệ phụ nữ được chồng chia sẻ, lắng nghe và chia sẻ suy nghĩ vẫn chưa cao.
Tuy nhiên một số nghiên cứu chỉ ra rằng, khi mà xu hướng gia đình chỉ có một
con có tỷ lệ ngày càng tang thì đời sống tâm lý và tình cảm của nhiều trẻ em và cả
người lớn có thể trở nên kém phong phú hơn do thiếu vắng tình cảm anh chị em.
Tác động của công nghiệp hóa và toàn cầu hóa đang dẫn đến tình trạng phi nhân hóa
gia đình ngày càng sâu sắc.
2.5. Bảng tổng quan KHÍA CẠNH TRƯỚC ĐÂY NGÀY NAY BIẾN ĐỔI Chức năng tái sản - Thường được quyết - Quyết định sinh con
xuất ra con người định dựa trên phong tục, tập hiện nay thường được gia
quán và nhu cầu sản xuất
đình tiến hành một cách nông nghiệp.
chủ động và tự giác hơn bởi - Nhu cầu về con cái
chính sách xã hội và y tế
thường được coi là vô cùng học hiện đại. quan trọng. - Quan tâm đến việc
có mộtsố lượng con hợp lý
và phù hợp với khả năng chăm sóc và nuôi dưỡng của gia đình. Chức năng kinh tế - Tự kinh tế để đáp - Gia đình chuyển và tổ chức tiêu ứng nhu cầu cá nhân.
sang tổ chức kinh tế phù dùng trong gia -
Từ việc sản xuất hàng hợp với nền kinh tế thị đình
hóa để đáp ứng nhu cầu trường toàn cầu.
trong thị trường quốc gia. - Sản phẩm được sản
xuất chủ yếu để bán ra thị trường. Chức năng nuôi - Trong xã hội truyền - Trong xã hội hiện
dưỡng và giáo dục thống, tập trung vào việc
đại, với sự phát triển của
truyền đạt kiến thức, giá trị giáo dục và công nghệ
văn hóa và đạo đức từ các
thông tin, vai trò của gia
thế hệ trước sang thế hệ sau. đình trong việc giáo dục -
Gia đình truyền thống con cái đã trở nên đa dạng
thường coi trọng việc giáo hơn. dục con cái theo các quy - Gia đình ngày nay
định và truyền thống lâu đời. coi môitrường thú vị để
khám phá và học hỏi từ các
phương tiện truyền thông. Chức năng thỏa
- Trong xã hội truyền thống, - Trong xã hội hiện đại, với
mãn nhu cầu tâm gia đình thường được coi là
sự phát triển của cuộc sống sinh lý và duy trì
nơi cung cấp sự an ủi, yêu
công nghệ, việc thỏa mãn
tình cảm trong gia thương và sự hỗ trợ tinh
nhu cầu tình cảm có thể đình thần cho các thành viên.
được thực hiện thông qua
các kênh truyền thông xã
hội và giao tiếp trực tuyến. 2.6. Liên hệ
2.6.1. Đối với cá nhân (các thành viên trong gia đình): •
Nâng cao ý thức trách nhiệm với gia đình: Mỗi người cần hiểu rõ vai trò, vị
trí của mình trong gia đình, biết yêu thương, chia sẻ, quan tâm và hỗ trợ nhau. •
Giữ gìn các giá trị đạo đức truyền thống: Tôn trọng ông bà, cha mẹ, gìn giữ
lễ nghĩa, hiếu thảo, trung thực, nhân ái,... •
Chủ động thích ứng với sự thay đổi: Trong bối cảnh kinh tế thị trường, công
nghệ phát triển, cá nhân cần học hỏi, nâng cao nhận thức, kỹ năng để bảo vệ,
giữ gìn hạnh phúc gia đình.
2.6.2. Đối với gia đình (với tư cách là một thiết chế xã hội): •
Giáo dục thế hệ trẻ: Gia đình vẫn là nơi đầu tiên hình thành nhân cách con
người. Cần chú trọng dạy dỗ con cháu về đạo đức, lối sống, lòng yêu nước,
tinh thần trách nhiệm với cộng đồng •
Thích ứng với mô hình gia đình mới: Có thể không còn là gia đình truyền
thống "tam đại đồng đường", nhưng cần đảm bảo sự gắn kết, tương trợ lẫn
nhau dù sống riêng hay chung. •
Chia sẻ vai trò giữa các thành viên: Bình đẳng giới trong công việc nội trợ,
nuôi dạy con cái... để giảm áp lực và tạo sự công bằng trong gia đình.
2.6.3. Đối với tổ chức (trường học, công đoàn, hội phụ nữ…): •
Tuyên truyền, giáo dục: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò của gia
đình trong xây dựng xã hội XHCN, lồng ghép vào các chương trình giáo dục, sinh hoạt cộng đồng. •
Hỗ trợ gia đình phát triển bền vững: Tổ chức các lớp tập huấn, tư vấn tâm
lý, kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng xây dựng gia đình hạnh phúc. •
Bảo vệ quyền lợi gia đình: Hỗ trợ người lao động về chính sách thai sản,
nuôi con nhỏ, phòng chống bạo lực gia đình, v.v
2.6.4. Đối với xã hội và Nhà nước: •
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình: Cập nhật các quy định phù hợp
với thực tiễn và xu hướng phát triển (luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới...). •
Phát triển các chính sách an sinh xã hội: Hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh
khó khăn, người già neo đơn, trẻ em mồ côi,... •
Tôn vinh giá trị gia đình: Tổ chức các phong trào như “Gia đình văn hóa”,
“Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ”,...
CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI VỀ MỐI QUAN HỆ
3.1. Quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng
3.1.1. Khái niệm
• Quan hệ hôn nhân: Là quan hệ giữa nam và nữ sau khi kết hôn. Quan hệ hôn
nhân giữa nam và nữ được xác lập khi tuân thủ các quyền của pháp luật hôn nhân
gia đình về điều kiện kết hôn và phải được đăng kí tại cơ quan đăng kí kết hôn có thẩm quyền.
• Quan hệ vợ chồng: Là mối quan hệ pháp lý và tình cảm giữa hai người sau
khi kết hôn. Họ có quyền và nghĩa vụ chung sống, con cái, tài sản, chung thuỷ và
hỗ trợ lẫn nhau, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quan hệ vợ chồng theo mô hình cũ thường có sự phân công lao động rõ rệt:
Người chồng sẽ là trụ cột trong gia đình, gắng vác các trọng trách về kinh tế trong
khi đó người vợ sẽ ở nhà chăm sóc nhà cửa và con cái.Tuy nhiên với quá trình phát
triển ngày càng hiện đại, quan hệ này đã có nhiều sự biến đổi.
3.1.2. Thực trạng và nguyên nhân biến đổi
Trong xã hội hiện đại, quan niệm về hôn nhân đang dần thay đổi, đặc biệt là
trong giới trẻ. Ngày nay, nhiều bạn trẻ không còn xem việc kết hôn sớm là mục tiêu
bắt buộc, thay vào đó họ lựa chọn sống độc thân hoặc kết hôn muộn như một phong
cách sống. Sự thay đổi này phản ánh lối tư duy mới – đề cao quyền tự do cá nhân,
sự nghiệp và chất lượng cuộc sống. Và khi xu hướng kết hôn thay đổi thì các mối
liên hệ khác buộc phải thay đổi theo như một lẽ tất yếu.
Trước hết là bình đẳng giới, cùng với sự thay đổi xu hướng hôn nhân, mối
quan hệ giữa vợ và chồng cũng dần chuyển biến, trở nên bình đẳng hơn: Người phụ
nữ không còn bị giới hạn trong vai trò là người nội trợ, mà dần tham gia đóng góp
tài chính cho gia đình; ngược lại, người đàn ông cũng ngày càng tích cực hơn trong
vấn đề chăm sóc con cái và chia sẻ công việc nhà.
Bên cạnh đó, áp lực tài chính, công việc là một yếu tố quan trọng góp phần
vào xu hướng kết hôn muộn ở giới trẻ hiện nay. Việc học hành kéo dài, cạnh tranh
trong công việc gay gắt trong khi chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cùng sự phát triển
của xã hội khiến nhiều người trẻ muốn tập trung vào sự nghiệp, ổn định tài chính
trước khi lập gia đình.
Tuy nhiên, sự phát triển của mạng xã hội và công nghệ cũng tác động không
nhỏ đến đời sống hôn nhân. Dù giúp các cặp đôi dễ dàng liên lạc, nhưng nó cũng có
thể gây ra hiểu lầm, ghen tuông và nguy cơ đổ vỡ nếu thiếu sự tin tưởng và kiểm soát.
3.1.3. Tác động
Tích cực: Thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã thúc đẩy vợ chồng trở
nên thấu hiểu nhau hơn, chia sẻ những khó khăn và cùng nhau đồng hành phát triển.
Tạo cơ hội cho vợ chồng phát triển sự nghiệp riêng của mình. Đồng thời pháp luật
cũng tạo điều kiện cho cả hai, giải quyết những mâu thuẫn một cách công bằng, minh bạch.
Tiêu cực: Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hóa, vợ chồng
cũng phải đối mặt với áp lực từ công việc, khó khăn trong việc phân chia thời gian
hợp lý cho gia đình và cả bản thân. Quan hệ hôn nhân trở nên lỏng lẻo, tỉ lệ ly hôn
cũng gia tăng, dẫn tới ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ nhỏ
3.1.4. Biện pháp
Xã hội ngày càng phát triển đi kèm với áp lực cuộc sống ngày càng gia tăng,
đặt gánh nặng lên các gia đình trong việc xây dựng, duy trì hôn nhân hạnh phúc.
Điều này đòi hỏi sự nỗ lực từ cả hai phía – vợ và chồng, không chỉ dừng lại ở sự gắn
bó về mặt tình cảm, một gia đình êm ấm cần được vun đắp bằng sự thấu hiểu, sẻ
chia, công bằng và tôn trọng lẫn nhau
Các cặp vợ chồng cần tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh, nơi cả hai có thể
lắng nghe, chia sẻ những khó khăn, áp lực trong cuộc sống. Việc cùng nhau lập kế
hoạch, định hướng không chỉ rút ngắn khoảng cách giữa vợ chồng mà còn cho thấy
sự đồng điệu về mục tiêu, lối sống. Không chỉ là sự gắn bó chung, một cuộc hôn
nhân hạnh phúc cần sự tôn trọng không gian riêng tư, mỗi người cần rõ ràng trong
cuộc sống cá nhân, các mối quan hệ, tránh hiểu nhầm và tranh cãi giữa vợ chồng.
Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng mạng xã hội, công nghệ cũng cần được chú
trọng. Mỗi cá nhân cần điều chỉnh thời gian dành cho các loại thiết bị điện tử sao
cho cân bằng với thời gian dành cho cuốc sống hôn nhân, tránh làm giảm chất lượng
giao tiếp, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự đóng góp của các chính sách hỗ trợ từ phía
nhà nước trong việc xây dựng gia đình bền vững. Các chính sách an sinh xã hội, hỗ
trợ tài chính cho các cặp vợ chồng trẻ, chính sách nghỉ thai sản, chăm sóc trẻ em,...
góp phần làm giảm áp lực, gánh nặng, tạo điều kiện để mỗi gia đình phát triển ổn định, hạnh phúc.
3.2. Quan hệ giữa các thế hệ, chuẩn mực văn hóa
3.2.1. Quan hệ giữa các thế hệ
3.2.1.1, Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ và con cháu
Gia đình truyền thống Việt Nam từ lâu được biết đến với mô hình nhiều thế hệ
cùng chung sống dưới một mái nhà, tạo ra sự gắn bó, tương trợ chặt chẽ. Trong mô
hình này, ông bà thường giữ vai trò trung tâm, có uy tín và tiếng nói trong các vấn
đề quan trọng. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, sự thay đổi trong các mối quan hệ
đặt ra nhiều vấn đề mới :
Trước hết là sự phổ biến của mô hình gia đình hạt nhân ( nuclear family ). Mô
hình này chỉ thường chỉ gồm hai thế hệ : cha mẹ và con cái do sự biến đổi của điều
kiện sống. Không gian sinh hoạt chật hẹp kết hợp với xu hướng sống độc lập của
giới trẻ, tuy giúp cá nhân tận hưởng không gian riêng, nhưng lại làm giảm sự tương
tác trực tiếp giữa các thế hệ, từ đó ảnh hưởng đến việc truyền đạt các giá trị văn hóa truyền thống.
Thứ hai, uy quyền của các thế hệ lớn tuổi trong gia đình hiện nay không còn
giữ vai trò độc tôn như trước. Thay vì tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ, giới trẻ ngày
nay có xu hướng tự quyết định tương lai của mình – từ định hướng học tập, công
việc đến xu hướng hôn nhân. Điều này phản ánh một xã hội dần đề cao quyền tự do
cá nhân và tư duy độc lập.
Tuy vậy, những thay đổi này cũng kéo theo hệ quả là khoảng cách ngày càng
lớn giữa các thế hệ. Trong khi thế hệ trẻ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ công nghệ,
giáo dục hiện đại, những văn hóa và lối sống phương Tây, thế hệ ông bà, cha mẹ vẫn
giữ nếp sống truyền thống. Sự khác biệt trong nhận thức và tư duy khiến việc thấu
hiểu, chia sẻ giữa các thế hệ trở nên khó khăn, dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống gia đình.
3.2.1.2, Quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Trước kia, mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái mang tính “trên bảo dưới nghe”,
nghiêm khắc và đề cao lễ giáo. Thế nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển của xã
hội và tư tưởng hiện đại, mối quan hệ này đang dần chuyển biến theo hướng mềm
mỏng và bình đẳng hơn. Cha mẹ ngày nay có xu hướng lắng nghe, tôn trọng cá tính,
nguyện vọng và quyền tự chủ của con cái nhiều hơn. Dù đây có thể là một bước tiến
tích cực trong việc nuôi dạy con trẻ nhưng điều này đôi khi cũng tiềm ẩn nhiều bất
cập. Bởi nếu thiếu đi sự cân bằng hợp lý, nó có thể dẫn đến sự buông lỏng trong
quản lý, giáo dục khiến trẻ dễ mất phương hướng.
Bên cạnh đó, cùng với nhịp sống hiện đại,các bậc cha mẹ thường bận rộn công
việc, khiến họ không có đủ thời gian để quan tâm, chăm sóc hay giáo dục con cái.
Sự thiếu vắng này không chỉ tạo ra khoảng cách giữa hai thế hệ, mà còn khiến con
cái rơi vào trạng thái cô đơn, lệ thuộc vào công nghệ nhằm tìm kiếm sự kết nối.Đây
cũng chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng tỉ lệ tội phạm
vị thành niên ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Đồng thời phần nào
phản ánh được những bất ổn và thay đổi trong tâm lí cũng như tính cách của trẻ em hiện nay.
3.2.1.3, Quan hệ giữa anh, chị, em
Nếu như trong quá khứ, mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình thường rất
khăng khít, có sự gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau về cả vật chất lẫn tinh thần, thể
hiện qua việc chia sẻ trách nhiệm với cha mẹ, duy trì và giữ gìn truyền thống gia
đình. Thì trong xã hội hiện đại, khi mỗi người đều bận rộn với sự nghiệp và cuộc
sống riêng, mối quan hệ này càng trở nên xa cách. Lối sống cá nhân hóa khiến sự
gắn kết vốn khăng khít, trở nên lỏng lẻo hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, những tranh
chấp về tài sản, đất đai – nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn – cũng làm rạn nứt
tình cảm anh chị em, làm cho mâu thuẫn càng trở nên gay gắt.
3.2.2. Chuẩn mực văn hóa trong gia đình
3.2.2.1, Chuẩn mực trong hôn nhân và đời sống vợ chồng
Trước đây, hôn nhân truyền thống thường đặt nặng yếu tố môn đăng hộ đối và
phải tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ. Còn ngày nay, hôn nhân dựa trên tình yêu tự
do và sự lựa chọn cá nhân ngày càng trở phổ biến. Con cái đã có thể tự quyết định
chuyện hôn nhân của mình mà không còn bị ép buộc như trước.
Tuổi kết hôn trung bình ngày càng tăng lên, đặc biệt là ở thành phố. Nguyên
nhân chủ yếu là do áp lực về kinh tế và xu hướng muốn ổn định sự nghiệp trước hôn nhân ngày càng cao.
Tình trạng ly hôn cũng gia tăng cho thấy sự thay đổi trong quan niệm và nhận
thức về sự bền vững của hôn nhân. Việc ly hôn không còn bị kỳ thị nặng nề như
trước, đặc biệt ở tầng lớp trí thức và giới trẻ thành thị.
Hiện tượng sống thử trước hôn nhân hoặc không kết hôn trở nên ngày càng
phổ biến hơn, đặc biệt là ở thế hệ trẻ. Điều này dẫn đến một số thay đổi lớn trong
quan niệm về đạo đức và trách nhiệm đối với gia đình.
3.2.2.2, Chuẩn mực về vai trò giới trong gia đình
Trước đây, người đàn ông có vai trò là trụ cột gia đình, còn phụ nữ chủ yếu lo
việc nội trợ và chăm sóc con cái. Tuy nhiên, hiện nay, đặc biệt là ở thành thị, bình
đẳng giới ngày càng được đề cao, phụ nữ cũng có quyền đi làm, có quyền tham gia
vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội ngang với nam giới.
Cùng với đó, nam giới cũng tham gia nhiều hơn vào việc nội trợ và chăm sóc
con cái thay vì mặc định đó là trách nhiệm của phụ nữ như trước đây. Sự thay đổi này
giúp tạo nên sự cân bằng và bình đẳng hơn trong đời sống gia đình, đồng thời giảm
bớt áp lực cho mỗi giới.
Tuy nhiên, ở một số vùng nông thôn, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn
tại dẫn đến sự chênh lệch trong giáo dục và trong cơ hội phát triển của mỗi thành viên trong gia đình. 3.3. Liên hệ
3.3.1. Đối với cá nhân (các thành viên trong gia đình): •
Nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của mình trong mối quan hệ gia đình •
Xây dựng mối quan hệ gia đình dựa trên sự yêu thương, lắng nghe và
thấu hiểu.: Trong xã hội hiện đại, sự bận rộn khiến nhiều người thiếu thời
gian dành cho nhau. Cần chủ động tạo ra những khoảnh khắc gắn kết gia đình. •
Ứng xử văn minh, giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình: Mâu thuẫn là điều
khó tránh, nhưng cần xử lý bằng thái độ tôn trọng, không để phát sinh bạo
lực gia đình hay rạn nứt tình cảm.
3.3.2. Đối với gia đình (với tư cách là một đơn vị xã hội cơ bản): •
Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp: Sự tôn trọng lẫn nhau, đạo
hiếu, tình thân... là những giá trị cốt lõi cần được duy trì, dù xã hội có thay đổi đến đâu. •
Tạo không khí gia đình đầm ấm, dân chủ, bình đẳng: Không áp đặt, gia
trưởng mà khuyến khích các thành viên bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc. •
Chú trọng giáo dục con cái về các mối quan hệ gia đình: Giúp thế hệ trẻ
hiểu và trân trọng các mối quan hệ, thay vì chỉ tập trung vào bản thân hay đời sống cá nhân.
3.3.3. Đối với các tổ chức (như trường học, hội phụ nữ, đoàn thanh niên...):