



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH
MÔN HỌC: KINH TẾ VI MÔ ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH GIÁ CỦA THỊ TRƯỜNG HỒ TIÊU Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2020 - 2023
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Hoài Thu Nhóm : 1 Lớp : K26TCC
Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2024 1
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH
MÔN HỌC: KINH TẾ VI MÔ ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH GIÁ THỊ TRƯỜNG HỒ TIÊU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 - 2023
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Hoài Thu Nhóm : 1 Lớp : K26TCC
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA Họ và tên Mã sinh viên PHẠM THỊ NGỌC MAI 26A4012448
PHẠM THỊ MINH NGỌC 26A4012906 NGUYỄN TRUNG HIẾU 26A4011554 NGUYỄN KIM NGỌC 26A4012904 NGUYỄN ĐỨC LỘC 26A4012438 VŨ HOÀNG NGỌC ÁNH 26A4011072 PHẠM THU AN 26A4011051 PHẠM DIỆU ANH 26A4011067 PHẠM THANH THUÝ 26A4013321
NGUYỄN THỊ NGỌC MAI 26A4012446 HÀ THÀNH CÔNG 26A4011082 HOÀNG MINH NGỌC 26A4012901 ĐINH HUYỀN MY 26A4012459 LÊ VIỆT THẮNG 26A4013315 VŨ HOÀNG QUÂN 26A4012928 PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Giới thiệu:
Tại Việt Nam, trong số các sản phẩm xuất nhập khẩu, hồ tiêu đã rất nổi tiếng
trên thị trường thế giới và chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao. Việt Nam
hiện vươn lên là nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới với 40% sản lượng, xuất khẩu sang 110 quốc gia.
Giai đoạn năm 2020-2023 nhìn chung trên thế giới chịu nhiều biến động, thị
trường hồ tiêu có nhiều thay đổi đáng kể. Năm 2020, mặc dù dịch bệnh Covid-
19 xuất hiện đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới, tác động
lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu tuy vậy xuất khẩu hồ tiêu vẫn rất ổn định, sản
lượng đạt khoảng 285.000 tấn và giá tăng dần. Trong khi đó, thị trường hồ tiêu
trong nước nhìn chung có xu hướng giảm trong quý I/2020 và tăng từ quý
II/2020. Giá tiêu tại Bà Rịa Vũng Tàu giảm 2.5000 đ/kg xuống mức 56.000
đ/kg. Tại Đắc Lắc, Đắc Nông giảm 2.500 đ/kg xuống còn 54.500 đ/kg. Tại
Đồng Nai giảm 3.000 đ/kg xuống 52.000 đ/kg. Tại Gia Lai giảm 3.500 đ/kg
xuống còn 53.000 đ/kg. So với cuối năm 2019, giá tiêu tăng từ 13.000 - 14.000
đồng/kg. Năm 2021, ngành hạt tiêu Việt Nam có sự chuyển dịch mạnh mẽ.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu năm 2021, lượng xuất
khẩu tiêu đen và tiêu trắng giảm về lượng, nhưng lại tăng mạnh về giá trị. Mức
tăng thấp nhất là 1,4% ở Đồng Nai; mức tăng cao nhất là 5,6% tại Gia Lai, lên
khoảng 73.000 – 77.500 đồng/kg. Giá hạt tiêu trắng ở mức 113.000 đồng/kg,
tăng 1.000 đồng/ kg (tăng 0,9%) so với cuối tháng 7/2021 và tăng mạnh so với
66.000 đồng/kg cùng kỳ năm 2020. Cho đến năm 2022, do ảnh hưởng chính
sách "Zero COVID" của Trung Quốc, cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine dẫn
đến lạm phát tăng cao và sự mất giá về đồng tiền so với đồng USD diễn ra tại
nhiều nước. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hồ tiêu của Việt
Nam vào năm 2022 đạt khoảng 228.699 tấn, trị giá 970,6 triệu USD, giảm
12,4% (tương đương 32.269 tấn) về lượng nhưng tăng 3,5% về trị giá so với
năm 2021. Giá xuất khẩu hồ tiêu đạt bình quân 4.244 USD/tấn và tăng hơn 18%
so với năm 2021. Tính đến tháng 12, giá tiêu xuất khẩu chỉ còn bình quân 3.644
USD/tấn, giảm 23,5% so với cùng kỳ năm 2021. Ở trong nước, vào tháng 2,
tăng lên mức 82.500 – 85.000 đồng/kg, sau đó giá tiêu liên tục giảm và xuống
chỉ còn 57.500 – 60.000 đồng/kg vào cuối năm 2022. Hệ quả là giá tiêu đã giảm
từ 27 - 30% trong năm 2022, và đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 3/2021. Năm
2023, theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), Việt Nam đã xuất
khẩu được 264.094 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen khoảng 236.148 tấn và
tiêu trắng là 27.946 tấn. Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen đạt 3.585 USD/tấn,
tiêu trắng đạt 5.091 USD/tấn, so với năm 2022 lần lượt giảm 420 USD và 635
USD. Giá hồ tiêu trung bình nội địa vào đầu năm đạt 57.000 đồng/kg và tăng 3
vào cuối quý I/2023 nhưng không nhiều, cho đến tháng 12 giá tăng mạnh, trung
bình đạt khoảng 81.000 đồng/kg, tăng 42% so với với thời điểm đầu năm.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2020-2023, giá thị trường hồ tiêu Việt Nam đã trải
qua biến động. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới.
2. Lý do lựa chọn đề tài:
Hồ tiêu là một loại cây trồng chủ lực, có tiềm năng kinh tế và ý nghĩa văn hoá
lớn tại Việt Nam. Hiện nay, tổng diện tích trồng hồ tiêu trên cả nước khoảng
hơn 130 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
(khoảng 95% diện tích trồng hồ tiêu cả nước), còn lại trồng rải rác ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Đối với những người dân địa phương, hoạt động trồng hồ tiêu tạo ra các cơ hội
việc làm, tăng thu nhập và phát triển kinh tế tại khu vực đang sinh sống. Đồng
thời, các khu vực sản xuất tiêu cũng là địa điểm du lịch độc đáo thu hút du
khách tham quan, khám phá quy trình sản xuất tiêu và thưởng thức các sản
phẩm liên quan. Từ đó, giúp cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân tại các khu vực nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương,
tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của người dân địa phương.
Ngoài ra, hạt tiêu còn là một loại thực phẩm, gia vị được sử dụng rộng rãi trong
ẩm thực, mang lại hương vị đặc trưng và có lợi ích dinh dưỡng cao, là một sản
phẩm thiết yếu mà đa số người tiêu dùng đều biết và sử dụng. Đồng thời, nó còn
được ứng dụng trong y học như một vị thuốc dân gian.
Với đa dạng công dụng và những ý nghĩa to lớn như vậy đã giúp hồ tiêu trở
thành một trong những cây trồng chủ lực của nước ta, được nhà nước quan tâm,
đầu tư, đưa ra các chính sách hợp lý để phát triển thị trường hồ tiêu cả trong
nước và xuất khẩu ra quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất
và xuất khẩu hồ tiêu (chiếm khoảng 60% tổng sản lượng hồ tiêu được giao dịch
trên toàn thế giới), nổi tiếng với chất lượng cao và giá cả tốt trên thị trường
quốc tế. Tuy nhiên, tại Việt Nam giá của hồ tiêu cũng đang gặp nhiều biến động
và có nhiều sự thay đổi đáng kể.
Hiểu được tầm quan trọng của hồ tiêu đối với người tiêu dùng tại Việt Nam nói
riêng, nhóm quyết định chọn đề tài “Phân tích giá của thị trường hồ tiêu ở Việt
Nam giai đoạn 2020-2023” làm đề tài nghiên cứu. 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Giá hàng hóa thị trường:
1.1. Khái niệm thị trường;
Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng hóa
giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Tại đó, người có nhu cầu về hàng hóa, dịch
vụ sẽ nhận được thứ mà mình cần và ngược lại, người có hàng hóa dịch dịch vụ
sẽ nhận được một số tiền tương ứng. 5
Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi,
mua bán hàng hóa trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử,
kinh tế, xã hội nhất định. 1.2. Giá thị trường:
Giá thị trường là giá hàng hóa, dịch vụ hình thành do các nhân tố chi phối và
vận động của thị trường quyết định tại một thời điểm, địa điểm nhất điểm. 2. Lý thuyết cung cầu: 2.1. Cung:
2.1.1. Khái niệm, thuật ngữ liên quan:
Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán muốn bán tại các mức
giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, giả định các nhân tố khác không thay đổi.
Lượng cung là lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người bán mong
muốn và có khả năng bán tại một mức giá xác định trong 1 thời gian nhất định
với giả định các yếu tố các không đổi. 2.1.2. Đặc trưng:
Cung gồm hai yếu tố cơ bản: khả năng bán và ý muốn sẵn sàng bán.
Ví dụ nếu bạn có sẵn hàng hóa nhưng hiện tại thị trường trả giá quá thấp nên
bạn không muốn bán, khi đó cung trong trường hợp đó bằng 0. Ngược lại có lúc
giá rất cao nhưng bạn không có hàng và trong trường hợp này cung của bạn cũng bằng 0.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung: 2.1.3.1. Chi phí sản xuất
Điều cơ bản để hiểu hành vi của người bán là sản xuất và cung cấp hàng hóa vì
mục tiêu lợi nhuận. Chi phí sản xuất cao hay thấp sẽ quyết định hành vi của họ.
Tại mỗi mức giá, khi chi phí sản xuất giảm, lợi nhuận tăng, các doanh nghiệp có
động lực mở rộng sản xuất, thêm nhiều mẫu mã hàng hóa mới, từ đó cung hàng
hóa tăng lên và ngược lại.
Chi phí sản xuất của một doanh nghiệp có thể do nhiều yếu tố quyết định.
- Giá cả các yếu tố sản xuất (giá cả các yếu tố đầu vào) 6
Để sản xuất ra sản phẩm doanh nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác
nhau như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công...
Nếu giá của một trong các yếu tố đầu vào tăng lên thì chi phí sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm sẽ cao hơn và do đó doanh nghiệp sẽ ít lãi hơn. Trong trường
hợp này doanh nghiệp sẽ phải giảm sản lượng sản xuất.
Ngược lại, nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm xuống thì việc sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ lãi nhiều hơn, sản xuất nhiều sản phẩm hơn.
Như vậy, cung về một mặt hàng hóa có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với giá cả của
cá yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó. - Công nghệ
Công nghệ sản xuất cũng là một yếu tố quan trọng quyết định cung. Nếu bạn sử
dụng công nghệ sản xuất hiện đại thì năng suất lao động sẽ tăng lên, chi phí để
sản xuất một đơn vị sản phẩm sẽ ít đi, chất lượng sẽ cao hơn, bạn sẽ lãi nhiều
hơn và do đó số lượng sản phẩm mà bạn cung ứng ra thị trường sẽ tăng lên.
- Chính sách của chính phủ
Chính sách của chính phủ như thuế, trợ cấp,.. cũng là một yếu tố có ảnh hưởng
đến lượng cung. Khi chính phủ đánh thuế hoặc tăng thuế với một hàng hóa bán
ra sẽ khiến chi phí sản xuất tăng lên, từ đó cung giảm; ngược lại nếu mặt hàng
đó được miễn, giảm thuế với người sản xuất sẽ giúp chi phí giảm, từ đó cung
tăng. Tác động của nó ngược lại với thuế. Khi chính phủ quyết định trợ cấp,
tăng trợ cấp cho người sản xuất hàng hóa, giúp giảm chi phí sản xuất giảm, từ
đó khiến cho cung hàng hóa tăng lên.
2.1.3.2. Giá hàng hóa có liên quan trong sản xuất
Khi doanh nghiệp bán một sản phẩm, cung của sản phẩm còn phụ thuộc vào các
sản phẩm liên quan trong quá trình sản xuất. Do tính chất của quá trình sản xuất,
các hàng hóa được sản xuất ra có thể là mang tính thay thế trong sản xuất hoặc
mang tính bổ sung cho quá trình sản xuất.
Hàng hóa thay thế là hàng hóa sản xuất cùng loại yếu tố đầu vào, thỏa mãn một
nhu cầu. Nếu người sản xuất tập trung dồn nguồn lực sản xuất cho hàng hóa này
thì hàng hóa kia sẽ có ít nguồn lực hơn. Giả sử một nhà máy sản xuất áo thun và
áo sơ mi. Khi giá áo thun giảm, việc sản xuất mặt hàng này sẽ đem lại lợi nhuận
giảm tương đối so với áo sơ mi, từ đó người sản xuất chuyển nguồn lực từ sản
xuất áo thun sang áo sơ mi nhiều hơn, khiến cung áo sơ mi tăng, Ngược lại khi
giá áo thun tăng thì sẽ chú trọng vào sản xuất áo sơ mi nhiều hơn.. 7
Hàng hóa bổ sung trong sản xuất là hàng hóa phái sinh từ quá trình sản xuất
hàng hóa kia. Mối quan hệ giữa giá hàng hóa này và cung hàng hóa kia đồng
biến. Ví dụ khi giá thịt cừu tăng, các hộ chăn nuôi nuôi nhiều cừu hơn để lấy
thịt, từ đó cung về lông cừu sẽ tăng.
2.1.3.3. Kỳ vọng của nhà sản xuất
Lượng sản phẩm mà bạn cung ứng hôm nay cũng có thể bị ảnh hưởng bởi kì
vọng của bạn về tương lai. Chẳng hạn nếu dự kiến giá bán sản phẩm của bạn
trong thời gian tới tăng lên thì bạn sẽ để lại một phần sản phẩm vào kho và hiện
tại lượng sản phẩm cung ứng ra thị trường sẽ ít hơn.
2.1.3.4. Số lượng nhà sản xuất
Số lượng người sản xuất cũng ảnh hưởng tới quy mô thị trường. Thị trường
càng nhiều nhà sản xuất, quy mô càng lớn, cung về hàng hóa càng tăng và ngược lại. 2.2. Cầu:
2.2.1. Khái niệm thuật ngữ liên quan:
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua và có khả
năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
Lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong muốn và có khả
năng mua tại mỗi mức giá xác định trong một giai đoạn nhất định và giả định
rằng các yếu tố khác không đổi…
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu:
2.2.2.1. Thu nhập của người tiêu dùng.
Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cầu trong một thời gian xác định.
Thu nhập của người tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua sắm của người tiêu dùng.
Khi thu nhập tăng lên thì khả năng mua sắm của người tiêu dùng tăng lên và
nhu cầu của họ về hàng hóa cũng tăng lên và ngược lại. Chẳng hạn khi thu nhập
hàng tháng của bạn tăng lên bạn sẽ mua nhiều đồ dùng cá nhân hơn, còn ngược
lại khi bạn bị giảm thu nhập, bạn sẽ chi tiêu ít hơn để mua một số hàng hóa và
cũng có thể là hầu hết hàng hóa.
Những hàng hóa mà có nhu cầu tăng lên khi thu nhập tăng gọi là hàng hóa
thông thường. Vd: sản phẩm organic, nhập khẩu… 8
Còn những hàng hóa có cầu giảm đi khi thu nhập tăng gọi là hàng hóa thứ cấp.
Vd: mì tôm, nước giải khát..
2.2.2.2. Giá cả hàng hóa có liên quan.
Cầu về hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào giá cả của bản thân hàng hóa đó mà
nó còn phụ thuộc vào giá cả của các mặt hàng có liên quan.
Giả sử giá cá giảm đi thì người ta sẽ mua nhiều cá hơn. Đồng thời họ sẽ mua ít
thịt lợn hơn, vì cá và thịt lợn là hai món hàng có thể thỏa mãn được những nhu cầu tương tự nhau.
Khi sự giảm giá của một hàng hóa làm giảm lượng cầu về một hàng hóa khác,
chúng ta gọi chúng là những hàng hóa thay thế.
Hàng hóa thay thế thường là một cặp hàng hóa được sử dụng thay thế cho nhau
và cùng đáp ứng một nhu cầu.
Ví dụ: nước cam và nước nho, áo thun và áo sơ mi, quạt điện và quạt hơi nước..
Ngược lại, khi sự giảm giá của một hàng hóa làng tăng lượng cầu về hàng hóa
khác thì hai hàng hóa đó gọi là hàng hóa bổ sung.
Hàng hóa bổ sung là một cặp hàng hóa được sử dụng cùng nhau để phát huy giá
trị sử dụng của hàng hóa như xăng và ô tô, máy tính và phần mềm...
2.2.2.3. Tâm lý, tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng.
Thị hiếu là sở thích, thói quen hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với từng
loại hàng hóa hay dịch vụ.
Khi bạn thích một loại hàng hóa nào đó thì bạn sẽ mua nó nhiều hơn, chẳng hạn
như bạn thích uống trà sữa thì bạn sẽ mua nó nhiều hơn.
Đối với hàng hóa mà bạn chưa quen dùng thì cầu về loại hàng đó sẽ thấp. Tuy
nhiên việc nghiên cứu thị hiếu là rất phức tạp vì thị hiếu là thứ không thể quan sát trực tiếp được.
Vì vậy, các nhà kinh tế giả định rằng thị hiếu không thay đổi hoặc thay đổi rất
chậm và thị hiếu độc lập với các yếu tố khác của cầu. 2.2.2.4. Kỳ vọng.
Kỳ vọng của bạn về tương lai có thể tác động tới nhu cầu của bạn ở hiện tại. Ví
dụ, nếu bạn dự kiến sẽ kiếm được nhiều tiền hơn trong tương lai thì bạn sẽ có
thể sẵn sàng bỏ một số tiền tiết kiệm ra để mua hàng hóa. Hoặc bạn dự kiến 9
một mặt hàng nào đó sẽ giảm giá trong thời gian tới thì bạn sẽ không mua hàng hóa đó ở hiện tại. 2.2.2.5. Dân số.
Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng cầu về hàng hóa. Khi dân số
tăng lên thì mức nhu cầu về hàng hóa cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên do khả năng
sản xuất cũng như mức thu nhập của người dân, nên quy mô dân số tăng lên thì
cơ cấu của nhu cầu sẽ thay đổi.
Đối với các mặt hàng thiết yếu khi dân số tăng lên thì cầu về hàng hóa đó sẽ
tăng lên ngay cả khi giá hàng hóa đó tăng.
Ví dụ: Cầu về gạo ở Việt Nam sẽ tăng khi dân số tăng lên do gạo là hàng hóa thiết yếu
2.2.2.6. Chính sách của Chính phủ.
Các chính sách của Chính phủ trong từng thời kì có ảnh hưởng đến mức thu
nhập của người tiêu dùng và giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Vì vậy sẽ ảnh
hưởng đến cầu về hàng hóa. Chẳng hạn những mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng
thì Nhà nước đặt mức thuế cao, do đó giá bán sẽ cao, vì vậy cầu giảm hay chính
phủ áp đặt các mức thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng cũng sẽ ảnh
hưởng đến cầu hàng hóa.
3. Cân bằng thị trường:
Cân bằng thị trường là một trạng thái kinh tế khi đường cung và đường cầu giao
nhau và các doanh nghiệp sản xuất chính xác lượng hàng hóa và dịch vụ mà
người tiêu dùng sẵn sàng và có thể mua, tiêu thụ.
Thị trường được gọi là cân bằng nếu ở mức giá thị trường lượng cầu bằng lượng
cung. Tại đó mức giá gọi là giá cân bằng hoặc giá cân bằng thị trường, và lượng
tương ứng là lượng cân bằng.
Trong thị trường, người bán cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ trao đổi với
những người mua không sở hữu hàng hóa hoặc muốn mua nó. Với mỗi mức giá,
người bán quyết định số lượng đơn vị họ muốn cung cấp hoặc cung cấp ở mức
giá này và người mua quyết định số lượng đơn vị họ muốn mua hoặc yêu cầu.
Lượng cung sẽ càng cao khi giá thị trường của hàng hóa càng cao, trong khi
lượng cầu sẽ càng thấp khi giá thị trường của hàng hóa đó càng cao.
Ở mức giá mà lượng cầu bằng lượng cung, thị trường ở trạng thái cân bằng. Ở
trạng thái cân bằng, không có người mua nào muốn mua hàng hóa nhưng không
tìm được người bán và không có người bán nào muốn bán hàng hóa nhưng
không tìm được người mua. Điều này có nghĩa là ở mức giá cân bằng, người 10
bán có thể bán chính xác số lượng họ muốn bán ở mức giá này và người mua có
thể mua chính xác số lượng họ muốn mua ở mức giá này. Nếu chúng ta biết
cung và cầu ở một thị trường cụ thể, chúng ta có thể dễ dàng tìm được điểm cân
bằng thị trường bằng cách tìm mức giá mà tại đó lượng cầu bằng lượng cung.
Giả sử trên thị trường kem, nhu cầu thị trường được cho bởi hàm cầu tuyến tính
qD = 10 - p và cung thị trường bằng qS = 2p - 2. Ở trạng thái cân bằng số lượng
kem mà người bán muốn bán phải bằng số lượng kem mà người mua muốn
mua, tức là lượng cung phải bằng lượng cầu, hoặc qD = qS. Đối với hàm cung
và cầu trong ví dụ này ta sẽ có phương trình: 10 - p = 2p - 2.
Giải p* ra kết quả p* = 4. Để tìm số lượng tương ứng, chúng ta thay p* vào
hàm cung hoặc hàm cầu và thu được q* = 6. , trong thị trường bút chì của chúng
ta, giá cân bằng bằng 4, và ở mức giá này số lượng trao đổi bằng 6 đơn vị.
Kết quả này cũng được thể hiện trong biểu đồ bên dưới. Điểm cân bằng thị
trường trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo tương ứng với điểm giao nhau của
đường cung và đường cầu. Trên trục x, chúng ta có số lượng q của hàng hóa
hoặc dịch vụ và trên trục y là giá p của hàng hóa. Đường màu xanh biểu thị
đường cầu và thể hiện lượng cầu ở mỗi mức giá (đối với đồ thị bên dưới, hàm
cầu giống như trong ví dụ qD = 10 - p). Đường màu xanh biểu thị đường cung
(cũng được lấy từ ví dụ trên qS = 2p - 2) và hiển thị lượng cung ở mỗi mức giá.
Tại mức giá cân bằng p* = 4, lượng cầu bằng lượng cung (qD = qS = q* = 6).
Thị trường cân bằng cạnh tranh
Cân bằng thị trường còn được gọi là cân bằng cạnh tranh vì nó mô tả sự phân bổ
hàng hóa và dịch vụ trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Trong một thị trường
cạnh tranh nơi người mua và người bán là người chấp nhận giá, giá cân bằng
(và do đó doanh thu cận biên) sẽ bằng chi phí biên và mỗi hãng tạo ra lợi nhuận bằng 0.
Dư thừa và thiếu hụt trên thị trường
Nếu giá thị trường không bằng giá cân bằng thì lượng cầu không bằng lượng
cung. Nếu giá thị trường quá cao ( cao hơn giá cân bằng), nhiều người bán
muốn bán nhưng có ít người muốn mua. Điều này có nghĩa là lượng cung vượt
quá lượng cầu - tình trạng này gọi là cung vượt cầu. Quay lại ví dụ của chúng
ta: ở mức giá p = 6 mỗi cây kem, số lượng người bán muốn bán bằng 2(6) - 2 =
10, trong khi lượng cầu bằng 4 và có lượng cung vượt quá 10 - 4 = 6 đơn vị.
Vậy điều gì sẽ xảy ra ? Có nhiều người bán muốn bán với giá thị trường là 6
nhưng không có người mua. Một số người trong số họ sẽ bắt đầu giảm giá để có 11
thể bán được, vì thà họ bán với giá 5 còn hơn là không bán được. Người bán sẽ
tiếp tục hạ giá cho đến khi giá thị trường đạt mức 4, mức giá cân bằng. Tại thời
điểm này, người bán không có động cơ để giảm giá thêm nữa, vì ở mức giá 4,
họ có thể bán chính xác số lượng đơn vị mà họ muốn bán ở mức giá này.
Ngược lại, nếu giá thị trường quá thấp, nhiều người mua sẽ quan tâm đến việc
mua hàng hóa nhưng ít người bán muốn bán hàng hóa đó. Điều này hàm ý rằng
lượng cầu vượt quá lượng cung và chúng ta gọi tình trạng này là vượt cầu.
Chúng ta có thể minh họa tình huống này bằng cách sử dụng các phương trình
cung và cầu mẫu của chúng ta. Nếu giá thị trường bằng 2 thì lượng cầu bằng 8,
nhưng lượng cung chỉ bằng 2.
Giá thấp đến mức người bán bán nhiều hơn 2 chiếc sẽ không có lãi. Điều này
hàm ý rằng một số khách hàng muốn mua hàng thì không thể mua được vì
không có người bán nào muốn bán cho họ theo giá thị trường. Do đó, người bán
biết rằng có đủ lãi cho hàng hóa của mình nên sẽ tăng giá cho đến khi giá thị
trường đạt đến mức giá cân bằng. Ở trạng thái cân bằng, sẽ không còn tình trạng dư cung hay dư cầu.
Bất cứ khi nào thị trường không ở trạng thái cân bằng, do giá thị trường quá cao
hoặc quá thấp, luật cung và cầu sẽ khiến giá điều chỉnh và giá thị trường sẽ trở về mức giá cân bằng.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG GIÁ CỦA THỊ TRƯỜNG HỒ
TIÊU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2023 12
1. Phân tích biến động giá trong năm 2020-2021:
1.1. Biến động giá trong năm 2020
Năm 2020 khép lại với nhiều ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế- xã hội chính trị,...
sự tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố như thiên tai, vấn đề chính trị, đặc biệt là
đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Theo TS.Nguyễn Thị Hương từng trả lời trong một bài báo: “Có thể thấy rõ,
kinh tế - xã hội năm 2020 ở nước ta diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô
hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh và diễn
biến khó lường trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt
kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Các nền kinh tế lớn đối mặt với
tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, trong
những tháng cuối năm, khi phần lớn các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa
do dịch Covid-19, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả
quan hơn. Thương mại toàn cầu, giá cả hàng hóa đang dần được phục hồi, thị
trường chứng khoán toàn cầu tăng mạnh trong tháng 11 và tháng 12 nhờ tín hiệu
tích cực từ sản xuất và hiệu quả của vắc-xin phòng Covid-19.”
Và cũng trong năm 2020, giữa lúc tình hình dịch bệnh căng thẳng, tình hồ giá
hồ tiêu tại Việt Nam trong giai đoạn này cũng đã có sự biến đổi theo đó.
Trong 3 tháng đầu năm 2020, giá tiêu tại Việt Nam vẫn luôn đi ngang, tức nó sẽ
chỉ giao động trong khoảng 36.000-40.000/kg. Đây được coi là mức giá thấp so
với giá thành sản xuất. Trong tháng 1-2020, giá tiêu ở Tây Nguyên và miền
Nam không đổi luôn dao động trong khoảng 39.000-41.500/kg. Sang tháng 2,
giá tiêu lại giảm còn 36.000-38.500/kg, trong đó cao nhất là tại Bà Rịa-Vũng
Tàu và thấp nhất tại Đồng Nai. Đến tháng 3 tình trạng giá tiêu vẫn tiếp tục không đổi. 13
(Ảnh 1: Giá tiêu theo khu vực)
Trước tình hình dịch bệnh bùng phát ngày càng nghiêm trọng, nhiều hoạt động
kinh tế bị ngưng trệ, người dân bị cách li tập thể, cách ly tại nhà,... các nhà
hàng, khách sạn tạm thời đóng cửa ngừng hoạt động dẫn đến nhu cầu tiêu thụ
hồ tiêu của thị trường trong nước giảm đi đáng kể.
Bên cạnh đó việc kinh doanh thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu ra thị
trường quốc tế cũng bị giảm sút. Đặc biệt là việc xuất khẩu hồ tiêu ra thị trường
các nước. Trong khi đó sản lượng tiêu quý 1 năm 2020 theo tổng cục thống kê
ghi nhận có tăng 2%. Lượng cung hồ tiêu tăng trong khi cầu về tiêu đang giảm
khiến cho giá hồ tiêu trong nước bị giảm . Diện tích trồng hồ tiêu tại Việt Nam
bị thu hẹp và thời tiết không thuận lợi trong nước đã làm ảnh hưởng đến năng
suất , tuy nhiên lượng cung ra thị trường vẫn luôn cao. Ví dụ tại các tỉnh ở Tây
Nguyên- nơi có diện tích trồng hồ tiêu lớn trên cả nước. đây cũng là nơi xuất
khẩu tiêu chủ yếu ở nước ta. Tuy nhiên tính đến cuối tháng 3 năm 2020 chất
lượng hồ tiêu trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn thấp, việc ứng dụng
khoa học công nghệ vào trong chế biến và sản xuất còn gặp nhiều hạn chế. Quy
mô sản xuất còn nhỏ, năng lực nội tại còn yếu và sự liên kết giữa các nông dân,
các hợp tác xã, các doanh nghiệp còn lỏng lẻo nên chưa đạt được hiệu quả kinh
tế cao. Chính vì vậy nên khi bán ra giá thành hồ tiêu sẽ không cao, nhu cầu tiêu thụ hồ tiêu không cao.
Áp lực dư cung nhưng cầu về hồ tiêu có dấu hiệu giảm làm cho giá hồ tiêu trên
thị trường giảm xuống. 14
Ban đầu điểm cân bằng đang ở E0 (Q0;P0), sau đó khi sản lượng tên, đồng thời
cung tăng lên nhiều hơn cầu giảm đi làm cho giá giảm từ P0 xuống P1, điểm
cân bằng mơ điểm E1 (Q1;P1)
(Ảnh 2: Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa giá và sản lượng hồ tiêu)
Sang quý 2 năm 2020 là khoảng thời gian chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh
Covid -19, vì vậy giá hồ tiêu trong nước ít nhiều cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Đến
tháng 4/2020, giá tiêu trong nước tiếp tục giảm xuống, hầu hết tại các khu vực
trồng tiêu lớn của cả nước đều có mức giá tiêu dao động từ 34.000-37.000/kg
còn thấp hơn so với 3 tháng đầu năm. Theo báo cáo thống kê sản lượng hồ tiêu
tính đến quý 2 năm 2020 đạt 266 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm
ngoái. Trong khi đó do tình hình dịch bệnh căng thẳng nên việc xuất khẩu tiêu
sang các nước gặp nhiều khó khăn ví dụ như việc Hàn Quốc giảm nhập khẩu hạt
tiêu từ một số nguồn cung như: Việt Nam, Ấn Độ, Mỹ, nhưng tăng nhập khẩu
từ các nguồn cung Brazil, Nhật Bản, Malaysia, Ý, Sri Lanka. Điều này làm cho
tại thị trường Việt Nam, cung hồ tiêu bị dư thừa trong khi cầu thị trường giảm
xuống, như vậy việc giá hồ tiêu trong thời gian này bị giảm sút là điều khó tránh khỏi.
Sang tháng 5 và tháng 6/2020, giá tiêu trên thị trường bắt đầu có dấu hiệu khởi
sắc. Từ giữa tháng 5 giá tiêu bắt đầu tăng, đến cuối tháng 5/2020 theo ghi nhận 15
giá tiêu tại Tây Nguyên và Miền Nam tăng sốc, giá tiêu tăng thêm 10.000/kg và
vượt mốc 60.000/kg. Tính đến thời điểm trên toàn miền ghi nhận mức giá tiêu
giao động từ 57.000-60.000/kg. Giá hạt tiêu tăng mạnh 26,6% so với nửa đầu
tháng 5/2020 do nhu cầu nhập khẩu bắt đầu trở lại tại một số thị trường như
châu Âu, Mỹ, Trung Quốc… sau một thời gian tạm ngưng do dịch Covid-19.
Ngoài ra, nhiều nhà đầu cơ đã tích cực mua vào khi giá hạt tiêu ở mức đáy,
cũng góp phần khiến giá hạt tiêu tăng lên. Đến cuối tháng 6 năm 2020, giá tiêu
biến động không ổn định, lúc giá tiêu thế giới đi ngang thì giá tiêu tại một số
tỉnh trong nước lại tăng nhẹ, khoảng thời gian cuối tháng 6 khi giá tiêu thế ưới
có dấu hiệu tăng nhẹ thì giá tiêu tại Việt Nam lại đi ngang. Tuy nhiên xét về
tổng thể quý 2/2020 giá tiêu tại Việt Nam đang đi lên và có dấu hiệu tăng.
(Ảnh 3: Diễn biến giá tiêu trong tháng 5) 16
(Ảnh 4: Biến động giá tiêu đen của Việt Nam giai đoạn 2017-2021)
Giá tiêu tại tháng 5 và tháng 6 tăng lên là do tại Trung Quốc lệnh giãn cách xã
hội đang được nới lỏng, do đó nhu cầu về tiêu tăng lên. Bên cạnh đó, thời điểm
sau Tết nguyên đán, một số doanh nghiệp kí hợp đồng bán tiêu giao trong thời
điểm tháng 5, do đó nguồn cung về tiêu hiện tại bị thiếu vì vậy mà giá tiêu đang
được đẩy lên cao. Theo Bộ Công Thương, nhu cầu thu mua hạt tiêu của các
doanh nghiệp tăng mạnh, trong khi người dân hạn chế bán ra khiến giá tiêu
tăng. Xu hướng này dự báo đang còn tiếp diễn bởi việc xuất khẩu tiêu sang thị
trường Trung Quốc đang ổn định.
Không những vậy mà người dân khi thấy tình hình giá tiêu đang tăng thì họ kỳ
vọng của họ về giá tiêu tiếp tục tăng trong tương lai, chính vì vậy họ gom tiêu
và hạn chế bán ra để chờ giá tiêu trên thị trường tiếp tục tăng lên. Điều này
khiến nguồn cung ở các doanh nghiệp đã thấp nay lại còn khan hiếm hơn.
Sang tháng 7, giá tiêu có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ. Theo ghi nhận của
thị trường trong nước, tại các tỉnh/huyện trọng điểm ngành hồ tiêu, giá hồ tiêu
ngày 9/7/2020 giao động trong khoảng 47.000-50.500đ/kg, giảm từ 500-1.000đ
so với phiên giao dịch tháng trước, từ 48.500-52.000đ/kg.
Tháng 8 và tháng 9, giá tiêu có xu hướng tăng nhẹ và đi ngang. Theo khảo sát
ngày 3/8/2020, giá tiêu ít giao động, ở mức 45.000-48.000đ/kg. Cụ thể tại Đắk 17
Lắk, Đắk Nông giá tiêu hôm nay hiện được thu mua với mức 46.500 đồng/kg.
Tại tỉnh Gia Lai, Đồng Nai giá tiêu hôm nay giữ ở mức 45.000 đồng/kg. Tại
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giá tiêu hôm nay được thu mua 48.000 đồng/kg, đây là
địa phương có giá cao nhất toàn miền. Còn tại tỉnh Bình Phước giá tiêu hôm nay
không thay đổi vẫn được thu mua với mức 47.000 đồng/kg.
Có thể thấy, so với mức biến động giá cao nhất của quý II/2020 là 57.000-
60.000đ/kg thì ở quý III, giá thị trường hồ tiêu có phần ảm đạm và ít biến động
hơn, có xu hướng giảm nhẹ xuống mức 47.000-49.000đ/kg.
(Ảnh 5: Biến động giá hồ tiêu quý III/2020)
Sự biến động của giá hồ tiêu trong giai đoạn này là do thị trường hồ tiêu bị tác
động bởi một số nguyên nhân. Thứ nhất là do sự ảnh hưởng của Covid-19 đến
nền kinh tế của toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Các nước trên thế giới hầu hết
đều giảm nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, điều này làm cho xuất khẩu hồ tiêu bị giảm
và bên cạnh đó nhu cầu sử dụng tiêu của thế giới cũng có ảnh hưởng đến nhu
cầu của người dân Việt Nam. Hồ tiêu không thể xuất khẩu làm cho lượng cung
hồ tiêu trong nước tăng lên, trong khí đó lượng cầu trong nước gần như không
có quá nhiều biến đổi, điều này phần nào đã làm giảm giá tiêu tại thị trường trong nước.
Thứ hai là việc khí hậu trên toàn cầu đang ngày càng nóng lên tác động tiêu cực
đến việc chăm sóc và chất lượng của nhiều loại cây trồng trong đó có hồ tiêu.
Trước sự tác động ngày càng phức tạp của El Nino, hạn hán ngay từ đầu năm đã
khiến 400 ha cây hồ tiêu bị vàng lá, bộ rễ bị tổn thương, làm sụt giảm chất
lượng của cây hồ tiêu đi khá nhiều. 18
Bên cạnh đó, giá hồ tiêu giảm sút khiến cho người dân không còn hứng thú với
việc canh tác, thay vào đó họ muốn tìm loại cây trồng ít năm nhưng lợi nhuận
thu về cao hơn so với cây trồng lâu năm. Vì vậy mà tình trạng sâu bệnh, khô
nóng ngày càng phát triển làm giảm năng suất và giảm sự cạnh tranh trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Trong 3 tháng cuối năm 2020, giá hồ tiêu có dấu hiệu hồi phục nhiều bởi nhiều
nền kinh tế lớn đã mở cửa hoạt động trở lại, nhiều doanh nghiệp trong nước
tăng cường mua tích trữ nhân lúc giá tiêu thấp, từ đó đưa cung - cầu trở về vị trí cân bằng
Trong tháng 10, giá tiêu được ghi nhận tăng trưởng ở mức ổn định, giao động
khoảng 49.000-51.500đ/kg. So với những ngày đầu tháng 9, tại Đắk Lắk, Đắk
Nông tăng 3.000đ/kg, giá tiêu tăng 3.500đ/kg tại Bình Phước, Gia Lai. Mức
tăng cao nhất được ghi nhận là ở Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai, lên tới 4.000đ/kg.
Khoảng thời gian này, hoạt động thu mua hồ tiêu tại Ấn Độ bắt đầu tăng trở lại
do các hoạt động kinh tế đang dần được phục hồi, mùa lễ hội ở Ấn Độ cũng sắp
tới nên đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ mặt hàng hồ tiêu cao hơn trước.
Trong 2 tháng 11 và 12, giá hồ tiêu tiếp tục tăng ở mức từ 57.000đ đến 60.000đ.
Tháng 11, theo thông tin được cập nhật, giá hồ tiêu có tăng so với tháng trước
và tiếp tục đi ngang tại các địa phương, mức thu mua cao nhất là 57.500đ tại Bà
Rịa-Vũng Tàu, theo sau đó là Bình Phước với giá 56.500đ. Tháng 12 ghi nhận
mức biến động giá không nhiều, ví dụ như ở Bà Rịa-Vũng Tàu là 57.000đ/kg,
giảm 500 đ; ở Bình Phước là 56.000. 19
(Ảnh 6: Biến động giá hồ tiêu quý IV/2020)
Sự tác động của thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 5, số 6 đã gây thiệt hại nặng nề
cho các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm, làm giảm sản lượng thu hoạch năm 2020
xuống 15-20% so với năm 2019. Diện tích đất canh tác vốn đã bị giảm từ trước
đó. Vì vậy mà cung hồ tiêu trên thị trường bị giảm đi làm tác động đến giá hồ tiêu tăng.
Ngoài ra, việc các quốc gia trên thế giới và các doanh nghiệp bắt đầu mở rộng
và nới lỏng các chính sách, hoạt động thương mại, kinh tế-xã hội dần được hồi
phục trở lại. Nhu cầu sử dụng hồ tiêu trong và ngoài nước tăng lên so với cùng
kỳ năm ngoái, điều này làm tăng cầu hồ tiêu trong khi cung hồ tiêu bị giảm, làm
cho giá bị đẩy lên cao.Theo thông tin của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, xuất
khẩu hồ tiêu trong tháng 11/2020 đạt 22.930 tấn hạt tiêu các loại, tăng 1.272
tấn, tức tăng 5,87 % so với tháng trước và tăng 5.937 tấn, tức tăng mạnh tới
34,94% so với cùng kỳ năm trước.
Ban đầu thị trường hồ tiêu đang ở mức cân bằng E0 (Q0;P0), sau đó khi sản
lượng bị giảm, cầu tăng lên không nhiều hơn cung giảm đi. Điều này làm giá hồ
tiêu tăng từ P0 lên P1 và cân bằng thị trường đại tại điểm E1 (Q1;P1). (Ảnh 7: Biểu đồ) 20