



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG KFC TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2020-2023 (TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID 19) NHÓM 3 ĐẶT VẤN ĐỀ.
Ngành công nghiệp đồ ăn nhanh đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam nói
riêng và trên toàn thế giới nói chung, KFC là một trong những thương hiệu hàng
đầu trong lĩnh vực này. Do đó, nghiên cứu về diễn biến thị trường đồ ăn nhanh, đặc
biệt là KFC, sẽ cung cấp thông tin quan trọng về xu hướng và cơ hội kinh doanh
trong ngành này. Thêm vào đó, tại Việt Nam, KFC đang hoạt động trong một môi
trường cạnh tranh khốc liệt với nhiều đối thủ như McDonald's, Burger King và
Subway. Nghiên cứu về diễn biến thị trường sẽ là cơ hội tìm hiểu về cách KFC đối
phó và xây dựng lợi thế cạnh tranh của mình. Ngoài ra, xu hướng ẩm thực và yêu
cầu của người Việt đang thay đổi liên tục, nghiên cứu về diễn biến thị trường của
KFC tại Việt Nam có thể cung cấp thông tin về việc thích ứng với sự thay đổi này
và cung cấp các gợi ý về cách cải thiện sản phẩm và dịch vụ của KFC. Hơn nữa,
KFC là một thương hiệu quốc tế có tầm ảnh hưởng đáng kể trong nền kinh tế.
Nghiên cứu về diễn biến thị trường KFC có thể cung cấp thông tin về tác động của
công ty này đối với nền kinh tế địa phương và quốc gia, bao gồm cả việc tạo r a
việc làm và đóng góp thuế. Do đó, nhóm quyết định chọn đề tài: “Phân tích diễn
biến thị trường đồ ăn nhanh KFC tại Việt Nam giai đoạn 2020-2023 (trong và sau
đại dịch Covid 19)”.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. I. Cung - Cầu. 1. Cầu.
1.1 . Một số khái niệm.
Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng
muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau t rong
khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không
đổi. Hai yếu tố hợp thành cầu đó là ý muốn mua hàng (hay còn
gọi là nhu cầu) và khả năng mua (thể hiện thu nhập mà người
mua có). Thiếu một trong hai điều kiện thì cầu không hình thành.
Lượng cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêu
dùng muốn mua và có khả năng mua tại một mức giá cụ thể
trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố
khác không đổi. Lượng cầu chỉ có ý nghĩa khi gắn với một mức
giá cụ thể trong khi cầu mô tả hành vi mua sắm của người tiêu
dùng tương ứng với mỗi mức giá khác nhau.
Cầu cá nhân là cầu của từng người mua đối với một loại hàng hóa.
Cầu thị trường là tổng số lượng hàng hóa mà tất cả người mua
muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nha u trong
một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi.
1.2 . Các phương pháp biểu diễn cầu.
Biểu cầu: Là sự mô tả bằng bảng, có thể là bảng dọc (ngang),
trong đó có một cột (hàng) thể hiện mức giá (P), cột (hàng) còn
lại biểu thị lượng cầu (Qd). Giá cả Qd (chiếc/tuần) (1.000 đ/chiếc ) NTD thứ NTD thứ … NTD thứ 1 Thị nhất hai triệu trường 120 4 4 … 4 triệu 160 3 3 … 3 t riệu
Đường cầu: Đường cầu dốc xuống từ trái qua phải hay cò gọi là
đường cầu có độ dốc âm, biểu thị mối quan hệ nghịch biến giữa các
mức giá và lượng cầu. Hàm cầu.
Hàm cầu là sự mô tả cầu bằng hàm số.
Khi có yếu tố giá ảnh hưởng tới lượng cầu, giữa mức giá
và lượng cầu có mối quan hệ tuyến tính thì một hàm cầu
đơn giản thường được sử dụng là: Qd = aP + b (a<0).
Pd = cQ + d ( c<0).
( Trong đó, a và c âm vì giữ mức giá và lượng cầu có mối quan hệ nghịch biến).
Thực tế, ngoài giá, lượng cầu còn chịu tác động bởi yếu
tố khác. Do đó hàm cầu tổng quát có dạng:
Qd = f(Px, Py, I,T, N,E).
Trong đó, Px: Giá hàng hóa nghiên cứu, Py: Giá hàng hóa liên
quan, I: Thu nhập, T: Thị hiếu, E: Kỳ vọng của người mua, N: Số lượng người mua. 1.3 . Luật cầu.
Luật cầu được phát biểu như sau: Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi giá một hàng hóa khác tăng lên, lượng cầu về
hàng hóa đó sẽ giảm xuống và ngược lại.
1.4 . Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu.
Hàng hóa liên quan: Sự thay đổi của giá hàng hàng hóa liên quan
làm tăng hoặc giảm cầu với hàng hóa nghiên cứu, tùy vào đó
là hàng hóa thay thế hay hàng hóa bổ sung.
Thu nhập: Khi thu nhập tăng, cầu đối với hầu hết các hàng hóa
đều tăng, những hàng hóa này được gọi là hàng hóa thông
thường. Khi thu nhập tăng đến một mức độ nhất định thì cầu sẽ
giảm, hàng hóa này được gọi là hàng hóa thứ cấp.
Thị hiếu: Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, cầu đối với
một số loại hàng hóa/dịch vụ cũng thay đổi theo. Nếu người
tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm, cầu hàng hóa tăng lên và ngược lại.
Kỳ vọng của người tiêu dùng: Những kỳ vọng về biến động trong
tương lai của những yếu tố tác động đến cầu có thể làm tăng
hoặc giảm cầu của người tiêu dùng trong hiện tại. Những gì mà
người tiêu dùng kỳ vọng có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong
tương lai nhưng chắc chắn nó ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của con người.
Số lượng người tiêu dùng: Số lượng người tiêu dùng trên thị
trường và cầu có quan hệ thuận chiều với nhau. Số lượng người
tiêu dùng ngày càng nhiều cầu về hàng hóa càng tăng. Điều này
đúng khi so sánh cầu về hàng hóa ở hai phân khúc với thị
trường số lượng người tiêu dùng khác nhau và tại một thị
trường nhưng ở hai thời điểm khác nhau.
1.5. Phân biệt sự di chuyển và dịch chuyển của đường cầu
1.5.1. Di chuyển dọc theo đường cầu.
Sự thay đổi của giá hàng hóa nghiên cứu dẫn đến sự thay đổi
của lượng cầu, gây ra sự di chuyển dọc theo đường cầu.
1.5.2. Sự dịch chuyển đường cầu.
Sự thay đổi các yếu tố ngoài giá của hàng hóa đang đang xét
cho cầu về hàng hóa đó thay đổi, dẫn đến sự dịch chuyển đường cầu.
Cầu tăng: Đường cầu dịch lên trên (sang phải).
Cầu giảm: Đường cầu dịch xuống dưới (sang trái).
Sự dịch chuyển dọc theo đường cầu phản ánh sự thay đổi của
lượng cầu khi giá của chính hàng hóa đó thay đổi. Còn sự dịch chuyển
đường cầu phản ánh sự thay đổi của cầu khi một hoặc nhiều nhân t ố ngoài giá thay đổi. 2. Cung.
2.1 . Một số khái niệm.
Cung là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán muốn bán
và có khả năng bán ở các mức giá khác nha u trong một khoảng
thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi.
Lượng cung là số lượng hàng hóa mà người bán muốn bán và
có khả năng bán ở một mức giá nhất địn t h rong một khoảng
thời gian nào đó, với giả định các yếu tố khác không đổi.
Cung cá nhân là cung của từng người bán đối với một loại hàng
hóa. Tổng tất cả các cung cá nhân đối với hàng hóa được gọi là cung thị trường.
Cung thị trường là tổng số lượng hàng hóa mà tất cả người bán
muốn bán và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong
một khoảng thời gian nhất định, giả định các yếu tố khác không đổi.
2.2 . Các phương pháp biểu diễn cung.
Biểu cung là mô tả cung bằng bảng dọc (ngang), trong đó một
cột (hàng) thể hiện mức giá (P), cột hàng còn lại biểu thị lượng cung (Q). Giá cả Qs (chiếc/tuần) (1.000 đ/chiếc )
DN thứ nhất DN thứ hai … DN thứ 100 Thị trường 120 20000 20000 … 2 triệu 160 30000 30000 … 3 triệu
Hàm cung là sự mô tả cung bằng hàm số.
Khi có một yếu tố là mức giá hàng hóa nghiên cứu ảnh
hưởng đến lượng cung, thì hàm cung giản đơn có dạng tuyến tính như sau: Qs = eP + f (e>0) Ps = hQ + k (h>0).
( Trong đó, e và h dương vì giữa mức giá và lượng cung có mối quan hệ đồng biến).
Thực tế, hàm cung tổng quát có dạng: Qs = f(xi).
( Trong đó, xi là các yếu tố quyết định cung (giá hàng hóa
nghiên cứu, trình độ công nghệ, giá yếu tố sản xuất,...)).
Đường cung là sự mô tả hay biểu diễn cung bằng đồ thị. Đường
cung dốc lên từ trái qua phải (kí hiệu là S) biểu thị mối quan hệ
đồng biến giữ giá và lượng cung. 2.3 . Luật cung.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi giá hàng hóa
tăng lên, lượng cung hàng hóa cũng tăng lên và ngược lại. Luật cung
chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa mức giá và lượng cung.
2.4 . Các yếu tố ảnh hưởng đến cung.
Chi phí sản xuất sản xuất của một doanh nghiệp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố quyết định như: Giá của các yếu tố sản xuất (tiền
lương công nhân, giá nguyên liệu), Công nghệ, Các chính sách
của Chính phủ (chính sách trợ cấp, thuế).
Giá hàng hóa có liên quan trong sản xuất: Do tính chất quá trình
sản xuất, hàng hóa được sản xuất ra có thể mang tính thay thế hoặc bổ sung.
Kỳ vọng của người sản xuất: Nếu kỳ vọng về thị trường trong
tương lai thuận lợi thì cung hiện tại sẽ giảm và ngược lại .
Số lượng người sản xuất: Càng nhiều người sản xuất, quy mô
càng lớn thì cung về sản phẩm càng tăng và ngược lại.
3. Sự kết hợp của cung và cầu.
3.1 . Cân bằng thị trường.
Trạng thái cân bằng thị trường là trạng thái mà tại đó, lượng cầu
bằng lượng cung. Khi mô tả trên đồ thị, điểm cân bằng thị
trường là điểm cắt nhau của đường cầu và đường cung.
Trạng thái dư thừa là trạng thái mà tại đó lượng cung vượt quá
lượng cầu, xuất hiện khi mức giá trên thị trường cao hơn mức
giá cân bằng. Người tiêu dùng mua ít hơn, người bán cung ra
thị trường nhiều hơn trạng thái cân bằng.
Trạng thái thiếu hụt là trạng thái lượng cầu vượt quá lượng
cung. Giá thấp hơn cân bằng là nguyên nhân gây ra tình trạng này.
3.2 . Sự thay đổi trạng thái cân bằng thị trường.
Đường cầu dịch chuyển: Do sự tác động của bất kỳ các yếu tố
nào khác ngoài giá, sẽ làm đường cầu dịch phải, khi cầu tăng,
cung không đổi, giá và sản lượng cân bằng tăng lên.
Do đường cung dịch chuyển: Khi cung tăng vì một lý do nào đó
ngoài giá, khiến đường cung dịch phải, mà cầu và mức giá
không kịp thay đổi, dẫn đến dư cung hàng hóa, làm giá giảm
khiến cầu hàng hóa tăng lên, lượng cung giảm đi, làm giá gi ảm, sản lượng tăng.
Do đường cung và đường cầu: Khi đường cung và đường cầu
đồng thời dịch chuyển thì có thể xảy ra các khả năng sau: ( i)
cầu tăng (đường cầu dịch phải), cung tăng (đường cung dịch
phải). Sự dịch chuyển của đường cầu và đường cung và mức độ
tăng giảm của cung và cầu đều tác động tới trạng thái cân bằng mới.
CHƯƠNG II: CÁCH THỨC TRA CỨU, THU THẬP THÔNG TIN, DỮ LIỆU.
Tổng quát: Mọi thông tin và số liệu trong bài báo cáo đều được tham khảo,
chắt lọc, sử dụng đồng thời phương pháp phân tích tổng hợp (áp dụng trong mở
đầu, kết luận), phương pháp so sánh (áp dụng trong các bảng, biểu đồ, …), phương
pháp liệt kê (áp dụng trong việc trích dẫn số liệu, thành phần kinh tế, mang tính
tương đồng, …) và phương pháp dùng số liệu (áp dụng trong việc thu thập con số
tương ứng với mỗi dữ liệu cụ thể giúp minh họa rõ hơn sự biến động, khách quan
và cụ thể). Từ đó, phân tích dữ liệu, lập bảng excel cho ra biểu đồ phù hợp như thể
hiện sự so sánh sự thay đổi và các xu hướng biến động nổi bật về giá trong giai
đoạn được khảo sát, … từ đó thấy được sự chênh lệch, thay đổi về cung và cầu,
yếu tố tác động đến sự thay đổi cung, cầu trong thị trường đồ ăn nhanh KFC tại
Việt Nam giai đoạn 2020-2023. Cụ thể, cách thức ra cứu, thu thập thông tin và dữ liệu như sau:
2.1. Cách thức tra cứu thông tin.
Bước 1: Xác định đề tài làm bài tập lớn.
Bước 2: Xác định dàn bài của bài tập lớn.
Bước 3: Dựa trên dàn bài định hướng các nội dung cần tra cứu trên Internet,
các bài báo cáo, tạp chí hoặc nghiên cứu của các tác giả. Bước 4: Chọn lọc
các nguồn thông tin uy tín.
2.2. Cách thức thu thập thông tin.
Bước 1: Sau khi chọn lọc được các nguồn uy tín, xác định nó thuộc đúng nội
dung, phạm vi bài tập lớn mà nhóm chọn.
Bước 2: Thu thập thông tin. Đọc nguồn thông tin một lần nữa và chọn lọc ra
những dữ liệu, thông tin ta cần cho bài tập lớn.
2.3. Cách xử lý thông tin, dữ liệu.
Bước 1: Kiểm tra lại các dữ liệu ta đã chọn lọc một lần nữa bằng các nguồn uy tín khác.
Bước 2: Các dữ liệu thông tin được đưa vào bài tập lớn cần diễn đạt theo cách
diễn đạt của bản thân nhưng cần tuyệt đối giữ lại nội dung của thông tin một cách đúng đắn.
Bước 3: Mỗi dữ liệu lấy đều cần ghi lại nguồn để trích dẫn vào bài tập lớn.
Bước 4: Trích dẫn tài liệu tham khảo đầy đủ và đúng quy định vào bài tập lớn.
2.4. Nguồn tài liệu tham khảo.
Q&Me Vietnam Market Research V IETDATA MI SA CUKCUK A DVERTISING VIETNAM K FC
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG ĐỒ ĂN NHANH
KFC GIAI ĐOẠN 2020-2023 TẠI VIỆT NAM.
1. Bối cảnh chung về thị trường đồ ăn nhanh KFC giai đoạn 2020-2023
1.1. Về thương hiệu KFC.
Năm 1997, nhà hàng KFC đầu tiên được khai trương tại Thành phố
Hồ Chí Minh, Việt Nam. Cho đến nay, chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh này đã
mở rộng, phát triển quy mô kinh doanh lên hơn 172 nhà hàng tại 39 tỉnh
thành Việt Nam. Không chỉ thành công trong việc đóng góp đáng kể cho
ngành công nghiệp thức ăn nhanh tại Việt Nam, KFC còn tạo công ăn việc
làm cho hơn 4000 người, cũng như hình thành một thói quen tiêu dùng và
văn hóa ẩm thực mới tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. So với
các thương hiệu đồ ăn nhanh khác như: Lotteria, Jollibee, McDonald; KFC
là một thương hiệu lâu đời, có được sự tin dùng của người Việt.
Bảng 1: So sánh quy mô, quá trình phát triển của các thương hiệu đồ ăn
nhanh phổ biến tại Việt Nam từ 2017 - nay.
Với sự hình thành và phát triển lâu đời của KFC tại Việt Nam so với
các thương hiệu chuỗi đồ ăn nhanh khác, cùng các chiến dịch quảng cáo,
marketing, các dịch vụ cải thiện chăm sóc khách hàng hiệu quả, KFC đã
chiếm được sự tin tưởng của người Việt Nam để trở thành thương hiệu đồ ăn
nhanh có mức độ nhận diện cao nhất tại Việt Nam. Theo khảo sát của
Q&Me - Nghiên cứu thị trường Việt Nam, có 83% khách hàng nói rằng đã
sử dụng đồ ăn nhanh của KFC, 7% khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ của
KFC, 6% người đã thông qua các chương trình quảng cáo, biết đến KFC
nhưng chưa có cơ hội sử dụng. Theo sau lần lượt là Lotteria, Jollibee và
McDonald. Trong khi, lượng khách hàng tin dùng sản phẩm của KFC và
Lotteria đang chiếm số lượng lớn, thì McDonald và Jollibee vẫn cần cải
thiện các chiến dịch quảng cáo, thu hút khách hàng khi có lần lượt 34% và
20 % khách hàng vẫn chưa biết hai thương hiệu này có tồn tại trên thị trường.
Bảng 2: Mức độ nhận diện thương hiệu của chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh tại
Việt Nam từ 2017 - nay.
1.2 . Về phía khách hàng của KFC.
Theo khảo sát của Q&Me, KFC được khách hàng ghé thăm nhiều
nhất, theo sau đó lần lượt là Lotteria, McDonald và Jollibee. Số lượng khách
hàng đến ăn đồ ăn nhanh và sử dụng dịch vụ của KFC với tần suất khoảng 4-
5 lần một tháng là 46%, đối với Lotteria là 39%, McDonald và Jollibee là
27 %. Đây được coi là lượng khách hàng tiềm năng, có xu hướng ưa chuộng
đồ ăn nhanh, có trải nghiệm tốt về hương vị và dịch vụ chăm sóc khách hàng
của mỗi thương hiệu đồ ăn nhanh, đặc biệt là KFC.
Bảng 3: Tần suất khách hàng ăn đồ ăn nhanh và sử dụng dịch vụ tại các
chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh ở Việt Nam.
Với con số đứng đầu - 41%, KFC là thương hiệu được cho là sự lựa
chọn hoàn hảo của đa số khách hàng có nhu cầu ăn đồ ăn nhanh tại Việt
Nam, theo sau vẫn là Lotteria với 22%, các vị trí tiếp theo lần lượt là
McDonald's, Jollibee, Texas Chicken, Popeyes và Burger King. Xét về phân
khúc khách hàng của KFC, số lượng khách hàng phân biệt theo giới tính
nam, nữ không chênh nhau quá nhiều, lần lượt là 44% và 39%. Trong đó,
KFC được yêu thích bởi đa số các khách hàng từ 16-39 tuổi, đặc biệt là từ
25-29 tuổi chiếm 50% - một con số vô cùng ấn tượng. Không dừng lại ở đó,
số lượng khách hàng trong độ tuổi 16-24 và 30-39 của KFC cũng được ghi
nhận với số liệu lần lượt là 34% và 41%, cao hơn hẳn so với phân khúc
khách hàng của các thương hiệu đồ ăn nhanh khác tại Việt Nam. Điều này
lại càng khẳng định thêm vị trí của KFC trên thị trường, cùng sự tin dùng,
ưa chuộng của đa số người Việt Nam về thương hiệu lâu đời này.
Bảng 4: Khả năng khách hàng chọn lựa thương hiệu đồ ăn nhanh tại Việt
Nam (phân chia theo giới tính, độ tuổi).
Trong thị trường đồ ăn nhanh tại Việt Nam, có rất nhiều các đối thủ
mới xuất hiện, làm sự cạnh tranh trong thị trường tăng cao, đòi hỏi mỗi
thương hiệu phải có các chiến dịch, phương pháp hiệu quả để giữ chân
khách hàng thông qua nhiều yếu tố như: hương vị, giá cả, mức độ nhận diện
thương hiệu,... Đối với KFC, là một thương hiệu xuất hiện sớm nhất tại thị
trường Việt Nam, với hương vị phù hợp với người Việt, đã giúp thương hiệu
này có ấn tượng tốt thể hiện qua con số: 51% khách hàng sẽ lựa chọn KFC
vì lý do hương vị sản phẩm- KFC có thể được coi là sản phẩm có hương vị
phù hợp nhất với người Việt với con số dẫn đầu, theo sau lần lượt là
Jollibee, McDonald’s và Lotteria. Yếu tố tiếp theo cũng tác động không nhỏ
tới số lượng khách hàng của KFC đó là dịch vụ chăm sóc, phục vụ khách
hàng, xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển, KFC đã không ngừng
nỗ lực cải tiến, cải thiện dịch vụ chăm sóc cùng các không gian phục vụ
khách hàng, điều đó được thể hiện qua con số: 24% khách hàng sẽ chọn
KFC với lý do dịch vụ của KFC tốt, theo sau lần lượt là McDonald’s,
Jollibee và Lotteria. Tiếp theo, yếu tố giá cả được coi là một yếu tố quan
trọng đối với sự lựa chọn của khách hàng, bởi giá cả của hầu hết các thương
hiệu đồ ăn nhanh trên thị trường đều cao hơn so với ẩm thực địa phương,
khiến nhiều khách hàng chưa thực sự sẵn sàng bỏ ra một số tiền cao hơn cho
bữa ăn của mình. Tuy nhiên, với các chiến dịch giảm giá, ưu đãi, KFC đã
thành công thu hút khách hàng với mức giá tốt hơn các thương hiệu khác
nhưng vẫn đảm bảo vấn đề vệ sinh, dịch vụ,... , kết quả là 16% khách hàng
cho rằng họ sẽ chọn KFC vì giá cả phù hợp.
Bảng 5: Các tiêu chí quyết định sự lựa chọn thương hiệu đồ ăn nhanh của
khách hàng tại Việt Nam.
Sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giá
cả, hương vị, dịch vụ chăm sóc khách hàng, các chính sách quảng bá, không
gian phục vụ, vệ sinh thực phẩm, ... Tuy nhiên, KFC đã thành công trong
việc làm khách hàng hài lòng về chính thương hiệu của mình. Điều đó được
minh chứng qua 48% khách hàng cho rằng họ hài lòng với sản phẩm, dịch
vụ của KFC và chắc chắn sẽ giới thiệu thương hiệu này với người khác -
theo sau đó là Lotteria, McDonald’s và Jollibee, với các số liệu lần lượt, cụ
thể: 38%, 37%, 30%. Số lượng khách hàng có ý kiến trung lập của 4 thương
hiệu này không có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên về số lượng khách hàng chưa
thực sự hài lòng về sản phẩm và dịch vụ, KFC được ghi nhận với con số
thấp nhất trong 4 thương hiệu - 32%. Điều đó chứng tỏ KFC vẫn luôn không
ngừng nỗ lực cố gắng cải thiện và đem lại những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất
cho khách hàng để giữ vững vị trí số một về thương hiệu đồ ăn nhanh tại Việt Nam.
Bảng 6: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các thương hiệu đồ ăn
nhanh tại Việt Nam
2. Mối quan hệ giữa cung - cầu và các nhân tố tác động đến thị trường đồ ăn
nhanh KFC tại Việt Nam giai đoạn 2020-2023. 2.1 . Năm 2020.
Trong năm 2020, dịch bệnh COVID-19 đã có ảnh hưởng lớn đến nền
kinh tế và ngành dịch vụ ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt
Nam. KFC không phải là ngoại lệ và đã phải đối mặt với nhiều thách thức
trong việc quản lý doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh như: giảm doanh
số bán hàng, giảm chuỗi cung ứng, tăng chi phí vận hành, ... Tuy nhiên, như
nhiều doanh nghiệp khác, KFC cũng đã nhanh chóng thích nghi và triển khai
các biện pháp như cung cấp dịch vụ giao hàng và mang về, tăng cư ờng vệ
sinh, và thích ứng với thị trường để giảm thiểu ảnh hưởng của đại dịch.
Những nhân tố cung - cầu tác động đến thị trường đồ ăn nhanh KFC năm 2020 ở Việt Nam:
Về cầu, hành vi người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các biện
pháp hạn chế di chuyển, giãn cách xã hội, hạn chế hoạt động
kinh doanh đã gây ra giảm sút trong cầu và khả năng chi tiêu
của người tiêu dùng, điều này làm ảnh hưởng đến cung của
KFC. 78% người tiêu dùng giảm tần suất ra ngoài do tác động
của đại dịch và hơn 80% khách hàng giảm các hoạt động vui
chơi, giải trí ngoài trời, việc sử dụng các dịch vụ giao đồ ăn tại
nhà cũng tăng cao. Đáp ứng nhu cầu đó, KFC đã kịp thời cung
cấp các phương tiện giao hàng an toàn và hiệu quả, các dịch vụ
giao hàng qua ứng dụng hoặc hệ thống. Theo khảo sát của
Q&Me, năm 2020, Now là ứng dụng được người tiêu dùng lựa
chọn đặt đồ ăn nhiều nhất, chiếm 24%, tiếp đến là Grab Food
chiếm 20%. KFC chiếm 52% lựa chọn đặt đồ ăn nhanh,
Lotteria 30% và Pizza Hut 21%. Bên cạnh đó, cầu về đồ ăn
nhanh KFC cũng bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh doanh và
chiến lược cung ứng và các yếu tố kinh doanh nội bộ của KFC.
Bảng 2.1.1: Mức độ thay đổi với các hoạt động trong thời kỳ Covid 19 tại Việt Nam.
Về cung, phía thương hiệu KFC cũng chịu những tác động không
nhỏ đến từ đại dịch, thay đổi trong thị hiếu và hành vi tiêu dùng
của khách hàng. Đặc biệt, trong thời kỳ dịch bệnh, tình hình
kinh tế không khả quan cũng tác động đến mức giá của các sản
phẩm tiêu dùng và khả năng chi tiêu của khách hàng. Đồng thời
cũng có sự thay đổi trong chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tần
suất các chiến lược giảm giá khuyến mãi và sự cạnh tranh từ
đối thủ. Do đó, KFC liên tục tung ra các ưu đãi về giá trong
mỗi tuần, mỗi tháng như: 18.000 đồng/1 miếng gà thay vì mức