Báo cáo Thực tế chính trị xã hội Bảo tàng Dân tộc học, VCCorp và CafeF | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Vietnam Museum of Ethnology) tọa lạc tại đường  Nguyễn Văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, cách  Học viện Báo chí và Tuyên truyền chỉ 2,2km về phía Đông Bắc, một vị trí thuận  tiện cho đoàn đi thực tế. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
42 trang 5 ngày trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Báo cáo Thực tế chính trị xã hội Bảo tàng Dân tộc học, VCCorp và CafeF | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Vietnam Museum of Ethnology) tọa lạc tại đường  Nguyễn Văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, cách  Học viện Báo chí và Tuyên truyền chỉ 2,2km về phía Đông Bắc, một vị trí thuận  tiện cho đoàn đi thực tế. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

8 4 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA PR-ADS
---------------------
BÁO CÁO
THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thùy Linh
Sinh viên: Trần Thị Quỳnh Hương
Mã sinh viên: 2256150024
Lớp: Quan hệ công chúng chuyên nghiệp K42
Lớp tín chỉ: QQ02608_K42_1
HÀ NỘI - 2024
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................3
MỞ ĐẦU...............................................................................................................4
1. Tổng quan về học phần thực tế - chính trị..........................................4
2. Lý do lựa chọn Bảo tàng Dân tộc học, VCCorp và CafeF là địa điểm
thực tế chính trị - xã hội...............................................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................6
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của báo cáo.............................................7
6. Kết cấu của báo cáo...............................................................................7
NỘI DUNG...........................................................................................................8
CHƯƠNG I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam...............................................8
1. Lịch sử hình thành và phát triển............................................................10
2.Không gian trưng bày............................................................................12
3.Tổ chức và nhân sự................................................................................14
4.Các hoạt động truyền thông và hợp tác.................................................15
CHƯƠNG II: Văn phòng làm việc của hệ sinh thái VCCorp và CafeF...24
1.Lịch sử hình thành và phát triển............................................................24
2.Cơ cấu tổ chức.......................................................................................27
3.Sản phẩm và dịch vụ..............................................................................28
4.Văn hoá nội bộ.......................................................................................32
5.Đối tác...................................................................................................34
CHƯƠNG III: Bài học kinh nghiệm............................................................37
1.Ưu điểm.................................................................................................37
2
2.Nhược điểm...........................................................................................38
KẾT LUẬN.........................................................................................................40
LỜI CẢM ƠN
Chuyn đi thc t - chnh tr ti Bảo tàng Dân tộc học, hệ sinh
thái truyền thông VCCorp và cơ sở của CafeF v+a qua thc s là
một trải nghiệm c/ng b1 ch, 2 ngh3a đ4i v5i em các bn
sinh vi6n l5p học ph7n Thc t chnh tr - x: hội
QQ02608_K42_1. Bởi vEy, để mở đ7u bài báo cáo, em xin phép
được gJi lKi cảm ơn chân thành t5i Ban Giám đ4c Học viện Báo
ch Tuy6n truyền đ: to điều kiện thuEn lợi cho chPng em
cQ cơ hội được trải nghiệm cRng như giao lưu, học hSi th6m các
kin thTc, kinh nghiệm t+ nhUng bEc tiền b4i trong ngành.
ĐWc biệt, em cRng xin được cảm ơn các th7ygiảng vi6n khoa
Quan hệ công chPng Quảng cáo, nhUng giảng vi6n giảng bộ
môn Thc t - chnh tr đ: tEn tình chX bảo đYng hành c/ng
chPng em su4t quá trình đi thc t. NhK đQ, chPng em cQ đủ
kin thTc để vEn d\ng vào bài báo cáo kt thPc học ph7n này.
Cu4i c/ng, em thc s bit ơn vì s nhiệt tình, tinh th7n cởi mở,
thân thiện của các vl:nh đo cả hai quan. BS qua lch trình
bEn rộn, mọi ngưKi vẫn chăm sQc, hỗ trợ đoàn tham quan l6n t5i
hơn 150 ngưKi một cách chu đáo cẩn thEn. C bảo tàng
VCCorp đều đ: mang t5i cho chPng em nhUng thông tin độc đáo
3
b1 ch, điều cQ lẽ không dễ tìm thấy tr6n các k6nh
thông tin đi chPng.
Do điều kiện thKi gian cRng như kinh nghiệm cen hn ch vEy
n6n bài báo cáo thc t - chnh tr cQ th sẽ không tránh khSi
nhUng thiu sQt. Em rất mong nhEn được s nhEn xét 2 kin
đQng gQp t+ pha các th7y để bài báo cáo này được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỞ ĐẦU
1. Tổng quan về học phần Thực tế chính trị - xã hội
1.1. Tóm tắt nội dung học phần Thực tế chính trị - xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc tới “cách viết một bài báo khá”, Người nói
chúng ta cần: “Gần gụi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy viết thì không
thể viết thiết thực”. Từ lời dạy của Người về tính chính xác, thiết thực của báo
chí truyền thông Việt Nam, kết hợp với thực tiễn ngày nay, các cơ sở đào tạo báo
chí cần trách nhiệm đào tạo sinh viên với chương trình “thực chiến” nhiều
hơn thông qua các hình bài giảng sản phẩm thực tế dựa trên sự kết hợp
giữa cơ sở đào tạo với các cơ quan báo chí.
Thực tế - chính trị học phần mang tính thực tiễn cao, trong đó bao gồm hoạt
động tiếp cận với địa bàn tác nghiệp báo chí truyền thông, được hướng dẫn thực
hành tác nghiệp viết báo cáo tổng kết học phần. Từ đó, sinh viên được trau
dồi kỹ năng nắm bắt thông tin, nhận diện thực tiễn đời sống trong các mặt như:
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,... Đồng thời dựa trên các chất liệu thực tế đó
4
để thể tự khai thác chủ đề, nội dung cho các tác phẩm báo chí truyền thông
sau này của mình.
2. do lựa chọn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam CafeF địa điểm
thực tế chính trị - xã hội
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Vietnam Museum of Ethnology) tọa lạc tại
đường Nguyễn Văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố
Nội, cách Học viện Báo chí Tuyên truyền chỉ 2,2km về phía Đông Bắc, một
vị trí thuận tiện cho đoàn đi thực tế. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức
sự nghiệp thuộc Viện Hàn lâm Khoa học hội Việt Nam với chức năng
nghiên cứu khoa học, kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, phục chế, trưng bày các giá
trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước.
Bảo tàng Dân tộc học một trong những bảo tàngNội nhất định nên ghé
thăm một lần. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã được TripAdvisor xếp hạng 4
trong 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á, nơi đây có ý nghĩa văn hóa và lịch sử to
lớn, rất phù hợp với những du khách đam mê tìm hiểu, khám phá Việt Nam. Bảo
tàng còn được như một bức tranh thu nhỏ về đồng bào 54 dân tộc tại Việt
Nam, rất nhiều hiện vật được trưng bày tại đây như trang sức, y phục, khí,
tôn giáo, nhạc cụ, tín ngưỡng… thể hiện văn hoá, tín ngưỡng, nét đặc trưng của
đa dạng các dân tộc trên mảnh đất hình chữ S.
Được thành lập vào năm 2006, sau 18 năm phát triển, Công ty CP VCCorp
(VCCorp) một trong những công ty tiên phong trong lĩnh vực công nghệ
công nghệ cao Việt Nam. VCCorp đã xây dựng ứng dụng thành công hạ
tầng cloud computing khả năng lưu trữ tính toán lượng dữ liệu lớn (Big
Data, Data mining) hỗ trợ cho nền tảng công nghệ quảng cáo trực tuyến
Admicro, phục vụ trên 50 triệu người dùng (chiếm trên 90% tổng số người dùng
Internet tại Việt Nam) với hơn 200 website uy tín, gần 30 website trong số đó
5
thuộc sở hữu độc quyền, phục vụ hàng tỷ lượt xem mỗi tháng. Ngoài ra,
VCCorp nằm trong top 3 công ty phát hành game trên nền tảng di động với
thương hiệu Sohagame, và mới đây hệ sinh thái chuyển đổi số Bizfly đang được
VCCorp phát triển triển khai mạnh mẽ. Đồng thời VCCorp cũng đơn vị
xây dựng Lotus - mạng xã hội do người Việt Nam làm chủ.
Thuộc hệ sinh thái VCCorp, CafeF.vn là nơi cung cấp thông tin chi tiết về các cổ
phiếu đang niêm yết trên hai sàn TP.HCM Nội. CafeF còn thường xuyên
đưa tới các doanh nghiệp và nhà đầu những nội dung thông tin thiết thực của
ngành tài chính, ngân hàng quốc tế; bất động sản và các thông tin kinh tế đầu
khác. Đặc biệt, website CafeF.vn còn giới thiệu cộng đồng blog với sự tham gia
của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đây cộng đồng được
cho là lớn nhất Việt Nam hiện nay giúp các nhà đầu tư và độc giả trao đổi thông
tin về tài chính, đầu tư. Hiện nay CafeF.vn đối tác cung cấp thông tin về thị
trường tài chính, kinh tế cho báo điện tử Dân trí.
Với những điểm mạnh trên, Bảo tàng Dân học Việt Nam VCCorp cũng như
CafeF quả thực địa điểm tưởng để các sinh viên thêm trải nghiệm
thực tế về đa dạng lĩnh vực trong ngành truyền thông, cũng như về mọi mặt
trong xã hội. Ngoài ra, vị trí địa lý của cả hai nơi đều ở tại Hà Nội, tạo điều kiện
thuận lợi về mặt di chuyển giữa các địa điểm cho đoàn thực tế khá đông người.
Đây cũng chính những do hai lớp Quan hệ công chúng K42 Quảng
cáo K42 lựa chọn hai địa điểm trên cho học phần Thực tế chính trị - xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu văn hoá, cách thức hoạt động và truyền thông của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam hệ sinh thái VCCorp, CafeF; tiếp xúc, học hỏi với các cán bộ,
6
phòng ban báo chí, truyền thông tại đây nhằm tăng thêm kiến thức hội
kinh nghiệm đối với ngành nghề mình theo đuổi.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và hệ sinh thái VCCorp, CafeF.
- Tích lũy kiến thức và học hỏi kinh nghiệm từ vị tiền bối trong ngành.
- Hoàn thành báo cáo chính trị xã hội về chuyến đi thực tế tại hai cơ sở trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Tổng quan về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hệ sinh thái VCCorp - CafeF
hoạt động truyền thông – quảng cáo tại những nơi này.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, văn phòng làm việc của hệ
sinh thái VCCorp và CafeF.
- Thời gian: Từ lúc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và hệ sinh thái VCCorp
– CafeF từ khi thành lập đến nay.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của bài báo cáo
Ý nghĩa lý luận:
Góp phần làm phong phú thêm sở lý luận về các hoạt động truyền thông của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hệ sinh thái công nghệ VCCorp và CafeF.
Ý nghĩa thực tiễn:
Trau dồi thêm kiến thức hội hiểu biết chuyên ngành cho sinh viên lớp
Quan hệ công chúng K42 và lớp Quảng cáo K42 của khoa PR-Ads.
6. Kết cấu của báo cáo
Bài báo cáo gồm 3 chương như sau:
7
Chương I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Chương II: Văn phòng làm việc của hệ sinh thái VCCorp và CafeF.
Chương III: Bài học kinh nghiệm từ chuyến đi thực tế thực tế chính trị - xã hội.
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Địa điểm đầu tiên trong chuyến đi thực tế chính trị - xã hội của hai lớp Quan hệ
công chúng K42 Quảng cáo K42 chính Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
một địa điểm lưu giữ bảo tồn văn hoá chỉ cách Học viện Báo chí Tuyên
truyền hơn 2km.
Đoàn thực tế chính trị - hội gồm ba xe khách, một xe 29 chỗ chủ yếu dành
cho các giảng viên khoa PR-Ads cùng một số sinh viên khoá trên, hai xe khách
45 chỗ dành cho sinh viên
hai lớp. Xuất phát từ túc
của học viện, chỉ mất vỏn
vẹn 10 phút để ba chiếc xe
tới bảo tàng lúc 8 giờ 30
sáng. Trong tiết trời mưa
phùn cùng sươngphủ kín
bầu trời, đoàn thực tế đi
thẳng vào cổng chính để thực
hiện một số thủ tục check in
nhằm đảm bảo an ninh, sau
đó tiến vào toà Cánh diều, phòng Hội thảo.
9
Lần lượt cả đoàn thực tế
tiến vào toà Cánh diều, đi
ngang qua không gian
rộng lớn của hành lang
thông giữa các tầng, em
cảm thấy cùng choáng
ngợp với kiến trúc mới mẻ
hiện đại của toà, khác
hẳn với những hình dung
ban đầu của em về một
bảo tàng với chủ đề văn
hoá, dân tộc.
Phòng hội thảo nằm ở tầng
bốn với lối kiến trúc trang trọng, theo lời TS. An Thu Trà, căn phòng này
chuyên dành để tiếp những đối tác quan trọng vào những dịp cần họp bàn hoặc
hội thảo lớn. Phòng hội thảo sức chứa lớn, dù đoàn có số lượng sinh viên lên
đến hơn 150 người nhưng số lượng ghế ngồi cũng gần đủ. Các anh chị cán bộ
nhân viên tại đây cũng vô cùng chu đáo khi bổ sung thêm ghế để cả đoàn đều
chỗ ngồi và nước uống. Đặc biệt, chuyến tham quan được chính TS. An Thu Trà
- Trưởng phòng Truyền thông và Giáo dục của Bảo tàng đích thân chia sẻ và tiếp
đón.
Mở đầu cho buổi chia sẻ, Trà đã tâm sự một số chuyện nghề, chuyện ngành
từ khi việc xây dựng hình ảnh cho Bảo tàng được gọi “tuyên truyền” (phòng
Tuyên truyền) những năm 90, cho tới khi những người đồng nghiệp gửi
đơn kiến nghị, xin đổi tên phòng “Nghiệp vụ tuyên truyền” nơi công tác
thành phòng “Truyền thông - Giáo dục”. Gắnvới bảo tàng trong một khoảng
10
thời gian dài như vậy, Trà hẳn một người cực yêu công việc mình làm,
và quả thực, cô đã trở thành một trong những cán bộ cộm cán tại nơi đây.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tiếp nối bài chia sẻ, từ những tâm tư, câu chuyện thú vị được T tiết lộ,
tiếp tục chia sẻ thêm về lịch sử hình thành phát triển của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam. Trà chia sẻ, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học hội Việt
Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do Nhà nước đầu xây dựng nằm
trong hệ thống các bảo tàng quốc gia ở Việt Nam.
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhiều chức năng: nghiên cứu, sưu tầm, bảo
quản, phục chế hiện vật liệu về các dân tộc; tổ chức trưng bày, trình diễn
những hình thức hoạt động khác để giới thiệu, giáo dục về văn hoá của các
dân tộc ở Việt Nam cũng như các nước khác...
Quá trình hình thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được xúc tiến từ những
năm 80 của thế kỷ XX, khi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn cùng
khó khăn trong thời hậu chiến. Ngày 24/10/1995, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ngày 12/11/1997,
nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh các nước sử dụng tiếng Pháp họp tại Nội,
Bảo tàng tổ chức lễ khánh thành, với sự mặt của Phó chủ tịch nước Nguyễn
Thị Bình Tổng thống Cộng hoà Pháp Jacques Chirac. chia sẻ, đây cũng
chính hội để bảo tàng được báo chí đưa tin truyền thông chú ý đến, từ
đó gia tăng độ nhận diện của bảo tàng trên khắp cả nước.
11
TS. An Thu Trà chia sẻ về các giai đoạn hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam
Lắng nghe những chia sẻ của An Thu Trà, chúng em tiếp thu thêm các kiến
thức thực tế về các hoạt động xây dựng, phát triển và truyền thông của bảo tàng
trong thời gian qua. Bảo tàng tọa lạc trong khuôn viên rộng gần 4,5ha, bao gồm
ba khu trưng bày:
Thứ nhất, tòa nhà 2 tầng có tên gọi Trống đồng, trưng bày về các dân tộc ở Việt
Nam, bắt đầu mở cửa phục vụ công chúng từ ngày 13/11/1997.
Thứ hai, khu trưng bày ngoài trời, được gọi là Vườn kiến trúc, rộng khoảng 2ha,
xây dựng từ năm 1998 đến 2006, giới thiệu chủ yếu 10 công trình kiến trúc dân
gian của 10 dân tộc ở Việt Nam.
Thứ ba, tòa nhà 4 tầng tên gọi Cánh diều, khởi công xây dựng tháng 6/2007
và khai trương trưng bày đầu tiên vào cuối năm 2013, là khu trưng bày về các cư
dân ngoài Việt Nam, trước hết là các dân tộc ở Đông Nam Á.
12
2. Không gian trưng bày
Tòa Trống đồng
Tòa Trống đồng một trong hai tòa trưng bày của Bảo tàng DTHVN. Tòa nhà
được kiến trúc Đức Lịnh, người Tày, thiết kế phỏng theo hình trống
đồng của văn minh Đông Sơn nổi tiếng. Tòa “Trống đồng” gồm 2 tầng với tổng
diện tích trưng bày 2.000m2, do Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình Tổng
thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac khai trương tháng 11-1997, nhân dịp Hội
nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp tại Hà Nội.
Toà Trống đồng – Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Phần lớn diện tích của tòa Trống đồng được dành cho trưng bày thường xuyên
về 54 dân tộc Việt Nam, được thực hiện với sự hợp tác của Chính phủ Pháp, sự
13
cộng tác của nhà dân tộc học Christine Hemmet, chuyên gia bảo tàng học tại
Bảo tàng Con Người (Paris) kiến trúc Véronique Dollfus, nhà thiết kế
trưng bày (Pháp). Trưng bày 54 dân tộc Việt Nam được thể hiện bằng hàng loạt
hiện vật, phim, ảnh dân tộc học, cùng các khu vực tái tạo sống động và hàng loạt
các bài viết do các nhà nghiên cứu của Bảo tàng thực hiện. Tất cả nội dung trưng
bày đều được thực hiện bằng 3 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh). Lộ trình tham quan
gồm 9 phần chính, được bố cục mang tính hệ thống, nhất quán, khoa học và hấp
dẫn. Ngoài ra, trong tòa Trống đồng còn không gian tổ chức các trưng bày
nhất thời.
Bức tường đỏ nổi bật với dòng chữ “Xin chào” bằng nhiều thứ tiếng tại toà Trống Đồng..
14
Tòa Cánh diều
Đây chính toà nahf đoàn thực tế đang ngồi nghe chia sẻ. Năm 2006, tòa
nhà mới “Đông Nam Á” được khởi công xây dựng trong khuôn viên Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam. Tòa nhà 4 tầng được các kiến trúc của Đại học Xây
dựng Nội thiết kế phỏng theo hình Cánh diều - một nét văn hóa truyền
thống không chỉ của Việt Nam của cả khu vực. Tầng 4 được dành cho bảo
quản hiện vật; 3 tầng còn lại, ngoài một số phòng làm việc, thiết kế chuẩn
bị trưng bày, chủ yếu là các không gian dành cho công chúng. Ở đây 4 trưng
bày thường xuyên về các văn hóa ngoài Việt Nam (Văn hóa Đông Nam Á, Tranh
kính Indonesia, Một thoáng châu Á Vòng quanh thế giới), không gian dành
cho các trưng bày nhất thời, các họat động giáo dục; ngoài ra còn có hội trường,
phòng chiếu phim, phòng đa phương tiện (Multimedia).
Trưng bày Văn hoá Đông Nam Á kết quả sống động của quan hệ hợp tác lâu
dài giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với nhiều bảo tàng vàquan văn hoá
các nước Đông Nam Á kết quả của nhiều năm miệt mài lao động sáng
tạo của tập thể cán bộ, nhân viên Bảo tàng cùng sự hỗ trợ nhiệt thành của nhiều
đồng nghiệp chuyên gia. thể nói, việc xây dựng tòa “Đông Nam Á” đánh
dấu bước phát triển mới, mang lại diện mạo mới tầm thế mới đối với Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam. Với các trưng bày trong không gian hiện đại này,
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ góp phần lưu giữ, giới thiệu di sản
văn hóa của nhiều khu vực, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của du khách,
mà còncầu nốilà điểm đến của bè bạn, đồng nghiệp ở Đông Nam Á cũng
như nhiều nơi khác trên thế giới.
Theo cô T chia sẻ, ngay sau khi khánh thành toà Cánh diều, Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam đã được TripAdvisor xếp hạng 4 trong 25 “bảo tàng hấp dẫn nhất
15
châu Á”. Nghe được thông tin này, chính đội ngũ cán bộ của bảo tàng cũng bất
ngờ và không khỏi ngỡ ngàng, bởi được đứng trong bảng xếp hạng TripAdvisor
do khách tham quan các kênh thông tin, báo chí đề cử, bảo tàng không hề
hay biết.
3. Tổ chức và nhân sự:
Tổ chức:
Trong cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đứng đầu Ban
Giám đốc. Tiếp theo là 2 khối văn phòng với tổng số 5 bộ phận khác nhau. Khối
văn phòng thứ nhất bao gồm: phòng Nghiên cứu sưu tầm Phim dân tộc học,
phòng Truyền thông và Giáo dục, phòng Trưng bày. Khối văn phòng còn lại bao
gồm: văn phòng và phòng Kiểm kê – Bảo quản.
Nhân sự:
- Ban giám đốc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam:
o TS. Bùi Ngọc Quang - Phó Giám đốc Phụ trách
o PGS.TS. Trần Hồng Hạnh - Phó Giám đốc
- Phòng Truyền thông & Giáo dục:
o TS. An Thu Trà - Trưởng phòng
o TS. Vũ Hồng Nhi - Phó Trưởng phòng
16
o ThS. Phùng Thị Tuệ Minh
o ThS. Nguyễn Thị Phượng
o CN. Lê Nguyễn Phương Anh
o CN. Chu Thanh Hải
o CN. Nguyễn Thị Nhài
o CN. Vương Hồng Thu
4. Các hoạt động truyền thông và hợp tác
Đây chính là phần quan trọng nhất trong buổi chia sẻ của TiếnAn Thu Trà, cô
đã chỉ ra 3 giai đoạn khi làm truyền thông của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
từ khi mới thành lập tới nay.
Giai đoạn 1:
Theo chia sẻ của tiến sĩ, giai đoạn 1 chính là khoảng thời gian khó khăn nhất đối
với bảo tàng. Năm 1997, khi đó bảo tàng mới chỉ một phòng của Viện Hàn
lâm khoa học hội Việt Nam. Chỉ vỏn vẹn với 18 nhân sự, họ đã tổ chức nên
buổi lễ khánh thành được nhiều tờ báo đánh giá lớn nhất nhất thời điểm đó.
Với số lượng 18 người ít ỏi đó, họ đã bàn bạc lưỡng với nhau, xin thông tin
nhờ các mối quan hệ, cuối cùng, họ đã mời hai vị chính khách nổi tiếng bậc
nhất bấy giờ. Đó Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình Tổng thống Cộng
hoà Pháp Jacques Chirac. Nhờ sự xuất hiện của hai vị chính khách uy tínnổi
tiếng, buổi lễ khánh thành thành công vượt ngoài mong đợi, bảo tàng được đưa
các kênh truyền thông lớn báo chí đưa tin, điều này đã thu hút sự chú ý của
công chúng lúc bấy giờ và một bộ phận người dân đã biết tới bảo tàng.
Giai đoạn 2:
Giai đoạn 2 của các hoạt động truyền thông cho bảo tàng khoảng những năm
1997-2000. Khi ấy, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chưa phòng Truyền
17
thông phòng Nghiệp vụ Tuyên truyền. Trà chia sẻ trong sự xúc
động, quá trình thay đổi từ “tuyên truyền” sang “truyền thông” cả một quá
trình thay đổi nhận thức của toàn bộ giới hoạt động bảo tàng tại Việt Nam. Nhớ
lại kỉ niệm xưa, Nguyên trưởng phòng Nghiệp vụ và Tuyên truyền của bảo tàng
cần xin visa đi công tácMỹ, khi được phỏng vấn, bác nói mình làm “phòng
Tuyên truyền”, kết quả họ đã đánh trượt visa của bác, khiến bác phải tiễn
đồng nghiệp đi công tác còn mình thì không có visa để xuất ngoại.
Tiến sĩ An Thu Trà nhấn mạnh: “Phương châm làm truyền thông của chúng tôi
hồi ấy của chúng tôi đơn giản mà vô cùng hiệu quả, đó là truyền thông trực tiếp,
kiên trì, phủ trên diện rộng”. khẳng định, cả bảo tàng ai cũng làm truyền
thông, nhân sự nào cũng phải card visit. Ngày ấy, hoạt động truyền thông
chưa được đa dạng như bây giờ, nhân sự bảo tàng thường tới Phố Cổ Nội,
phát những tờ rơi đơn giản chỉ để giới thiệu rằng “Ở Hà Nội có một bảo tàng tên
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”. Những nỗ lực đó đã không làm phụ lòng
những con người chăm chỉ, các công ty lữ hành và du lịch đã biết tới bảo tàng và
đưa khách tới, tạo thành điểm du lịch hấp dẫn, mới lạ dành cho du khách tới
Nội.
Những năm 2000-2005 thời kỳ báo mạng điện tử nở rộ. Theo nghiên cứu của
đội ngũ nhân sự của bảo tàng, mọi người dần quan tâm nhiều hơn tới thông tin
qua internet, từ đó bảo tàng đã tiến hành giảm bớt truyền thông trực tiếp, phối
hợp với các kênh báo chí, truyền hình để đưa tin nhằm tiếp cận được nhiều du
khách tới tham quan hơn.
chia sẻ thêm về nỗ lực phát triển hình ảnh của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam trong mắt công chúng, từ năm 2005-2010, phòng Truyền thông đã cố gắng
duy trì sự xuất hiện của bảo tàng trên các phương tiện truyền thông truyền thống
như báo in, báo truyền hình, phát thanh… Từ đó từng bước nâng cao tính
18
chuyên nghiệp trong công tác truyền thông. Nhận thấy sự hạn chế trong tên gọi
của phòng Nghiệp vụ Tuyên truyền, năm 2011, Nguyên Giám đốc của Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam đã xin đổi hai từ “Tuyên truyền” thành “Truyền
thông”. Lúc ấy, hành động này đã gây tranh cãi không nhỏ trong giới bảo tàng,
mọi người đều thắc mắc tại sao lại muốn đổi tên như vậy, các hội đồng khoa học
đều cho rằng điều này là không cần thiết. Và phải mất rất nhiều công sức, chứng
minh và thuyết phục thì vai trò của phòng Truyền thông trong Bảo tàng Dân tộc
học nói riêng toàn bộ bảo tàng trên toàn Việt Nam nói chung mới được ghi
nhận chính thức vào năm 2011.
Tiến sĩ An Thu Trà cùng các nhân sự của phòng Truyền thông Giáo dục luôn
muốn tận dụng hết mức thể các loại hình báo chí. Từ báo truyền hình, phát
thanh, báo in hay báo mạng điện tử, bảo tàng luôn sẵn sàng cung cấp bản tóm tắt
các thông tin quan trọng để gửi lại phóng viên, toà soạn hoặc đài truyền hình sau
khi các sự kiện diễn ra. nhấn mạnh: “Phòng Truyền thông luôn chủ động
trong mọi việc, chúng tôi luôn sẵn nhân lực để có thể viết báo, soạn tin, biên tập
thông tin để gửi về cho các quan báo chí nhằm tiết kiệm thời gian cho họ,
đồng thời đảm bảo độ chính xác về mặt thông tin”. Nhờ sự chủ động, đa nhiệm
và tài năng của đội ngũ truyền thông Bảo tàng Dân tộc học, hầu hết các cơ quan
báo chí làm việc với bảo tàng đều dựa trên tinh thần hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Vì
thế, việc Bảo tàng Dân tộc học xuất hiện trên nhiều mặt báo, trang tin hay tin tức
thời sự không phải là điều gì quá xa lạ.
Giai đoạn 3:
Bất ngờ nhận về thành tích đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng 25 “bảo tàng hấp
dẫn nhất châu Á” được TripAdvisor bình chọn trong ba năm liền (2012, 2013,
2014). Ba năm tiếp theo (2015, 2016, 2017), bảo tàng được vinh danh điểm
tham quan du lịch hàng đầu Việt Nam, do Bộ Văn hóa, Thể thaoDu lịch trao
19
tặng. Điều này chứng tỏ sức ảnh hưởng cùng to lớn của bảo tàng tới công
chúng gần xa, bởi Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm khoa học
xã hội Việt Nam, không phải Bộ Văn hoá như nhiều phần đông mọi người nhầm
tưởng, do đó không chuyện bảo tàng được Bộ Văn hoá ưu ái trao cho danh
hiệu cao quý ấy liên tiếp 3 năm. Từ những thành tích ấy, bảo tàng làm truyền
thông, lập ra các trang mạng hội như Facebook, Instagram, xây website để
thu hút được sự chú ý của nhiều du khách hơn.
Từ năm 2017 tới nay, phòng Truyền thông – Giáo dục của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam đã đem kinh nghiệm của chính mình lan toả tới phòng Truyền thông
của các bảo tàng khác trên toàn quốc.
Thành tích đặc biệt:
Một trong những sự kiện đem lại tiếng vang nhiều nhất cho Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam chính sự kiện mùa năm 2006. Theo T kể lại, sự kiện
năm đó chủ đề về Nội thời bao cấp. Bảo tàng dự định sẽ tổ chức trong 6
tháng, nhưng ngay khi ra mắt, nhờ tác động của truyền thông, sự kiện năm đó đã
trở thành một hiện tượng và thời gian tổ chức đã gấp đôi thời gian dự định - tròn
1 năm. Sự kiện Nội thời bao cấp đã được báo chí tôn vinh “Sự kiện của
mùa năm 2006” bởi tính gần gũi, hoài niệm của nó, rất nhiều hoạt động đã
chạm đến cảm xúc của khán giả, khiến họ bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm xưa.
Năm 2013 là một cột mốc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam khi toà nhà Cánh
diều được khánh thành. Sự kiện đã được gọi tên trong danh sách 1 trong 10 sự
kiện khoa học - công nghệ của Đông Nam Á năm đó. Bảo tàng Dân tộc học đã
tiên phong trong việc mở Trung tâm Giao lưu Văn hoá ngay trong khuôn viên
bảo tàng, trở thành địa chỉ duy nhất của Đông Nam Á thực hiện được điều này.
20
| 1/42

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA PR-ADS --------------------- BÁO CÁO
THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thùy Linh
Sinh viên: Trần Thị Quỳnh Hương
Mã sinh viên: 2256150024
Lớp: Quan hệ công chúng chuyên nghiệp K42
Lớp tín chỉ: QQ02608_K42_1 HÀ NỘI - 2024 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................3
MỞ ĐẦU...............................................................................................................4
1. Tổng quan về học phần thực tế - chính trị..........................................4
2. Lý do lựa chọn Bảo tàng Dân tộc học, VCCorp và CafeF là địa điểm
thực tế chính trị - xã hội...............................................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................6
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của báo cáo.............................................7
6. Kết cấu của báo cáo...............................................................................7
NỘI DUNG...........................................................................................................8
CHƯƠNG I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam...............................................8
1. Lịch sử hình thành và phát triển............................................................10
2.Không gian trưng bày............................................................................12
3.Tổ chức và nhân sự................................................................................14
4.Các hoạt động truyền thông và hợp tác.................................................15
CHƯƠNG II: Văn phòng làm việc của hệ sinh thái VCCorp và CafeF...24
1.Lịch sử hình thành và phát triển............................................................24
2.Cơ cấu tổ chức.......................................................................................27
3.Sản phẩm và dịch vụ..............................................................................28
4.Văn hoá nội bộ.......................................................................................32
5.Đối tác...................................................................................................34
CHƯƠNG III: Bài học kinh nghiệm............................................................37
1.Ưu điểm.................................................................................................37 2
2.Nhược điểm...........................................................................................38
KẾT LUẬN.........................................................................................................40 LỜI CẢM ƠN
Chuyn đi thc t - chnh tr ti Bảo tàng Dân tộc học, hệ sinh
thái truyền thông VCCorp và cơ sở của CafeF v+a qua thc s là
một trải nghiệm vô c/ng b1 ch, 2 ngh3a đ4i v5i em và các bn
sinh vi6n l5p học ph7n Thc t chnh tr - x: hội
QQ02608_K42_1. Bởi vEy, để mở đ7u bài báo cáo, em xin phép
được gJi lKi cảm ơn chân thành t5i Ban Giám đ4c Học viện Báo
ch và Tuy6n truyền vì đ: to điều kiện thuEn lợi cho chPng em
cQ cơ hội được trải nghiệm cRng như giao lưu, học hSi th6m các
kin thTc, kinh nghiệm t+ nhUng bEc tiền b4i trong ngành.
ĐWc biệt, em cRng xin được cảm ơn các th7y cô giảng vi6n khoa
Quan hệ công chPng và Quảng cáo, nhUng giảng vi6n giảng bộ
môn Thc t - chnh tr đ: tEn tình chX bảo và đYng hành c/ng
chPng em su4t quá trình đi thc t. NhK đQ, chPng em cQ đủ
kin thTc để vEn d\ng vào bài báo cáo kt thPc học ph7n này.
Cu4i c/ng, em thc s bit ơn vì s nhiệt tình, tinh th7n cởi mở,
thân thiện của các v l:nh đo cả hai cơ quan. BS qua lch trình
bEn rộn, mọi ngưKi vẫn chăm sQc, hỗ trợ đoàn tham quan l6n t5i
hơn 150 ngưKi một cách chu đáo và cẩn thEn. Cả bảo tàng và
VCCorp đều đ: mang t5i cho chPng em nhUng thông tin độc đáo 3
và b1 ch, điều mà cQ lẽ không dễ tìm thấy ở tr6n các k6nh thông tin đi chPng.
Do điều kiện thKi gian cRng như kinh nghiệm cen hn ch vEy
n6n bài báo cáo thc t - chnh tr cQ thể sẽ không tránh khSi
nhUng thiu sQt. Em rất mong nhEn được s nhEn xét và 2 kin
đQng gQp t+ pha các th7y cô để bài báo cáo này được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! MỞ ĐẦU
1. Tổng quan về học phần Thực tế chính trị - xã hội
1.1. Tóm tắt nội dung học phần Thực tế chính trị - xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc tới “cách viết một bài báo khá”, Người nói
chúng ta cần: “Gần gụi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không
thể viết thiết thực”. Từ lời dạy của Người về tính chính xác, thiết thực của báo
chí truyền thông Việt Nam, kết hợp với thực tiễn ngày nay, các cơ sở đào tạo báo
chí cần có trách nhiệm đào tạo sinh viên với chương trình “thực chiến” nhiều
hơn thông qua các mô hình bài giảng và sản phẩm thực tế dựa trên sự kết hợp
giữa cơ sở đào tạo với các cơ quan báo chí.
Thực tế - chính trị là học phần mang tính thực tiễn cao, trong đó bao gồm hoạt
động tiếp cận với địa bàn tác nghiệp báo chí truyền thông, được hướng dẫn thực
hành tác nghiệp và viết báo cáo tổng kết học phần. Từ đó, sinh viên được trau
dồi kỹ năng nắm bắt thông tin, nhận diện thực tiễn đời sống trong các mặt như:
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,... Đồng thời dựa trên các chất liệu thực tế đó 4
để có thể tự khai thác chủ đề, nội dung cho các tác phẩm báo chí truyền thông sau này của mình.
2. Lý do lựa chọn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và CafeF là địa điểm
thực tế chính trị - xã hội
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Vietnam Museum of Ethnology) tọa lạc tại
đường Nguyễn Văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà
Nội, cách Học viện Báo chí và Tuyên truyền chỉ 2,2km về phía Đông Bắc, một
vị trí thuận tiện cho đoàn đi thực tế. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là tổ chức
sự nghiệp thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với chức năng là
nghiên cứu khoa học, kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, phục chế, trưng bày các giá
trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước.
Bảo tàng Dân tộc học là một trong những bảo tàng ở Hà Nội nhất định nên ghé
thăm một lần. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã được TripAdvisor xếp hạng 4
trong 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á, nơi đây có ý nghĩa văn hóa và lịch sử to
lớn, rất phù hợp với những du khách đam mê tìm hiểu, khám phá Việt Nam. Bảo
tàng còn được ví như một bức tranh thu nhỏ về đồng bào 54 dân tộc tại Việt
Nam, rất nhiều hiện vật được trưng bày tại đây như trang sức, y phục, vũ khí,
tôn giáo, nhạc cụ, tín ngưỡng… thể hiện văn hoá, tín ngưỡng, nét đặc trưng của
đa dạng các dân tộc trên mảnh đất hình chữ S.
Được thành lập vào năm 2006, sau 18 năm phát triển, Công ty CP VCCorp
(VCCorp) là một trong những công ty tiên phong trong lĩnh vực công nghệ và
công nghệ cao ở Việt Nam. VCCorp đã xây dựng và ứng dụng thành công hạ
tầng cloud computing có khả năng lưu trữ và tính toán lượng dữ liệu lớn (Big
Data, Data mining) hỗ trợ cho nền tảng công nghệ quảng cáo trực tuyến
Admicro, phục vụ trên 50 triệu người dùng (chiếm trên 90% tổng số người dùng
Internet tại Việt Nam) với hơn 200 website uy tín, gần 30 website trong số đó 5
thuộc sở hữu độc quyền, phục vụ hàng tỷ lượt xem mỗi tháng. Ngoài ra,
VCCorp nằm trong top 3 công ty phát hành game trên nền tảng di động với
thương hiệu Sohagame, và mới đây hệ sinh thái chuyển đổi số Bizfly đang được
VCCorp phát triển và triển khai mạnh mẽ. Đồng thời VCCorp cũng là đơn vị
xây dựng Lotus - mạng xã hội do người Việt Nam làm chủ.
Thuộc hệ sinh thái VCCorp, CafeF.vn là nơi cung cấp thông tin chi tiết về các cổ
phiếu đang niêm yết trên hai sàn TP.HCM và Hà Nội. CafeF còn thường xuyên
đưa tới các doanh nghiệp và nhà đầu tư những nội dung thông tin thiết thực của
ngành tài chính, ngân hàng quốc tế; bất động sản và các thông tin kinh tế đầu tư
khác. Đặc biệt, website CafeF.vn còn giới thiệu cộng đồng blog với sự tham gia
của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đây là cộng đồng được
cho là lớn nhất Việt Nam hiện nay giúp các nhà đầu tư và độc giả trao đổi thông
tin về tài chính, đầu tư. Hiện nay CafeF.vn là đối tác cung cấp thông tin về thị
trường tài chính, kinh tế cho báo điện tử Dân trí.
Với những điểm mạnh trên, Bảo tàng Dân học Việt Nam và VCCorp cũng như
CafeF quả thực là địa điểm lý tưởng để các sinh viên có thêm và trải nghiệm
thực tế về đa dạng lĩnh vực trong ngành truyền thông, cũng như về mọi mặt
trong xã hội. Ngoài ra, vị trí địa lý của cả hai nơi đều ở tại Hà Nội, tạo điều kiện
thuận lợi về mặt di chuyển giữa các địa điểm cho đoàn thực tế khá đông người.
Đây cũng chính là những lí do mà hai lớp Quan hệ công chúng K42 và Quảng
cáo K42 lựa chọn hai địa điểm trên cho học phần Thực tế chính trị - xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu văn hoá, cách thức hoạt động và truyền thông của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam và hệ sinh thái VCCorp, CafeF; tiếp xúc, học hỏi với các cán bộ, 6
phòng ban báo chí, truyền thông tại đây nhằm tăng thêm kiến thức xã hội và
kinh nghiệm đối với ngành nghề mình theo đuổi.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và hệ sinh thái VCCorp, CafeF.
- Tích lũy kiến thức và học hỏi kinh nghiệm từ vị tiền bối trong ngành.
- Hoàn thành báo cáo chính trị xã hội về chuyến đi thực tế tại hai cơ sở trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Tổng quan về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hệ sinh thái VCCorp - CafeF và
hoạt động truyền thông – quảng cáo tại những nơi này.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, văn phòng làm việc của hệ sinh thái VCCorp và CafeF.
- Thời gian: Từ lúc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và hệ sinh thái VCCorp
– CafeF từ khi thành lập đến nay.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của bài báo cáo Ý nghĩa lý luận:
Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về các hoạt động truyền thông của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hệ sinh thái công nghệ VCCorp và CafeF.
Ý nghĩa thực tiễn:
Trau dồi thêm kiến thức xã hội và hiểu biết chuyên ngành cho sinh viên lớp
Quan hệ công chúng K42 và lớp Quảng cáo K42 của khoa PR-Ads.
6. Kết cấu của báo cáo
Bài báo cáo gồm 3 chương như sau: 7
Chương I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Chương II: Văn phòng làm việc của hệ sinh thái VCCorp và CafeF.
Chương III: Bài học kinh nghiệm từ chuyến đi thực tế thực tế chính trị - xã hội. 8 NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Địa điểm đầu tiên trong chuyến đi thực tế chính trị - xã hội của hai lớp Quan hệ
công chúng K42 và Quảng cáo K42 chính là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam –
một địa điểm lưu giữ và bảo tồn văn hoá chỉ cách Học viện Báo chí và Tuyên truyền hơn 2km.
Đoàn thực tế chính trị - xã hội gồm ba xe khách, một xe 29 chỗ chủ yếu dành
cho các giảng viên khoa PR-Ads cùng một số sinh viên khoá trên, hai xe khách 45 chỗ dành cho sinh viên
hai lớp. Xuất phát từ Kí túc
xá của học viện, chỉ mất vỏn
vẹn 10 phút để ba chiếc xe
tới bảo tàng lúc 8 giờ 30
sáng. Trong tiết trời mưa
phùn cùng sương mù phủ kín
bầu trời, đoàn thực tế đi
thẳng vào cổng chính để thực
hiện một số thủ tục check in
nhằm đảm bảo an ninh, sau
đó tiến vào toà Cánh diều, phòng Hội thảo. 9
Lần lượt cả đoàn thực tế
tiến vào toà Cánh diều, đi ngang qua không gian rộng lớn của hành lang thông giữa các tầng, em cảm thấy vô cùng choáng
ngợp với kiến trúc mới mẻ
và hiện đại của toà, khác hẳn với những hình dung ban đầu của em về một
bảo tàng với chủ đề văn hoá, dân tộc.
Phòng hội thảo nằm ở tầng
bốn với lối kiến trúc trang trọng, theo lời cô TS. An Thu Trà, căn phòng này
chuyên dành để tiếp những đối tác quan trọng vào những dịp cần họp bàn hoặc
hội thảo lớn. Phòng hội thảo có sức chứa lớn, dù đoàn có số lượng sinh viên lên
đến hơn 150 người nhưng số lượng ghế ngồi cũng gần đủ. Các anh chị cán bộ
nhân viên tại đây cũng vô cùng chu đáo khi bổ sung thêm ghế để cả đoàn đều có
chỗ ngồi và nước uống. Đặc biệt, chuyến tham quan được chính TS. An Thu Trà
- Trưởng phòng Truyền thông và Giáo dục của Bảo tàng đích thân chia sẻ và tiếp đón.
Mở đầu cho buổi chia sẻ, cô Trà đã tâm sự một số chuyện nghề, chuyện ngành
từ khi việc xây dựng hình ảnh cho Bảo tàng được gọi là “tuyên truyền” (phòng
Tuyên truyền) những năm 90, cho tới khi cô và những người đồng nghiệp gửi
đơn kiến nghị, xin đổi tên phòng “Nghiệp vụ tuyên truyền” nơi cô công tác
thành phòng “Truyền thông - Giáo dục”. Gắn bó với bảo tàng trong một khoảng 10
thời gian dài như vậy, cô Trà hẳn là một người cực kì yêu công việc mình làm,
và quả thực, cô đã trở thành một trong những cán bộ cộm cán tại nơi đây.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tiếp nối bài chia sẻ, từ những tâm tư, câu chuyện thú vị được cô Trà tiết lộ, cô
tiếp tục chia sẻ thêm về lịch sử hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam. Cô Trà chia sẻ, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do Nhà nước đầu tư xây dựng và nằm
trong hệ thống các bảo tàng quốc gia ở Việt Nam.
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có nhiều chức năng: nghiên cứu, sưu tầm, bảo
quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc; tổ chức trưng bày, trình diễn
và những hình thức hoạt động khác để giới thiệu, giáo dục về văn hoá của các
dân tộc ở Việt Nam cũng như các nước khác...
Quá trình hình thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được xúc tiến từ những
năm 80 của thế kỷ XX, khi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn vô cùng
khó khăn trong thời hậu chiến. Ngày 24/10/1995, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ngày 12/11/1997,
nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh các nước sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội,
Bảo tàng tổ chức lễ khánh thành, với sự có mặt của Phó chủ tịch nước Nguyễn
Thị Bình và Tổng thống Cộng hoà Pháp Jacques Chirac. Cô chia sẻ, đây cũng
chính là cơ hội để bảo tàng được báo chí đưa tin và truyền thông chú ý đến, từ
đó gia tăng độ nhận diện của bảo tàng trên khắp cả nước. 11
TS. An Thu Trà chia sẻ về các giai đoạn hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Lắng nghe những chia sẻ của cô An Thu Trà, chúng em tiếp thu thêm các kiến
thức thực tế về các hoạt động xây dựng, phát triển và truyền thông của bảo tàng
trong thời gian qua. Bảo tàng tọa lạc trong khuôn viên rộng gần 4,5ha, bao gồm ba khu trưng bày:
Thứ nhất, tòa nhà 2 tầng có tên gọi Trống đồng, trưng bày về các dân tộc ở Việt
Nam, bắt đầu mở cửa phục vụ công chúng từ ngày 13/11/1997.
Thứ hai, khu trưng bày ngoài trời, được gọi là Vườn kiến trúc, rộng khoảng 2ha,
xây dựng từ năm 1998 đến 2006, giới thiệu chủ yếu 10 công trình kiến trúc dân
gian của 10 dân tộc ở Việt Nam.
Thứ ba, tòa nhà 4 tầng có tên gọi Cánh diều, khởi công xây dựng tháng 6/2007
và khai trương trưng bày đầu tiên vào cuối năm 2013, là khu trưng bày về các cư
dân ngoài Việt Nam, trước hết là các dân tộc ở Đông Nam Á. 12
2. Không gian trưng bày Tòa Trống đồng
Tòa Trống đồng là một trong hai tòa trưng bày của Bảo tàng DTHVN. Tòa nhà
được kiến trúc sư Hà Đức Lịnh, người Tày, thiết kế mô phỏng theo hình trống
đồng của văn minh Đông Sơn nổi tiếng. Tòa “Trống đồng” gồm 2 tầng với tổng
diện tích trưng bày 2.000m2, do Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng
thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac khai trương tháng 11-1997, nhân dịp Hội
nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp tại Hà Nội.
Toà Trống đồng – Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Phần lớn diện tích của tòa Trống đồng được dành cho trưng bày thường xuyên
về 54 dân tộc Việt Nam, được thực hiện với sự hợp tác của Chính phủ Pháp, sự 13
cộng tác của nhà dân tộc học Christine Hemmet, chuyên gia bảo tàng học tại
Bảo tàng Con Người (Paris) và kiến trúc sư Véronique Dollfus, nhà thiết kế
trưng bày (Pháp). Trưng bày 54 dân tộc Việt Nam được thể hiện bằng hàng loạt
hiện vật, phim, ảnh dân tộc học, cùng các khu vực tái tạo sống động và hàng loạt
các bài viết do các nhà nghiên cứu của Bảo tàng thực hiện. Tất cả nội dung trưng
bày đều được thực hiện bằng 3 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh). Lộ trình tham quan
gồm 9 phần chính, được bố cục mang tính hệ thống, nhất quán, khoa học và hấp
dẫn. Ngoài ra, trong tòa Trống đồng còn có không gian tổ chức các trưng bày nhất thời.
Bức tường đỏ nổi bật với dòng chữ “Xin chào” bằng nhiều thứ tiếng tại toà Trống Đồng.. 14 Tòa Cánh diều
Đây chính là toà nahf mà đoàn thực tế đang ngồi nghe chia sẻ. Năm 2006, tòa
nhà mới “Đông Nam Á” được khởi công xây dựng trong khuôn viên Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam. Tòa nhà 4 tầng được các kiến trúc sư của Đại học Xây
dựng Hà Nội thiết kế mô phỏng theo hình Cánh diều - một nét văn hóa truyền
thống không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực. Tầng 4 được dành cho bảo
quản hiện vật; ở 3 tầng còn lại, ngoài một số phòng làm việc, thiết kế và chuẩn
bị trưng bày, chủ yếu là các không gian dành cho công chúng. Ở đây có 4 trưng
bày thường xuyên về các văn hóa ngoài Việt Nam (Văn hóa Đông Nam Á, Tranh
kính Indonesia, Một thoáng châu Á và Vòng quanh thế giới), không gian dành
cho các trưng bày nhất thời, các họat động giáo dục; ngoài ra còn có hội trường,
phòng chiếu phim, phòng đa phương tiện (Multimedia).
Trưng bày Văn hoá Đông Nam Á là kết quả sống động của quan hệ hợp tác lâu
dài giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với nhiều bảo tàng và cơ quan văn hoá
các nước Đông Nam Á và là kết quả của nhiều năm miệt mài lao động và sáng
tạo của tập thể cán bộ, nhân viên Bảo tàng cùng sự hỗ trợ nhiệt thành của nhiều
đồng nghiệp và chuyên gia. Có thể nói, việc xây dựng tòa “Đông Nam Á” đánh
dấu bước phát triển mới, mang lại diện mạo mới và tầm thế mới đối với Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam. Với các trưng bày trong không gian hiện đại này,
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ góp phần lưu giữ, giới thiệu di sản
văn hóa của nhiều khu vực, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của du khách,
mà còn là cầu nối và là điểm đến của bè bạn, đồng nghiệp ở Đông Nam Á cũng
như nhiều nơi khác trên thế giới.
Theo cô Trà chia sẻ, ngay sau khi khánh thành toà Cánh diều, Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam đã được TripAdvisor xếp hạng 4 trong 25 “bảo tàng hấp dẫn nhất 15
châu Á”. Nghe được thông tin này, chính đội ngũ cán bộ của bảo tàng cũng bất
ngờ và không khỏi ngỡ ngàng, bởi được đứng trong bảng xếp hạng TripAdvisor
là do khách tham quan và các kênh thông tin, báo chí đề cử, bảo tàng không hề hay biết.
3. Tổ chức và nhân sự: Tổ chức:
Trong cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đứng đầu là Ban
Giám đốc. Tiếp theo là 2 khối văn phòng với tổng số 5 bộ phận khác nhau. Khối
văn phòng thứ nhất bao gồm: phòng Nghiên cứu sưu tầm – Phim dân tộc học,
phòng Truyền thông và Giáo dục, phòng Trưng bày. Khối văn phòng còn lại bao
gồm: văn phòng và phòng Kiểm kê – Bảo quản. Nhân sự:
- Ban giám đốc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: o
TS. Bùi Ngọc Quang - Phó Giám đốc Phụ trách o
PGS.TS. Trần Hồng Hạnh - Phó Giám đốc
- Phòng Truyền thông & Giáo dục: o
TS. An Thu Trà - Trưởng phòng o
TS. Vũ Hồng Nhi - Phó Trưởng phòng 16 o ThS. Phùng Thị Tuệ Minh o ThS. Nguyễn Thị Phượng o CN. Lê Nguyễn Phương Anh o CN. Chu Thanh Hải o CN. Nguyễn Thị Nhài o CN. Vương Hồng Thu
4. Các hoạt động truyền thông và hợp tác
Đây chính là phần quan trọng nhất trong buổi chia sẻ của Tiến sĩ An Thu Trà, cô
đã chỉ ra 3 giai đoạn khi làm truyền thông của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
từ khi mới thành lập tới nay. Giai đoạn 1:
Theo chia sẻ của tiến sĩ, giai đoạn 1 chính là khoảng thời gian khó khăn nhất đối
với bảo tàng. Năm 1997, khi đó bảo tàng mới chỉ là một phòng của Viện Hàn
lâm khoa học xã hội Việt Nam. Chỉ vỏn vẹn với 18 nhân sự, họ đã tổ chức nên
buổi lễ khánh thành được nhiều tờ báo đánh giá là lớn nhất nhất thời điểm đó.
Với số lượng 18 người ít ỏi đó, họ đã bàn bạc kĩ lưỡng với nhau, xin thông tin
và nhờ các mối quan hệ, cuối cùng, họ đã mời hai vị chính khách nổi tiếng bậc
nhất bấy giờ. Đó là Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng
hoà Pháp Jacques Chirac. Nhờ sự xuất hiện của hai vị chính khách uy tín và nổi
tiếng, buổi lễ khánh thành thành công vượt ngoài mong đợi, bảo tàng được đưa
các kênh truyền thông lớn và báo chí đưa tin, điều này đã thu hút sự chú ý của
công chúng lúc bấy giờ và một bộ phận người dân đã biết tới bảo tàng. Giai đoạn 2:
Giai đoạn 2 của các hoạt động truyền thông cho bảo tàng là khoảng những năm
1997-2000. Khi ấy, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chưa có phòng Truyền 17
thông mà là phòng Nghiệp vụ và Tuyên truyền. Cô Trà chia sẻ trong sự xúc
động, quá trình thay đổi từ “tuyên truyền” sang “truyền thông” là cả một quá
trình thay đổi nhận thức của toàn bộ giới hoạt động bảo tàng tại Việt Nam. Nhớ
lại kỉ niệm xưa, Nguyên trưởng phòng Nghiệp vụ và Tuyên truyền của bảo tàng
cần xin visa đi công tác ở Mỹ, khi được phỏng vấn, bác nói mình làm ở “phòng
Tuyên truyền”, kết quả là họ đã đánh trượt visa của bác, khiến bác phải tiễn
đồng nghiệp đi công tác còn mình thì không có visa để xuất ngoại.
Tiến sĩ An Thu Trà nhấn mạnh: “Phương châm làm truyền thông của chúng tôi
hồi ấy của chúng tôi đơn giản mà vô cùng hiệu quả, đó là truyền thông trực tiếp,
kiên trì, phủ trên diện rộng”. Cô khẳng định, cả bảo tàng ai cũng làm truyền
thông, nhân sự nào cũng phải có card visit. Ngày ấy, hoạt động truyền thông
chưa được đa dạng như bây giờ, nhân sự bảo tàng thường tới Phố Cổ Hà Nội,
phát những tờ rơi đơn giản chỉ để giới thiệu rằng “Ở Hà Nội có một bảo tàng tên
là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”. Những nỗ lực đó đã không làm phụ lòng
những con người chăm chỉ, các công ty lữ hành và du lịch đã biết tới bảo tàng và
đưa khách tới, tạo thành điểm du lịch hấp dẫn, mới lạ dành cho du khách tới Hà Nội.
Những năm 2000-2005 là thời kỳ báo mạng điện tử nở rộ. Theo nghiên cứu của
đội ngũ nhân sự của bảo tàng, mọi người dần quan tâm nhiều hơn tới thông tin
qua internet, từ đó bảo tàng đã tiến hành giảm bớt truyền thông trực tiếp, phối
hợp với các kênh báo chí, truyền hình để đưa tin nhằm tiếp cận được nhiều du khách tới tham quan hơn.
Cô chia sẻ thêm về nỗ lực phát triển hình ảnh của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam trong mắt công chúng, từ năm 2005-2010, phòng Truyền thông đã cố gắng
duy trì sự xuất hiện của bảo tàng trên các phương tiện truyền thông truyền thống
như báo in, báo truyền hình, phát thanh… Từ đó từng bước nâng cao tính 18
chuyên nghiệp trong công tác truyền thông. Nhận thấy sự hạn chế trong tên gọi
của phòng Nghiệp vụ và Tuyên truyền, năm 2011, Nguyên Giám đốc của Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam đã xin đổi hai từ “Tuyên truyền” thành “Truyền
thông”. Lúc ấy, hành động này đã gây tranh cãi không nhỏ trong giới bảo tàng,
mọi người đều thắc mắc tại sao lại muốn đổi tên như vậy, các hội đồng khoa học
đều cho rằng điều này là không cần thiết. Và phải mất rất nhiều công sức, chứng
minh và thuyết phục thì vai trò của phòng Truyền thông trong Bảo tàng Dân tộc
học nói riêng và toàn bộ bảo tàng trên toàn Việt Nam nói chung mới được ghi
nhận chính thức vào năm 2011.
Tiến sĩ An Thu Trà cùng các nhân sự của phòng Truyền thông – Giáo dục luôn
muốn tận dụng hết mức có thể các loại hình báo chí. Từ báo truyền hình, phát
thanh, báo in hay báo mạng điện tử, bảo tàng luôn sẵn sàng cung cấp bản tóm tắt
các thông tin quan trọng để gửi lại phóng viên, toà soạn hoặc đài truyền hình sau
khi các sự kiện diễn ra. Cô nhấn mạnh: “Phòng Truyền thông luôn chủ động
trong mọi việc, chúng tôi luôn sẵn nhân lực để có thể viết báo, soạn tin, biên tập
thông tin để gửi về cho các cơ quan báo chí nhằm tiết kiệm thời gian cho họ,
đồng thời đảm bảo độ chính xác về mặt thông tin”. Nhờ sự chủ động, đa nhiệm
và tài năng của đội ngũ truyền thông Bảo tàng Dân tộc học, hầu hết các cơ quan
báo chí làm việc với bảo tàng đều dựa trên tinh thần hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Vì
thế, việc Bảo tàng Dân tộc học xuất hiện trên nhiều mặt báo, trang tin hay tin tức
thời sự không phải là điều gì quá xa lạ. Giai đoạn 3:
Bất ngờ nhận về thành tích đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng 25 “bảo tàng hấp
dẫn nhất châu Á” được TripAdvisor bình chọn trong ba năm liền (2012, 2013,
2014). Ba năm tiếp theo (2015, 2016, 2017), bảo tàng được vinh danh là điểm
tham quan du lịch hàng đầu Việt Nam, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao 19
tặng. Điều này chứng tỏ sức ảnh hưởng vô cùng to lớn của bảo tàng tới công
chúng gần xa, bởi Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm khoa học
xã hội Việt Nam, không phải Bộ Văn hoá như nhiều phần đông mọi người nhầm
tưởng, do đó không có chuyện bảo tàng được Bộ Văn hoá ưu ái trao cho danh
hiệu cao quý ấy liên tiếp 3 năm. Từ những thành tích ấy, bảo tàng làm truyền
thông, lập ra các trang mạng xã hội như Facebook, Instagram, xây website để
thu hút được sự chú ý của nhiều du khách hơn.
Từ năm 2017 tới nay, phòng Truyền thông – Giáo dục của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam đã đem kinh nghiệm của chính mình lan toả tới phòng Truyền thông
của các bảo tàng khác trên toàn quốc.
Thành tích đặc biệt:
Một trong những sự kiện đem lại tiếng vang nhiều nhất cho Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam chính là sự kiện mùa hè năm 2006. Theo cô Trà kể lại, sự kiện
năm đó có chủ đề về Hà Nội thời bao cấp. Bảo tàng dự định sẽ tổ chức trong 6
tháng, nhưng ngay khi ra mắt, nhờ tác động của truyền thông, sự kiện năm đó đã
trở thành một hiện tượng và thời gian tổ chức đã gấp đôi thời gian dự định - tròn
1 năm. Sự kiện Hà Nội thời bao cấp đã được báo chí tôn vinh là “Sự kiện của
mùa hè năm 2006” bởi tính gần gũi, hoài niệm của nó, rất nhiều hoạt động đã
chạm đến cảm xúc của khán giả, khiến họ bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm xưa.
Năm 2013 là một cột mốc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam khi toà nhà Cánh
diều được khánh thành. Sự kiện đã được gọi tên trong danh sách 1 trong 10 sự
kiện khoa học - công nghệ của Đông Nam Á năm đó. Bảo tàng Dân tộc học đã
tiên phong trong việc mở Trung tâm Giao lưu Văn hoá ngay trong khuôn viên
bảo tàng, trở thành địa chỉ duy nhất của Đông Nam Á thực hiện được điều này. 20