Báo cáo thực tế chính trị xã hội Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Thời  thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn  12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu  thành Trường An. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
34 trang 5 ngày trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Báo cáo thực tế chính trị xã hội Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Thời  thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn  12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu  thành Trường An. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

7 4 lượt tải Tải xuống
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................... 1
NỘI DUNG ........................................................................................ 2
1. Lịch sử hình thành tỉnh Ninh Bình ............................................. 2
2. Điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Ninh Bình .................................. 3
2.1. Vị trí địa lý .............................................................................................. 3
2.2. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 3
3. Nội dung phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình ............................ 4
3.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ................................................................... 4
3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ................................................................. 5
3.3. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình .... 6
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân ........................................................ 7
3.5. Quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
du lịch Ninh Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 ..................... 14
3. Giới thiệu khái quát về Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình ...... 19
4. Nhật ký hành trình .....................................................................20
5. Bài học từ chuyến đi thực tế chính trị xã hội- ......................... 29
KẾT LUẬN ...................................................................................... 31
1
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện theo kế hoạch số 2353-CV/HVBCVTTT ngày 11 tháng 5 năm
2023 về việc đi nghiên cứu thực tế tại tỉnh Ninhnh đối với lớp đại học chính quy
Truyền thông chính sách khoá 41 từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2023.
Tham gia chuyến đi TS. Nguyễn Thanh Nga, ThS. Lưu Thị Thu Phương Chủ
nhiệm lớp học, ThS. Tào Thị Khánh cùng 70 học viên của lớp Truyền thông chính
sách khoá 41.
Trong suốt hành trình, đoàn chúng em được tìm hiểu, trải nghiệm, tham quan
tận mắt qua các công trình, địa danh văn hoá, lịch sử như: cố đô Hoa Lư, Vườn chim
Thung Nham, hang Bụt, động Vái Giời, phố cổ Hoa Lư…mỗi nơi, mỗi địa danh cho
đoàn chúng em những cảm nhận kquên về vùng đất con người đây. Và đặc
biệt trong chương trình chuyến đi thực tế này, em và các bạn học viên trong lớp đã
được nghe báo cáo về công tác phát triển du lịch và quản lý Nhà nước về du lịch của
tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi đã giúp cho các học viên có được những kiến thức thực tế
dựa trên những kiến thức của chương trình đào tạo, m căn cứ thực hiện bài thu
hoạch. Ngoài ra, chuyến đi đã tạo điều kiện cho các học viên giao lưu, học hỏi, xây
dựng tinh thần đoàn kết, thân ái, hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành các mục tiêu của khóa
học.
2
NỘI DUNG
1. Lịch sử hình thành tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình một tỉnh ven biển cực Nam của châu thổ sông Hồng, phía Bắc
giáp Nam, đông và đông bắc giáp Nam Định, đông nam giáp vịnh Bắc bộ, tây bắc
giáp Hòa Bình và phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa.
Tỉnh có diện tích 1387,5 km2 với dân số gần 100 vạn người, bao gồm 8 đơn
vị hành chính bao gồm 2 thành phố: Thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp
6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, n Mô, Yên Khánh và huyện Kim Sơn.
Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang.
Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu,
thuộc Lương là châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12
sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư đổi tên gọi Trường Châu thành
Trường An. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng
Long, và Ninh Bình nằm trong phủ Tờng An. Nhưng đến cuối đời Lý có lúc gọi là
châu Đại Hoàng Giang. Năm Quang Thuận 10 (1469) đời Thánh Tông định bản
đồ toàn quốc, chia trấn Trường n làm 2 phủ Tờng n và Thiên Quan thuộc trấn
Sơn Nam với trung tâm đặt tại Vân Sàng. Đời Lê Trung hưng gọi là trấn Thanh Hoa
ngoại.
Đời Tây Sơn và đầu Nguyễn vẫn gọi là Thanh Hoa ngoại trấn, gồm 2 phủ:
phủ Trường Yên (sau đổi Yên Khánh) gồm 3 huyện: Yên Khang (sau đổi n
Khánh), Yên Mô, Gia Viễn, và phủ Thiên Quan (sau đổi là Nho Quan) gồm 3 huyện:
Yên Hoá, Phụng Hoá, Lạc Thổ (sau đổi Lạc n). Năm Gia Long 5 (1806) đổi
Thanh Hoa ngoại trấn làm đạo Thanh Bình. Năm thứ 12 (1831) đổi làm tỉnh Ninh
Bình, quan đầu tỉnh là tuần phủ, đặt dưới quyền của tổng đốc Hà Ninh (quản hạt cả
vùng Hà Nội đến tận Ninh Bình). Cho đến đời Đồng Khánh không thay đổi. Đầu đời
Thành Thái cắt huyện Lạc Yên về tỉnh Hoà Bình mới lập.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và
Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1918. Ngày 23
tháng 11 năm 1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan. Ngày 7
3
tháng 2 năm 2007, chuyển thị xã Ninh Bình thành thành phố Ninh Bình. Ngày 6
tháng 4 năm 2015, chuyển thị xã Tam Điệp thành thành phố Tam Điệp.
2. Điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Ninh Bình
2.1. Vị trí địa lý
Ninh Bình nằm phía Nam đồng bằng Bắc bộ, bắt đầu từ 19o50 đến 20o26
độ Bắc; 105o32 đến 106o20 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp Nam; phía Đông
giáp Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây và Tây Nam giáp Thanh
Hóa; phía Tây giáp Hòa Bình. Diện tích đất tự nhiên gần 1.400 km2, dân số trên 984
nghìn người . Địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núiphía
Tây và Tây Bắc, vùng đồng bằng phía Đông vùng ven biển ở phía Nam. Sự đa
dạng về địa hình, kết hợp hài hòa giữa rừng núi với sông hồ, đất ngập nước, đồng
bằng duyên hải đã tạo cho Ninh Bình một tiềm năng du lịch lớn với cảnh quan
thiên nhiên, hệ sinh thái độc đáo, phong phú, đa dạng.
2.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Địa hình 3 vùng rệt đồng bằng, vùng ven biển,vùng đồi núi bán
sơn địa.
Vùng đồng bằng độ cao khoảng 0,9 - 1,2m, chiếm 101.000 ha tương đương
khoảng 71,1% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, là nơi tập chung dân cư đông đúc. Đất
đai chủ yếu là đất phù sa nên rất phát triển nông nghiệp trồng lúa và hoa màu.
Vùng ven biển kéo dài trên 15km bờ biển. Có 4 ven biển thuộc huyện Kim
Sơn: xã Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông Kim Tân. Đất đai nhiễm mặn do bị bồi
tụ nên đang trong quá trình cải tạo, phù hợp với việc trồng các loài cây như sú, vẹt
để phòng hộ. Ngoài ra, có thể trồng cói, trồng một vụ lúa và nuôi trồng thủy hải sản.
Vùng đồi núi và bán sơn địa nằm ở phía Tây và Tây Nam của Ninh Bình, độ
cao t 90 - 120m riêng khu vực núi đá có độ cao trên 200m. Diện tích khoảng
35.000ha, chiếm 24% diện ch tự nhiên toàn tỉnh. Do địa hình nhiều đồi núi nên vùng
này tập trung 90% diện tích trồng rừng của toàn tỉnh, rất thuận lợi đphát triển các
ngành công nghiệp.
4
Tài nguyên
Tài nguyên đất: Đất phù sa tập trung vùng đồng bằng thích hợp cho thâm
canh hoa màu. Đất Feralit ở vùng bán sơn nguyên lại phù hợp cho việc trồng rừng và
các loại cây ăn quả, cây dược liệu.
Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình núi đá vôi với diện tích lớn, khoảng
12.000ha. Với trữ lượng chục tỷ mét khối đá vôi và chục triệu tấn dolomit, hàm lượng
MgO chiếm 17 - 19% chất lượng tốt. Ngoài ra, còn có trữ lượng nhỏ than bùn để
phục vụ sản xuất vi sinh, sản xuất nông nghiệp.
Tài nguyên biển: Nhờ đường bờ biển dài 15km, Ninh Bình có lợi thế đ
phát triển các ngành kinh tế biển như nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, xây dựng các
nhà máy, khu công nghiệp chế biến.
Tài nguyên nước: Ninh Bình có nhiều con sông lớn phân bố đều ở cả 3 vùng.
Phải kể đến các con sông lớn như sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bến Đang, ng
Vạc, sông Càn,...Bên cạnh sông còn c hồ, các kênh trữ lượng, hàm lượng
Magie - Cacbonat và khoáng chất cao.
3. Nội dung phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình
3.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Một trong những yếu tố tạo nên điểm nhấn, sự độc đáo của du lịch Ninh Bình
đó sự tồn tại của một hệ thống núi đá vôi Karst già với diện tích hàng ngàn hecta
tập trung ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh, hình thành nhiều danh thắng nổi
tiếng, từ lâu đã thu hút được nhiều du khách trong ngoài nước đến thăm quan.
Trong số đó phải kể đến khu du lịch Tam Cc - Bích Động, khu du lịch sinh thái
Tràng An, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập ớc Vân Long (hang Cá, hang Bóng...),
Vườn Quốc gia Cúc Phương (động Người Xưa, động Trăng Khuyết)...
Ninh Bình cũng tỉnh có diện tích rừng lớn nhất so với các tỉnh đồng bằng
sông Hồng với trên 29 nghìn hecta. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Cố đô Hoa
một hệ sinh thái rừng rất đặc sắc. Rừng Cúc Phương là điển hình cho loại rừng
nhiệt đới ở Việt Nam (22 nghìn hecta). Đây là Vườn Quốc gia đầu tiên, đồng thời là
nơi bảo tồn động, thực vật quý hiếm đầu tiên của Việt Nam với gần 2.000 loài thực
5
vật bậc cao, khoảng 2.600 loài động vật. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
Long, đặc trưng cho hệ sinh thái đất ngập nước diện tích lớn nhất ng đồng
bằng sông Hồng (trên 3.000 hecta).
Cùng với hệ sinh thái rừng độc đáo, đa dạng, Ninh Bình có gần 20km bờ biển
tập trung ở huyện Kim Sơn. Vùng ven biển Kim Sơn được đánh giá là một bộ phận
quan trọng của khu dự trữ sinh quyển thế giới với diện tích trên 105 nghìn hecta. Đặc
biệt, nơi đây Cồn Nổi cách bờ biển khoảng 5km, diện tích nổi của Cồn Nổi trên
500 hecta, độ thoải nông, cát mịn, sóng lớn, nước trong, cát vàng,… Hiện nay, Cồn
Nổi đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh cho chủ trương, phê duyệt quy hoạch, đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng, các điều kiện thiết yếu của khu du lịch sinh thái.
Là địa phương có hệ thống sông, ngòi tương đối dày đặc, bao gồm sông Đáy,
sông Hoàng Long, sông Vân, ng Vạc, sông Lạng, sông Sào Khê… chảy theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam đổ ra biển. Trong scác sông của Ninh nh thì sông Hoàng
Long chảy qua địa phận huyện Gia Viễn nơi nhiều cảnh quan đẹp và làng quê
mang đậm bản sắc tiêu biểu cho làng quê Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Hồng
giá trị du lịch cao.
3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Ninh Bình vùng đất cổ, nơi ghi dấu sự khai sinh của nước Đại Cồ Việt và
kinh đô Hoa Lư - kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở
Việt Nam với các dấu ấn lịch sử hình ảnh của người anh hùng dân tộc Đinh Tiên
Hoàng: thống nhất giang sơn, đánh Tống, bình Chiêm cách đây hơn một nghìn m…
đã để lại những dich lịch sử giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất địa linh,
nhân kiệt.
Lễ hội truyền thống
Ninh Bình 312 di sản văn hóa phi vật thể bao gồm đầy đcác loại hình,
trong đó có 228 lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của các làng quê Việt
Nam. Những lễ hội lớn như Lễ hội Hoa (huyện Hoa ), Lễ hội đền Thái Vi (
Ninh Hải, huyện Hoa Lư), Lễ hội chùa Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn), Lễ
hội Báo bản Nộn Khê (xã Yên Từ, huyện Yên Mô), Lễ hội đầu xuân của dân tộc
Mường (Kỳ Phú, huyện Nho Quan), Lễ Hội đền Dâu, Quán Cháo (phường Nam
6
Sơn, thành phTam Điệp); Lễ hội Tràng An (tại Khu du lịch sinh thái Tràng An)
được tổ chức vào ngày 18/3 âm lịch hằng năm, Lễ hội đền thờ Nguyễn Công Trứ (
Quang Thiện, huyện Kim Sơn)…
Làng nghề truyền thống
Ninh Bình có 75 làng nghcấp tỉnh, trong đó 01 ng nghề y cảnh, 1
làng nghề xây dựng, 01 làng nghề ẩm thực, 02 làng nghề bún, 70 làng nghề thủ công
truyền thống… Nhiều làng nghề đã và đang được đưa vào khai thác phục vụ du lịch
như làng nghề thêu ren Văn Lâm, chạm khắc đá Ninh Vân, gốm Gia Thuỷ, mỹ nghệ
cói Kim Sơn, đồ gỗ Phúc Lộc, làng đá cảnh Bình Khang, gốm Bồ Bát… Hàng năm,
các làng nghề giải quyết việc làm cho nhiều người dân nông thôn có việc làm và thu
nhập, góp phần vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới…
Nghệ thuật truyền thống
Ninh Bình vùng qvốn ca nhạc ctruyền nằm trong những sinh hoạt
ca nhạc cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Năm 2020, tỉnh có 91 nghệ thuật trình diễn
dân gian, tiêu biểu như: Chèo; tuồng, múa rối, hát ru, cò lả, hát xẩm, hát chầu văn, ca
trù, đối đáp giao duyên...
Ẩm thực
Địa hình đa dạng, phong tục, tập quán văn hoá truyền thống lâu đời đã tạo
nên nét độc đáo, hấp dẫn đặc biệt trong văn hoá ẩm thực Ninh Bình với nhiều món
ăn nổi tiếng với du khách trong nước và quốc tế, nhiều món ăn được Trung tâm sách
kỷ lục Việt Nam công nhận như: đặc sản núi Trường Yên, cơm cháy Ninh nh,
nem n Mạc; bún mọc Kim Sơn; cá rô Tổng Trường; cá tràu tiến vua; mắm tép Gia
Viễn; rượu cần Nho Quan; rượu Lai Thành - Kim Sơn
3.3. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình
Những thế mạnh, cơ hội
Tài nguyên du lịch Ninh Bình rất đa dạng và phong phú. Tài nguyên du lịch
nhân văn và tự nhiên đan quyện vào nhau, hỗ trợ nhau tạo nên sức hút đối với khách
du lịch trong và ngoài nước. Ninh Bình có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt,
đường cao tốc rất thuận cho phát triển du lịch; đặc biệt có Di sản kép (Di sản văn a
7
thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An) đây là một trong 31 di sản
hỗn hợp của thế giới, di sản hỗn hợp th11 của khu vực Châu Á Thái Bình Dương,
di sản hỗn hợp đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.
Khả năng khai thác các gtrị tài nguyên du lịch của Ninh Bình tương đối
thuận lợi do đặc điểm phân bố và điều kiện khai thác. Trong cùng một khu vực, các
điểm du lịch nhiều đặc điểm tương đồng về mặt tự nhiên, nhưng quá trình sử dụng
khai thác của con người đối với mỗi điểm lại khác nhau, nên đã tạo nên những
cảnh quan văn hóa, sự cảm nhận thú vị, riêng cho mỗi du khách khi đến thăm
quan.
Một số thách thức
Nhận thức của xã hội về phát triển du lịch còn hạn chế.
Ninh Bình là khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của các yếu tthời tiết bất lợi
như bão, lụt, hạn hán và biến đổi khí hậu. Tác động của hoạt động phát triển đô thị,
công nghiệp nhanh chóng đã ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên. Du lịch
Ninh Bình phát triển trong điều kiện ở mức thấp, song lại phải cạnh tranh rất lớn với
các địa phương khác như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,… Cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch còn hạn chế, thiếu các khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp, các khu vui chơi,
giải trí để giữ khách du lịch lưu trú qua đêm. Đội ngũ lao động trong lĩnh vực hoạt
động du lịch thiếu về số lượng, yếu về tính chuyên nghiệp.
Các điểm tài nguyên của Ninh Bình có mật độ tương đối dày, một số điểm có
những tương đồng về loại hình như Tam Cốc, Tràng An, Vân Long, dẫn đến sự trùng
lắp, làm giảm tính hấp dẫn của mỗi điểm. Tài nguyên du lịch nhân văn tương đối
phong phú, tuy nhiên đa phần mới chỉ dạng tiềm năng, chưa thực sự trở thành
một sản phẩm của kinh tế du lịch, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, nghệ thuật
hát Xẩm.
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
• Ưu điểm
a, Chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Ninh Bình về
8
phát triển du lịch
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV (năm 2001)
đã xác định: “Tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phong phú về cảnh quan thiên
nhiên, về di tích lịch sử, kiến trúc, về điều kiện giao thông thuận lợi, những cơ sở vật
chất đã được đầu xây dựng những kinh nghiệm trong các năm qua, tạo bước
phát triển mới về du lịch trong 5 năm tới”. Để c thể hóa đường lối phát triển du lịch
của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, ngày 18/12/2001 Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban
hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về "Phát triển du lịch từ nay đến 2010". Đây là nghị
quyết đầu tiên của Tỉnh ủy về phát triển du lịch với quan điểm chỉ đạo: phải thực sự
coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế của tỉnh.
Ngày 13/7/2009, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIX) đã ban hành Nghị
quyết số 15 2020, định hướng đến -NQ/TU về Phát triển du lịch Ninh Bình đến năm
năm 2030. Nghị quyết đề ra 5 quan điểm phát triển du lịch Ninh Bình, đó là:
Thứ nhất, xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Phát triển du lịch
là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân.
Thứ hai, phát triển du lịch bền vững, từng bước đưa du lịch sớm trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Thứ ba, coi trọng tính hiệu quả, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực lưu trú, vui
chơi giải trí, làng nghề, mua sắm, ẩm thực.
Thứ tư, phát triển du lịch phải gắn với Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gắn với an ninh, quốc phòng.
Thứ năm, đẩy mạnh hội hoá hoạt động du lịch, nâng cao vai trò quản
nhà nước về du lịch; gắn phát triển du lịch với giải quyết việc làm và xoá đói giảm
nghèo.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020
đã khẳng định: “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa kinh tế du
lịch vào thời kỳ tăng tốc, phát triển kinh tế du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn,
xây dựng hoàn thiện chính sách, khuyến khích các thành phần kinh tế. Phát triển
đồng bộ các ngành dịch vụ, đặc biệt dịch vụ du lịch”. Nhằm thực hiện thắng lợi
9
Nghị quyết, ngày 04/8/2016, Ban Thường vụ Tỉnh y đã ban hành Quyết định số 313-
QĐ/TU về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển các lĩnh vực
dịch vụ, du l 2020. Ngày 30/8/2018 UBND tỉnh ịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 –
đã ban hành Quyết định s1124/QĐ-UBND, pduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó tập trung
vào một số nội dung: quan điểm quy hoạch, mục tiêu phát triển, định hướng phát
triển, các giải pháp và chính sách phát triển du lịch.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 (tháng
10/2020) tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh ngành dịch vụ theo hướng trọng
tâm, trọng điểm; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trở thành trungm
du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng của cả nước. Tập trung đầu tư và thu hút
đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu chiến lược cho phát triển du lịch, đa dạng hóa các
sản phẩm du lịch; hoàn thiện các dự án hạ tầng du lịch trọng điểm”.
b, Phát triển các loại hình du lịch
Với tài nguyên phong phú, Ninh Bình đã khai thác và tập trung phát triển các
loại hình du lịch: tham quan danh lam thắng cảnh; văn hóa tâm linh; sinh t- hái; nghỉ
dưỡng; vui chơi giải trí, thể thao cuối tuần; biển, sinh thái biển; bổ trợ. Hiện nay,
Ninh Bình tiếp tục tổ chức định hướng phát triển nhiều nhóm các sản phẩm du
lịch thuộc các loại hình trên, cụ thể:
- Nhóm các sản phẩm du lịch tham quan danh lam thắng cảnh: tham quan,
nghiên cứu Quần thể danh thắng Tràng An; tham quan, nghiên cứu Cố đô Hoa Lư,
khu Tam Cốc - Bích Động, Thạch Bích - Thung Nắng, Thung Nham, Hang Bụt, Hang
Ghé, Hang Chùa; tham quan, nghiên cứu khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
Long; khu vực suối khoáng nóng Kênh Gà...
- Nhóm các sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh: tham quan, nghiên cứu
các di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư; tham quan, nghiên cứu các di tích lịch sử
văn hóa khu vực Tam Cốc - Bích Động; Chùa Bái Đính…
- Nhóm các sản phẩm du lịch sinh thái: tham quan, nghiên cứu các hệ
sinh thái ở khu quần thể danh thắng Tràng An; Vườn quốc gia Cúc Phương...
10
- Nhóm các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng: du lịch nghỉ ỡng vùng sinh
thái Vân Long; vườn quốc gia Cúc Phương (vùng đệm); Hồ Đồng Chương, Hồ Yên
Thắng, Hồ Đồng Thái; suối khoáng nóng Kênh Gà, nước khoáng Cúc Phương...
- Nhóm các sản phẩm du lịch vui chơi giải trí, thể thao cuối tuần: du lịch
chơi golf (Tràng An, Hoàng Gia...); du lịch thủy phi cơ, khinh khí cầu (Tng An, h
Đồng Thái...);…
- Nhóm sản phẩm du lịch biển, sinh thái biển: du lịch tắm, nghỉ dưỡng
biển (Cồn Nổi); du lịch tham quan rừng ngập mặn Kim Sơn; du lịch tham quan khu
vực nuôi thủy sản; thưởng thức đặc sản biển Kim Sơn...
c, Công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch
Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch Ninh Bình nói chung và Di
sản văn hóa thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An nói riêng được
tỉnh đặc biệt quan tâm, đầu cả vkinh phí, phương thức tổ chức, triển khai với
nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như: quảng du lịch tấm lớn; phát hành ấn
phẩm, tài liệu với 04 ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp, Nhật; trên các phương tiện thông tin
đại chúng như báo, đài truyền hình trong nước quốc tế; trên các trang thông tin
điện tử của ngành du lịch; tạo điều kiện cho các hãng phim trong nước quốc tế
chọn cảnh ghi hình tại các khu, điểm du lịch của tỉnh. Đây là cơ hội tốt để giới thiệu,
quảng bá về các giá trị văn hóa, lịch sử và con người Ninh Bình đến với bạn bè trong
nước và quốc tế.
d. Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch
Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành “Cơ chế,
chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh du
lịch”, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành và áp dụng Quy định về ưu đãi,
khuyến khích đầu tư vào các khu du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm tạo thêm sức hút đối
với các nhà đầu tư. Nhiều dự án đã hoàn thiện, nhiều hạng mục công trình của các
dự án đã đưa vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả, tiêu biểu như:
Emeralda resort, khách sạn Ninh Bình Legend, Hoàng Sơn Peace, The Reed, Hidden
11
Charm, Bái Đính;… các sở dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm như: Sân golf Hoàng
Gia, Sân golf Tng An, siêu thị Big C..; các khu, điểm du lịch lớn như: khu du lịch
sinh thái Tràng An, khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính; Hang Múa,
Kết cấu hạ tầng du lịch tiếp tục được tỉnh quan tâm đầu tư, nâng cấp, nhất là
ở các khu du lịch trọng điểm, như: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Khu dich lịch
sử văn hóa Cố Đô Hoa Lư, Quảng trường Đinh Tiên Hoàng đế,... Đến nay, đã có 06
dự án đầu bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được giao cho Sở Du lịch triển
khai thực hiện với tổng mức đầu tư 9.339 tỷ đồng.
e, Đầu tư xúc tiến du lịch và quản lý du lịch
* Công tác đầu tư xúc tiến du lịch
UBND tỉnh đã ra quyết định số 2682/2001/QĐ UB, ngày 04 tháng 12 năm -
2001, thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch Ninh Bình, nhằm tăng
cường công tác xúc tiến đầu tư phát triển du lịch tại địa phương; tổ chức các dịch vụ
thông tin tuyên truyền, tiếp thquảng cáo, nghiên cứu khai thác thị trường; đào
tạo nghiệp vụ; vấn đầu tư du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch. Ngay sau khi đi
vào hoạt động, Trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đã phối hợp với các
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng
bá, xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình.
Hằng năm, Sở Du lịch phối hợp với Hiệp hội Du lịch đẩy mạnh hội hóa
trong hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia nhiều hội chợ xúc tiến du lịch
trong và ngoài nước: Hội chợ du lịch quốc tế Nội (VITM); Hội chợ du lịch quốc
tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE)…; phối hợp với Tổng cục Du lịch tham gia xúc tiến,
quảng bá du lịch Ninh Bình tại Hội chợ quốc tế tại Berlin (Đức) năm 2017, Hội chợ
du lịch quốc tế WTM tại thủ đô London-Vương Quốc Anh năm 2019; tổ chức đón
các đoàn phóng viên báo chí, các doanh nghiệp lữ hành khảo sát, xây dựng sản phẩm,
dịch vụ du lịch Ninh Bình giới thiệu cho khách du lịch; tổ chức khảo sát, kết nối
ký kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh
Hóa, Nghệ An
12
* Công tác quản lý nhà nước về du lịch
Công tác phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự; vệ sinh môi trường, an toàn thực
phẩm tại các đơn vị kinh doanh du lịch luôn được quan tâm, chú trọng. UBND các
huyện: Hoa Lư, Gia Viễn đã xây dựng Quy chế phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự, vệ
sinh môi trường kiện toàn bộ máy quản điều hành phù hợp với hoạt động du
lịch. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Giao thông - Vận tải, phối hợp với Sở Du lịch kiểm
tra, rà soát, sửa chữa, lắp đặt hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn đến các khu, điểm du
lịch tại các vị trí quan trọng trên các tuyến đường dẫn vào các khu du lịch tạo điều
kiện thuận lợi cho du khách.
Công tác quản khu, điểm du lịch thực hiện đúng quy định. Hằng năm,
UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ tphối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu
UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quy định, điều chỉnh mức phí danh lam, phí chở đò tại
các khu, điểm du lịch phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, UBND tỉnh thường
xuyên thành lập Đoàn liên ngành kiểm tra việc thực hiện các quy định của nhà nước
về giá, phí tại các khu, điểm du lịch.
Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước trong
hoạt động kinh doanh du lịch cũng nvấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
được Sở Du lịch phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai thực hiện nghiêm
túc.
• Nguyên nhân của ưu điểm
- Việt Nam quốc gia hòa bình, ổn định; các cơ chế, chính sách của Đảng
Nhà nước về du lịch ngày càng hoàn thiện, những văn bản luật, dưới luật về du
lịch, ngành nghề liên quan ngày càng rõ ràng.
- Sự quan tâm của Chính phủ dành cho ngành du lịchi chung tỉnh
Ninh Bình nói riêng.
- Có chủ trương, chính sách đúng đắn đưa ngành du lịch trở thành ngành
mũi nhọn của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh; những chính sách hợp về thu hút đầu
huy động các nguồn lực; tăngờng công tác quản của chính quyền các cấp đối
với ngành du lịch.
13
- Được sự ủng hộ, đoàn kết của cộng đồng doanh nghiệp, cộng đồng dân
cư địa phương nơi có các điểm du lịch, tạo nên sự thống nhất về ý thức và hành động
trong phát triển du lịch.
• Hạn chế và nguyên nhân
Du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh sự kỳ vọng
của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Sản phẩm du lịch kém phong phú, đa dạng, chất
lượng chưa cao. Khách đến tham quan du lịch đông nhưng lượng khách lưu trú qua
đêm đạt tỷ lệ thấp, năm 2019 chỉ đạt 10,9% trên tổng số khách tham quan du lịch;
chi tiêu của khách du lịch tại Ninh Bình chưa nhiều, doanh thu từ du lịch còn thấp
trong cơ cấu giá trị ngành dịch vụ.
Công tác quản lý nhà nước vdu lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao.
Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong
việc lúc, nơi chưa chặt chẽ. Việc kiểm tra, giám sát xử hành vi vi phạm
về trật tự xây dựng kinh doanh lưu trú du lịch trong vùng Di sản chưa kịp thời,
thiếu kiên quyết.
Doanh nghiệp du lịch chủ yếu các doanh nghiệp vừa nhỏ; nguồn vốn,
nhân lực kinh nghiệm quản còn ít. Hoạt động xúc tiến, quảng nhất việc
tiếp cận và thu hút thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm hiệu quả chưa cao;
việc tham gia các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài chưa thường
xuyên.
Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu về số lượng yếu về chất lượng. Tính
chuyên nghiệp trong kinh doanh du lịch chưa cao chưa thật sự bền vững. Một bộ
phận cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch còn thiếu kĩ năng giao tiếp,
ứng xử phục vụ khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài.
è Nguyên nhân của hạn chế:
- Tình hình thiên tai, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, bất thường,
khó ờng, nhất đại dịch Covid 19 đã gây nhiều thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến các -
mặt của đời sống kinh tế- xã hội.
14
- Các khu, điểm du lịch của tỉnh nằm đan xen với khu dân cư, do đó việc
quản lý, triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch gặp nhiều khó khăn.
- Một số dự án thực hiện không đúng tiến độ ảnh hưởng tới chất lượng
dịch vụ du lịch.
- Một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác quản
lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, việc phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản
lý hoạt động du lịch có lúc, có nơi chưa chặt chẽ.
- Nhận thức của một số cộng đồng dân về phát triển du lịch còn hạn
chế.
- Nguồn vốn nhà nước hỗ trợ phát triển du lịch còn thấp.
- Một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch chưa quan m đến
công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, công tác quảng bá, xúc tiến du lịch.
è Đánh giá chung:
Từ năm 2001 đến năm 2020, tuy còn một số hạn chế xong du lịch Ninh Bình
đã có những bước phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định vị trí, thương hiệu trong
nước quốc tế, nhiều sản phẩm du lịch mới, chất lượng dịch vụ nâng lên, giúp
tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nhất là lao động khu vực ng
thôn, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của tỉnh Ninh Bình. Đặc biệt, Quần thể
Danh thắng Tràng An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế
giới, trở thành Di sản hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á. Ninh Bình từng bước trở
thành điểm đến du lịch hấp dẫn du khách, trở thành một trong những trung m du
lịch trọng điểm của vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước.
3.5. Quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
du lịch Ninh Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
• Quan điểm, mục tiêu o
Quan điểm
- Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình phải phù hợp với Chiến lược quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam; quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
15
vùng đồng bằng ng Hồng và duyên hải Đông Bắc; đồng thời phải phù hợp với Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế hội của tỉnh Ninh Bình. -
- Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình nhằm khai thác có hiệu quả những lợi
thế về tiềm năng du lịch, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm
du lịch đặc thù, chất lượng cao, nhưng phải gắn với côngc bảo tồn, phát huy các
giá trị tự nhiên, các giá trị văn hóa lịch sử và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh,
quốc phòng và phát triển bền vững.
- Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình không thể ch rời mối liên kết hợp c
với các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng; với các tỉnh trong cả nước
và mối liên kết hợp tác quốc tế theo hành lang Đông – Tây.
- Phát triển du lịch Ninh Bình cần quan tâm đến lợi ích của cộng đồng
dân cư; đảm bảo cho cộng đồng được tham gia và hưởng lợi từ hoạt động cung cấp
dịch vụ du lịch, từ đó ng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ tài
nguyên và môi trường du lịch.
o Mục tiêu
a, Mục tiêu chung
Đến năm 2030, Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch của vùng đồng bằng
sông Hồng và của cả nước, ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo
động lực để thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển.
b, Mục tiêu cụ thể
- Về khách du lịch:
+ Năm 2025 thu hút từ 8,0 đến 9,0 triệuợt khách du lịch, trong đó có 1,5
triệu lượt khách quốc tế và 1,8 triệu lượt khách lưu trú;
+ Năm 2030 thu hút 2,1 triệu lượt khách quốc tế (trong đó 0,9 triệu lượt
khách lưu trú) 11,2 triệu lượt khách nội địa (trong đó có 3,9 triệu lượt khách lưu
trú).
- Về tổng thu từ du lịch:
16
+ Năm 2025 đạt từ 8.000 tỷ đồng trở lên; +
Năm 2030 đạt trên 27.200 tỷ đồng.
- Về cơ sở lưu trú:
+ Năm 2025 có 11.500 buồng lưu trú, 2.300 buồng xếp hạng từ 3-5 sao; +
Năm 2030 có 22.800 buồng lưu trú, 7.000 buồng xếp hạng từ 3-5 sao.
- Về nguồn nhân lực du lịch:
+ Năm 2025 có 32.000 lao động du lịch, có 12.000 lao động trực tiếp;
+ Năm 2030 có 60.000 lao động du lịch, có 20.000 lao động trực tiếp.
• Một số giải pháp chủ yếu
Thứ nhất, giải pháp về cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù để thu hút đầu
tư phát triển du lịch
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: rà soát ban hành quy định về ưu đãi
thuế; chuyển ưu đãi thuế theo hướng ưu đãi sau đầu (ưu đãi về thuế suất, miễn,
giảm thuế) sang hướng ưu đãi trực tiếp cho nhà đầu tư tại các khu du lịch trọng điểm.
- Thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu: kiến nghđược miễn giảm thuế nhập
khẩu đối với các trang thiết bị chuyên dùng, các vật xây dựng, các phương tiện
vận chuyển khách du lịch công nghệ cao trong các dự án phát triển du lịch mà trong
nước chưa sản xuất được phải nhập khẩu (như ôtô điện, tàu điện monorail, cầu trượt,
máng trượt, canô, dù lượn, khinh khí cầu...).
- Thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước:
đối với các nhà đầu tư vào các khu, điểm du lịch sinh thái; khu công viên văn hóa có
các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí... được thực hiện theo Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư.
Thứ hai, giải pháp về tổ chức quản lý
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa n tỉnh; quản
lý chặt chẽ các nhà hàng du lịch đạt chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
17
Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện các quy chế quản các khu, điểm du lịch, các
khu di tích lịch sử... nhằm tạo hành lang pháp lý để quản lý, đầu tư, khai thác và phát
triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Tăng cường chế liên kết, hợp tác, phối hợp trong
hoạt động du lịch giữa các ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh.
- Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả quy hoạch du lịch: xác định
ranh giới quy hoạch du lịch trên địa bànc phân khu chức năng; các khu, điểm du
lịch... làm căn cứ quản đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch; từng bước
lập, điều chỉnh quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch để triển khai các dự án.
Thứ ba, giải pháp về phát triển thị trường và đa dạng hóa sản phẩm du
lịch
- Nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty du lịch lữ hành quốc tế
trên địa bàn tỉnh; mở rộng hành lang liên kết du lịch với các thị trường du lịch trong
và ngoài nước, với các đơn vị tổ chức du lịch để tăng hiệu quả kinh doanh du lịch.
- Xác định xu hướng phát triển du lịch trên thế giới, trong khu vực, trong
nước, xác định các thị trường mục tiêu, thị trường trọng điểm với các đặc điểm, nhu
cầu cụ thể... trên cơ sở đó xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch phù hợp cho từng thị
trường, chất lượng cao, khả năng cạnh tranh nhằm thu hút khách du lịch
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ tư, giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch
- Nghiên cứu, xây dựng chính sách đào tạo, bồi ỡng, nâng cao chất
lượng chuyên môn (đặc biệt là về quản lý quy hoạch, quản lý và thẩm định các dự án
du lịch, quản bảo vệ môi trường, về xúc tiến quảng du lịch...) đối với các
cán bộ quản nnước về du lịch; chính sách hỗ trợ cán bộ nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ.
- Tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về ứng xử văn hóa,
văn minh du lịch.
Thứ năm, giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển du lịch
18
- Ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ sạch trong các khách sạn, khu du
lịch nhằm góp phần bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững.
- Sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường trong xây dựng các
sở vật chất kỹ thuật du lịch, đảm bảo hạn chế việc thay đổi môi trường cảnh quan
trong xây dựng…
- Tạo điều kiện về cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng vật liệu tre
luồng các vật liệu khác thân thiện môi trường trong các công trình du lịch, ứng
dụng công nghệ thông tin, hệ thống du lịch thông minh trong quản tài nguyên du
lịch, các khu, điểm du lịch; trong công tác điều hành, trong kinh doanh du lịch.
Thứ sáu, giải pháp liên kết và hợp tác trong phát triển du lịch
Phát triển du lịch Ninh Bình phải nằm trong chiến lược liên kết, hợp tác chung
của du lịch cả nước vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm liên kết hợp tác trong
việc xây dựng kết nối các tuyến du lịch, xây dựng các tour du lịch, phát triển các sản
phẩm du lịch và liên kết, hợp tác trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch
chất lượng cao.
Thứ bảy, giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với
biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
- Tuyên truyền, giáo dục đến cộng đồng, đến các doanh nghiệp và khách
du lịch về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra việc chấpnh các quy định về bảo vệ môi trường tại các cơ sở lưu trú du
lịch, tại các khu điểm du lịch... Xây dựng bổ sung nhà vệ sinhng cộng đạt chuẩn
tại các điểm du lịch.
- Nâng cao nhận thức toàn hội về tác động của biến đổi khí hậu
nước biển ng đối với hoạt động phát triển du lịch; lồng ghép các phương án thích
ứng với biến đổi khí hậu trong các quy hoạch và các dự án đầu tư du lịch (đặc biệt là
các dự án ven biển).
- Khuyến khích phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch thân
thiện với môi trường phù hợp với thực tiễn ở Ninh Bình.
| 1/34

Preview text:

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................... 1
NỘI DUNG ........................................................................................ 2
1. Lịch sử hình thành tỉnh Ninh Bình ............................................. 2
2. Điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Ninh Bình .................................. 3
2.1. Vị trí địa lý .............................................................................................. 3
2.2. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 3
3. Nội dung phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình ............................ 4
3.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ................................................................... 4
3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ................................................................. 5
3.3. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình .... 6
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân ........................................................ 7
3.5. Quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
du lịch Ninh Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 ..................... 14
3. Giới thiệu khái quát về Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình ...... 19
4. Nhật ký hành trình .................................................................... .20
5. Bài học từ chuyến đi thực tế chính trị - xã hội ......................... 29
KẾT LUẬN ...................................................................................... 31 LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện theo kế hoạch số 2353-CV/HVBCVTT-ĐT ngày 11 tháng 5 năm
2023 về việc đi nghiên cứu thực tế tại tỉnh Ninh Bình đối với lớp đại học chính quy
Truyền thông chính sách khoá 41 từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2023.
Tham gia chuyến đi có TS. Nguyễn Thanh Nga, ThS. Lưu Thị Thu Phương Chủ
nhiệm lớp học, ThS. Tào Thị Khánh Hà cùng 70 học viên của lớp Truyền thông chính sách khoá 41.
Trong suốt hành trình, đoàn chúng em được tìm hiểu, trải nghiệm, tham quan
tận mắt qua các công trình, địa danh văn hoá, lịch sử như: cố đô Hoa Lư, Vườn chim
Thung Nham, hang Bụt, động Vái Giời, phố cổ Hoa Lư…mỗi nơi, mỗi địa danh cho
đoàn chúng em những cảm nhận khó quên về vùng đất và con người ở đây. Và đặc
biệt trong chương trình chuyến đi thực tế này, em và các bạn học viên trong lớp đã
được nghe báo cáo về công tác phát triển du lịch và quản lý Nhà nước về du lịch của
tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi đã giúp cho các học viên có được những kiến thức thực tế
dựa trên những kiến thức của chương trình đào tạo, làm căn cứ thực hiện bài thu
hoạch. Ngoài ra, chuyến đi đã tạo điều kiện cho các học viên giao lưu, học hỏi, xây
dựng tinh thần đoàn kết, thân ái, hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành các mục tiêu của khóa học. 1 NỘI DUNG
1. Lịch sử hình thành tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh ven biển cực Nam của châu thổ sông Hồng, phía Bắc
giáp Hà Nam, đông và đông bắc giáp Nam Định, đông nam giáp vịnh Bắc bộ, tây bắc
giáp Hòa Bình và phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa.
Tỉnh có diện tích 1387,5 km2 với dân số gần 100 vạn người, bao gồm 8 đơn
vị hành chính bao gồm 2 thành phố: Thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp và
6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh và huyện Kim Sơn.
Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang.
Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu,
thuộc Lương là châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12
sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành
Trường An. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng
Long, và Ninh Bình nằm trong phủ Trường An. Nhưng đến cuối đời Lý có lúc gọi là
châu Đại Hoàng Giang. Năm Quang Thuận 10 (1469) đời Lê Thánh Tông định bản
đồ toàn quốc, chia trấn Trường Yên làm 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan thuộc trấn
Sơn Nam với trung tâm đặt tại Vân Sàng. Đời Lê Trung hưng gọi là trấn Thanh Hoa ngoại.
Đời Tây Sơn và đầu Nguyễn vẫn gọi là Thanh Hoa ngoại trấn, gồm 2 phủ:
phủ Trường Yên (sau đổi là Yên Khánh) gồm 3 huyện: Yên Khang (sau đổi là Yên
Khánh), Yên Mô, Gia Viễn, và phủ Thiên Quan (sau đổi là Nho Quan) gồm 3 huyện:
Yên Hoá, Phụng Hoá, Lạc Thổ (sau đổi là Lạc Yên). Năm Gia Long 5 (1806) đổi
Thanh Hoa ngoại trấn làm đạo Thanh Bình. Năm thứ 12 (1831) đổi làm tỉnh Ninh
Bình, quan đầu tỉnh là tuần phủ, đặt dưới quyền của tổng đốc Hà Ninh (quản hạt cả
vùng Hà Nội đến tận Ninh Bình). Cho đến đời Đồng Khánh không thay đổi. Đầu đời
Thành Thái cắt huyện Lạc Yên về tỉnh Hoà Bình mới lập.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà
Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1918. Ngày 23
tháng 11 năm 1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan. Ngày 7 2
tháng 2 năm 2007, chuyển thị xã Ninh Bình thành thành phố Ninh Bình. Ngày 6
tháng 4 năm 2015, chuyển thị xã Tam Điệp thành thành phố Tam Điệp.
2. Điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Ninh Bình 2.1. Vị trí địa lý
Ninh Bình nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc bộ, bắt đầu từ 19o50 đến 20o26
vĩ độ Bắc; 105o32 đến 106o20 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp Hà Nam; phía Đông
giáp Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây và Tây Nam giáp Thanh
Hóa; phía Tây giáp Hòa Bình. Diện tích đất tự nhiên gần 1.400 km2, dân số trên 984
nghìn người . Địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía
Tây và Tây Bắc, vùng đồng bằng ở phía Đông và vùng ven biển ở phía Nam. Sự đa
dạng về địa hình, kết hợp hài hòa giữa rừng núi với sông hồ, đất ngập nước, đồng
bằng và duyên hải đã tạo cho Ninh Bình một tiềm năng du lịch lớn với cảnh quan
thiên nhiên, hệ sinh thái độc đáo, phong phú, đa dạng.
2.2. Điều kiện tự nhiên Địa hình
Địa hình có 3 vùng rõ rệt là đồng bằng, vùng ven biển,vùng đồi núi và bán sơn địa.
Vùng đồng bằng độ cao khoảng 0,9 - 1,2m, chiếm 101.000 ha tương đương
khoảng 71,1% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, là nơi tập chung dân cư đông đúc. Đất
đai chủ yếu là đất phù sa nên rất phát triển nông nghiệp trồng lúa và hoa màu.
Vùng ven biển kéo dài trên 15km bờ biển. Có 4 xã ven biển thuộc huyện Kim
Sơn: xã Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông và Kim Tân. Đất đai nhiễm mặn do bị bồi
tụ nên đang trong quá trình cải tạo, phù hợp với việc trồng các loài cây như sú, vẹt
để phòng hộ. Ngoài ra, có thể trồng cói, trồng một vụ lúa và nuôi trồng thủy hải sản.
Vùng đồi núi và bán sơn địa nằm ở phía Tây và Tây Nam của Ninh Bình, độ
cao t 90 - 120m riêng khu vực núi đá có độ cao trên 200m. Diện tích khoảng
35.000ha, chiếm 24% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Do địa hình nhiều đồi núi nên vùng
này tập trung 90% diện tích trồng rừng của toàn tỉnh, rất thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp. 3 Tài nguyên
Tài nguyên đất: Đất phù sa tập trung ở vùng đồng bằng thích hợp cho thâm
canh hoa màu. Đất Feralit ở vùng bán sơn nguyên lại phù hợp cho việc trồng rừng và
các loại cây ăn quả, cây dược liệu.
Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình có núi đá vôi với diện tích lớn, khoảng
12.000ha. Với trữ lượng chục tỷ mét khối đá vôi và chục triệu tấn dolomit, hàm lượng
MgO chiếm 17 - 19% chất lượng tốt. Ngoài ra, còn có trữ lượng nhỏ than bùn để
phục vụ sản xuất vi sinh, sản xuất nông nghiệp.
Tài nguyên biển: Nhờ có đường bờ biển dài 15km, Ninh Bình có lợi thế để
phát triển các ngành kinh tế biển như nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, xây dựng các
nhà máy, khu công nghiệp chế biến.
Tài nguyên nước: Ninh Bình có nhiều con sông lớn phân bố đều ở cả 3 vùng.
Phải kể đến các con sông lớn như sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bến Đang, sông
Vạc, sông Càn,...Bên cạnh sông còn có các hồ, các kênh có trữ lượng, hàm lượng
Magie - Cacbonat và khoáng chất cao.
3. Nội dung phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình
3.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Một trong những yếu tố tạo nên điểm nhấn, sự độc đáo của du lịch Ninh Bình
đó là sự tồn tại của một hệ thống núi đá vôi Karst già với diện tích hàng ngàn hecta
tập trung ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh, hình thành nhiều danh thắng nổi
tiếng, từ lâu đã thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước đến thăm quan.
Trong số đó phải kể đến khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, khu du lịch sinh thái
Tràng An, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (hang Cá, hang Bóng...),
Vườn Quốc gia Cúc Phương (động Người Xưa, động Trăng Khuyết)...
Ninh Bình cũng là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất so với các tỉnh đồng bằng
sông Hồng với trên 29 nghìn hecta. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Cố đô Hoa
Lư một hệ sinh thái rừng rất đặc sắc. Rừng Cúc Phương là điển hình cho loại rừng
nhiệt đới ở Việt Nam (22 nghìn hecta). Đây là Vườn Quốc gia đầu tiên, đồng thời là
nơi bảo tồn động, thực vật quý hiếm đầu tiên của Việt Nam với gần 2.000 loài thực 4
vật bậc cao, khoảng 2.600 loài động vật. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
Long, đặc trưng cho hệ sinh thái đất ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng đồng
bằng sông Hồng (trên 3.000 hecta).
Cùng với hệ sinh thái rừng độc đáo, đa dạng, Ninh Bình có gần 20km bờ biển
tập trung ở huyện Kim Sơn. Vùng ven biển Kim Sơn được đánh giá là một bộ phận
quan trọng của khu dự trữ sinh quyển thế giới với diện tích trên 105 nghìn hecta. Đặc
biệt, nơi đây có Cồn Nổi cách bờ biển khoảng 5km, diện tích nổi của Cồn Nổi trên
500 hecta, độ thoải nông, cát mịn, sóng lớn, nước trong, cát vàng,… Hiện nay, Cồn
Nổi đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh cho chủ trương, phê duyệt quy hoạch, đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng, các điều kiện thiết yếu của khu du lịch sinh thái.
Là địa phương có hệ thống sông, ngòi tương đối dày đặc, bao gồm sông Đáy,
sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sông Lạng, sông Sào Khê… chảy theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam đổ ra biển. Trong số các sông của Ninh Bình thì sông Hoàng
Long chảy qua địa phận huyện Gia Viễn nơi có nhiều cảnh quan đẹp và làng quê
mang đậm bản sắc tiêu biểu cho làng quê Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Hồng có giá trị du lịch cao.
3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Ninh Bình là vùng đất cổ, nơi ghi dấu sự khai sinh của nước Đại Cồ Việt và
kinh đô Hoa Lư - kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở
Việt Nam với các dấu ấn lịch sử và hình ảnh của người anh hùng dân tộc Đinh Tiên
Hoàng: thống nhất giang sơn, đánh Tống, bình Chiêm cách đây hơn một nghìn năm…
đã để lại những di tích lịch sử và giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất địa linh, nhân kiệt. Lễ hội truyền thống
Ninh Bình có 312 di sản văn hóa phi vật thể bao gồm đầy đủ các loại hình,
trong đó có 228 lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của các làng quê Việt
Nam. Những lễ hội lớn như Lễ hội Hoa Lư (huyện Hoa Lư), Lễ hội đền Thái Vi (xã
Ninh Hải, huyện Hoa Lư), Lễ hội chùa Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn), Lễ
hội Báo bản Nộn Khê (xã Yên Từ, huyện Yên Mô), Lễ hội đầu xuân của dân tộc
Mường (xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan), Lễ Hội đền Dâu, Quán Cháo (phường Nam 5
Sơn, thành phố Tam Điệp); Lễ hội Tràng An (tại Khu du lịch sinh thái Tràng An)
được tổ chức vào ngày 18/3 âm lịch hằng năm, Lễ hội đền thờ Nguyễn Công Trứ (xã
Quang Thiện, huyện Kim Sơn)… Làng nghề truyền thống
Ninh Bình có 75 làng nghề cấp tỉnh, trong đó có 01 làng nghề cây cảnh, 1
làng nghề xây dựng, 01 làng nghề ẩm thực, 02 làng nghề bún, 70 làng nghề thủ công
truyền thống… Nhiều làng nghề đã và đang được đưa vào khai thác phục vụ du lịch
như làng nghề thêu ren Văn Lâm, chạm khắc đá Ninh Vân, gốm Gia Thuỷ, mỹ nghệ
cói Kim Sơn, đồ gỗ Phúc Lộc, làng đá cảnh Bình Khang, gốm Bồ Bát… Hàng năm,
các làng nghề giải quyết việc làm cho nhiều người dân nông thôn có việc làm và thu
nhập, góp phần vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới…
Nghệ thuật truyền thống
Ninh Bình là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền nằm trong những sinh hoạt
ca nhạc cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Năm 2020, tỉnh có 91 nghệ thuật trình diễn
dân gian, tiêu biểu như: Chèo; tuồng, múa rối, hát ru, cò lả, hát xẩm, hát chầu văn, ca
trù, đối đáp giao duyên... Ẩm thực
Địa hình đa dạng, phong tục, tập quán văn hoá truyền thống lâu đời đã tạo
nên nét độc đáo, hấp dẫn đặc biệt trong văn hoá ẩm thực Ninh Bình với nhiều món
ăn nổi tiếng với du khách trong nước và quốc tế, nhiều món ăn được Trung tâm sách
kỷ lục Việt Nam công nhận như: đặc sản dê núi Trường Yên, cơm cháy Ninh Bình,
nem Yên Mạc; bún mọc Kim Sơn; cá rô Tổng Trường; cá tràu tiến vua; mắm tép Gia
Viễn; rượu cần Nho Quan; rượu Lai Thành - Kim Sơn…
3.3. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình
• Những thế mạnh, cơ hội
Tài nguyên du lịch Ninh Bình rất đa dạng và phong phú. Tài nguyên du lịch
nhân văn và tự nhiên đan quyện vào nhau, hỗ trợ nhau tạo nên sức hút đối với khách
du lịch trong và ngoài nước. Ninh Bình có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt,
đường cao tốc rất thuận cho phát triển du lịch; đặc biệt có Di sản kép (Di sản văn hóa 6
và thiên nhiên thế giới – Quần thể danh thắng Tràng An) đây là một trong 31 di sản
hỗn hợp của thế giới, là di sản hỗn hợp thứ 11 của khu vực Châu Á Thái Bình Dương,
di sản hỗn hợp đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.
Khả năng khai thác các giá trị tài nguyên du lịch của Ninh Bình tương đối
thuận lợi do đặc điểm phân bố và điều kiện khai thác. Trong cùng một khu vực, các
điểm du lịch có nhiều đặc điểm tương đồng về mặt tự nhiên, nhưng quá trình sử dụng
và khai thác của con người đối với mỗi điểm lại khác nhau, nên đã tạo nên những
cảnh quan văn hóa, sự cảm nhận thú vị, riêng có cho mỗi du khách khi đến thăm quan. • Một số thách thức
Nhận thức của xã hội về phát triển du lịch còn hạn chế.
Ninh Bình là khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của các yếu tố thời tiết bất lợi
như bão, lụt, hạn hán và biến đổi khí hậu. Tác động của hoạt động phát triển đô thị,
công nghiệp nhanh chóng đã ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên. Du lịch
Ninh Bình phát triển trong điều kiện ở mức thấp, song lại phải cạnh tranh rất lớn với
các địa phương khác như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,… Cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch còn hạn chế, thiếu các khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp, các khu vui chơi,
giải trí để giữ khách du lịch lưu trú qua đêm. Đội ngũ lao động trong lĩnh vực hoạt
động du lịch thiếu về số lượng, yếu về tính chuyên nghiệp.
Các điểm tài nguyên của Ninh Bình có mật độ tương đối dày, một số điểm có
những tương đồng về loại hình như Tam Cốc, Tràng An, Vân Long, dẫn đến sự trùng
lắp, làm giảm tính hấp dẫn của mỗi điểm. Tài nguyên du lịch nhân văn tương đối
phong phú, tuy nhiên đa phần mới chỉ là ở dạng tiềm năng, chưa thực sự trở thành
một sản phẩm của kinh tế du lịch, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, nghệ thuật hát Xẩm.
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân • Ưu điểm
a, Chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Ninh Bình về 7 phát triển du lịch
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV (năm 2001)
đã xác định: “Tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phong phú về cảnh quan thiên
nhiên, về di tích lịch sử, kiến trúc, về điều kiện giao thông thuận lợi, những cơ sở vật
chất đã được đầu tư xây dựng và những kinh nghiệm trong các năm qua, tạo bước
phát triển mới về du lịch trong 5 năm tới”. Để cụ thể hóa đường lối phát triển du lịch
của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, ngày 18/12/2001 Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban
hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về "Phát triển du lịch từ nay đến 2010". Đây là nghị
quyết đầu tiên của Tỉnh ủy về phát triển du lịch với quan điểm chỉ đạo: phải thực sự
coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế của tỉnh.
Ngày 13/7/2009, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIX) đã ban hành Nghị
quyết số 15-NQ/TU về Phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến
năm 2030. Nghị quyết đề ra 5 quan điểm phát triển du lịch Ninh Bình, đó là:
Thứ nhất, xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Phát triển du lịch
là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân.
Thứ hai, phát triển du lịch bền vững, từng bước đưa du lịch sớm trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Thứ ba, coi trọng tính hiệu quả, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực lưu trú, vui
chơi giải trí, làng nghề, mua sắm, ẩm thực.
Thứ tư, phát triển du lịch phải gắn với Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gắn với an ninh, quốc phòng.
Thứ năm, đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động du lịch, nâng cao vai trò quản lý
nhà nước về du lịch; gắn phát triển du lịch với giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020
đã khẳng định: “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa kinh tế du
lịch vào thời kỳ tăng tốc, phát triển kinh tế du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn,
xây dựng và hoàn thiện chính sách, khuyến khích các thành phần kinh tế. Phát triển
đồng bộ các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch”. Nhằm thực hiện thắng lợi 8
Nghị quyết, ngày 04/8/2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định số 313-
QĐ/TU về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển các lĩnh vực
dịch vụ, du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 – 2020. Ngày 30/8/2018 UBND tỉnh
đã ban hành Quyết định số 1124/QĐ-UBND, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó tập trung
vào một số nội dung: quan điểm quy hoạch, mục tiêu phát triển, định hướng phát
triển, các giải pháp và chính sách phát triển du lịch.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 (tháng
10/2020) tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh ngành dịch vụ theo hướng có trọng
tâm, trọng điểm; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trở thành trung tâm
du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng và của cả nước. Tập trung đầu tư và thu hút
đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược cho phát triển du lịch, đa dạng hóa các
sản phẩm du lịch; hoàn thiện các dự án hạ tầng du lịch trọng điểm”.
b, Phát triển các loại hình du lịch
Với tài nguyên phong phú, Ninh Bình đã khai thác và tập trung phát triển các
loại hình du lịch: tham quan danh lam thắng cảnh; văn hóa - tâm linh; sinh thái; nghỉ
dưỡng; vui chơi giải trí, thể thao cuối tuần; biển, sinh thái biển; bổ trợ. Hiện nay,
Ninh Bình tiếp tục tổ chức và định hướng phát triển nhiều nhóm các sản phẩm du
lịch thuộc các loại hình trên, cụ thể: -
Nhóm các sản phẩm du lịch tham quan danh lam thắng cảnh: tham quan,
nghiên cứu Quần thể danh thắng Tràng An; tham quan, nghiên cứu Cố đô Hoa Lư,
khu Tam Cốc - Bích Động, Thạch Bích - Thung Nắng, Thung Nham, Hang Bụt, Hang
Ghé, Hang Chùa; tham quan, nghiên cứu khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
Long; khu vực suối khoáng nóng Kênh Gà... -
Nhóm các sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh: tham quan, nghiên cứu
các di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư; tham quan, nghiên cứu các di tích lịch sử
văn hóa khu vực Tam Cốc - Bích Động; Chùa Bái Đính… -
Nhóm các sản phẩm du lịch sinh thái: tham quan, nghiên cứu các hệ
sinh thái ở khu quần thể danh thắng Tràng An; Vườn quốc gia Cúc Phương... 9 -
Nhóm các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng: du lịch nghỉ dưỡng vùng sinh
thái Vân Long; vườn quốc gia Cúc Phương (vùng đệm); Hồ Đồng Chương, Hồ Yên
Thắng, Hồ Đồng Thái; suối khoáng nóng Kênh Gà, nước khoáng Cúc Phương... -
Nhóm các sản phẩm du lịch vui chơi giải trí, thể thao cuối tuần: du lịch
chơi golf (Tràng An, Hoàng Gia...); du lịch thủy phi cơ, khinh khí cầu (Tràng An, hồ Đồng Thái...);… -
Nhóm sản phẩm du lịch biển, sinh thái biển: du lịch tắm, nghỉ dưỡng
biển (Cồn Nổi); du lịch tham quan rừng ngập mặn Kim Sơn; du lịch tham quan khu
vực nuôi thủy sản; thưởng thức đặc sản biển Kim Sơn...
c, Công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch
Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch Ninh Bình nói chung và Di
sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An nói riêng được
tỉnh đặc biệt quan tâm, đầu tư cả về kinh phí, phương thức tổ chức, triển khai với
nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như: quảng bá du lịch tấm lớn; phát hành ấn
phẩm, tài liệu với 04 ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp, Nhật; trên các phương tiện thông tin
đại chúng như báo, đài truyền hình trong nước và quốc tế; trên các trang thông tin
điện tử của ngành du lịch; tạo điều kiện cho các hãng phim trong nước và quốc tế
chọn cảnh ghi hình tại các khu, điểm du lịch của tỉnh. Đây là cơ hội tốt để giới thiệu,
quảng bá về các giá trị văn hóa, lịch sử và con người Ninh Bình đến với bạn bè trong nước và quốc tế.
d. Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch
Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành “Cơ chế,
chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh du
lịch”, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành và áp dụng Quy định về ưu đãi,
khuyến khích đầu tư vào các khu du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm tạo thêm sức hút đối
với các nhà đầu tư. Nhiều dự án đã hoàn thiện, nhiều hạng mục công trình của các
dự án đã đưa vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả, tiêu biểu như:
Emeralda resort, khách sạn Ninh Bình Legend, Hoàng Sơn Peace, The Reed, Hidden 10
Charm, Bái Đính;… các cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm như: Sân golf Hoàng
Gia, Sân golf Tràng An, siêu thị Big C..; các khu, điểm du lịch lớn như: khu du lịch
sinh thái Tràng An, khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính; Hang Múa,…
Kết cấu hạ tầng du lịch tiếp tục được tỉnh quan tâm đầu tư, nâng cấp, nhất là
ở các khu du lịch trọng điểm, như: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Khu di tích lịch
sử văn hóa Cố Đô Hoa Lư, Quảng trường Đinh Tiên Hoàng đế,... Đến nay, đã có 06
dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được giao cho Sở Du lịch triển
khai thực hiện với tổng mức đầu tư 9.339 tỷ đồng.
e, Đầu tư xúc tiến du lịch và quản lý du lịch
* Công tác đầu tư xúc tiến du lịch
UBND tỉnh đã ra quyết định số 2682/2001/QĐ-UB, ngày 04 tháng 12 năm
2001, thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch Ninh Bình, nhằm tăng
cường công tác xúc tiến đầu tư phát triển du lịch tại địa phương; tổ chức các dịch vụ
thông tin tuyên truyền, tiếp thị quảng cáo, nghiên cứu và khai thác thị trường; đào
tạo nghiệp vụ; tư vấn đầu tư du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch. Ngay sau khi đi
vào hoạt động, Trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đã phối hợp với các
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng
bá, xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình.
Hằng năm, Sở Du lịch phối hợp với Hiệp hội Du lịch đẩy mạnh xã hội hóa
trong hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia nhiều hội chợ xúc tiến du lịch
trong và ngoài nước: Hội chợ du lịch quốc tế Hà Nội (VITM); Hội chợ du lịch quốc
tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE)…; phối hợp với Tổng cục Du lịch tham gia xúc tiến,
quảng bá du lịch Ninh Bình tại Hội chợ quốc tế tại Berlin (Đức) năm 2017, Hội chợ
du lịch quốc tế WTM tại thủ đô London-Vương Quốc Anh năm 2019; tổ chức đón
các đoàn phóng viên báo chí, các doanh nghiệp lữ hành khảo sát, xây dựng sản phẩm,
dịch vụ du lịch Ninh Bình giới thiệu cho khách du lịch; tổ chức khảo sát, kết nối và
ký kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An… 11
* Công tác quản lý nhà nước về du lịch
Công tác phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự; vệ sinh môi trường, an toàn thực
phẩm tại các đơn vị kinh doanh du lịch luôn được quan tâm, chú trọng. UBND các
huyện: Hoa Lư, Gia Viễn đã xây dựng Quy chế phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự, vệ
sinh môi trường và kiện toàn bộ máy quản lý điều hành phù hợp với hoạt động du
lịch. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Giao thông - Vận tải, phối hợp với Sở Du lịch kiểm
tra, rà soát, sửa chữa, lắp đặt hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn đến các khu, điểm du
lịch tại các vị trí quan trọng trên các tuyến đường dẫn vào các khu du lịch tạo điều
kiện thuận lợi cho du khách.
Công tác quản lý khu, điểm du lịch thực hiện đúng quy định. Hằng năm,
UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu
UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quy định, điều chỉnh mức phí danh lam, phí chở đò tại
các khu, điểm du lịch phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, UBND tỉnh thường
xuyên thành lập Đoàn liên ngành kiểm tra việc thực hiện các quy định của nhà nước
về giá, phí tại các khu, điểm du lịch.
Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước trong
hoạt động kinh doanh du lịch cũng như vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
được Sở Du lịch phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai thực hiện nghiêm túc.
• Nguyên nhân của ưu điểm -
Việt Nam là quốc gia hòa bình, ổn định; các cơ chế, chính sách của Đảng
và Nhà nước về du lịch ngày càng hoàn thiện, những văn bản luật, dưới luật về du
lịch, ngành nghề liên quan ngày càng rõ ràng. -
Sự quan tâm của Chính phủ dành cho ngành du lịch nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng. -
Có chủ trương, chính sách đúng đắn đưa ngành du lịch trở thành ngành
mũi nhọn của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh; những chính sách hợp lý về thu hút đầu tư và
huy động các nguồn lực; tăng cường công tác quản lý của chính quyền các cấp đối với ngành du lịch. 12 -
Được sự ủng hộ, đoàn kết của cộng đồng doanh nghiệp, cộng đồng dân
cư địa phương nơi có các điểm du lịch, tạo nên sự thống nhất về ý thức và hành động
trong phát triển du lịch.
• Hạn chế và nguyên nhân
Du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và sự kỳ vọng
của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Sản phẩm du lịch kém phong phú, đa dạng, chất
lượng chưa cao. Khách đến tham quan du lịch đông nhưng lượng khách lưu trú qua
đêm đạt tỷ lệ thấp, năm 2019 chỉ đạt 10,9% trên tổng số khách tham quan du lịch;
chi tiêu của khách du lịch tại Ninh Bình chưa nhiều, doanh thu từ du lịch còn thấp
trong cơ cấu giá trị ngành dịch vụ.
Công tác quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao.
Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong
việc có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Việc kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm
về trật tự xây dựng và kinh doanh lưu trú du lịch trong vùng Di sản chưa kịp thời, thiếu kiên quyết.
Doanh nghiệp du lịch chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; nguồn vốn,
nhân lực và kinh nghiệm quản lý còn ít. Hoạt động xúc tiến, quảng bá nhất là việc
tiếp cận và thu hút thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm hiệu quả chưa cao;
việc tham gia các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài chưa thường xuyên.
Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Tính
chuyên nghiệp trong kinh doanh du lịch chưa cao và chưa thật sự bền vững. Một bộ
phận cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch còn thiếu kĩ năng giao tiếp,
ứng xử phục vụ khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài.
è Nguyên nhân của hạn chế: -
Tình hình thiên tai, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, bất thường,
khó lường, nhất là đại dịch Covid-19 đã gây nhiều thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến các
mặt của đời sống kinh tế- xã hội. 13 -
Các khu, điểm du lịch của tỉnh nằm đan xen với khu dân cư, do đó việc
quản lý, triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch gặp nhiều khó khăn. -
Một số dự án thực hiện không đúng tiến độ ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ du lịch. -
Một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác quản
lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, việc phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản
lý hoạt động du lịch có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. -
Nhận thức của một số cộng đồng dân cư về phát triển du lịch còn hạn chế. -
Nguồn vốn nhà nước hỗ trợ phát triển du lịch còn thấp. -
Một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch chưa quan tâm đến
công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, công tác quảng bá, xúc tiến du lịch. è Đánh giá chung:
Từ năm 2001 đến năm 2020, tuy còn một số hạn chế xong du lịch Ninh Bình
đã có những bước phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định vị trí, thương hiệu trong
nước và quốc tế, có nhiều sản phẩm du lịch mới, chất lượng dịch vụ nâng lên, giúp
tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nhất là lao động khu vực nông
thôn, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của tỉnh Ninh Bình. Đặc biệt, Quần thể
Danh thắng Tràng An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế
giới, trở thành Di sản hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á. Ninh Bình từng bước trở
thành điểm đến du lịch hấp dẫn du khách, trở thành một trong những trung tâm du
lịch trọng điểm của vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước.
3.5. Quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
du lịch Ninh Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
• Quan điểm, mục tiêu o Quan điểm -
Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình phải phù hợp với Chiến lược và quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam; quy hoạch tổng thể phát triển du lịch 14
vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc; đồng thời phải phù hợp với Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình. -
Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình nhằm khai thác có hiệu quả những lợi
thế về tiềm năng du lịch, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm
du lịch đặc thù, chất lượng cao, nhưng phải gắn với công tác bảo tồn, phát huy các
giá trị tự nhiên, các giá trị văn hóa lịch sử và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh,
quốc phòng và phát triển bền vững. -
Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình không thể tách rời mối liên kết hợp tác
với các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng; với các tỉnh trong cả nước
và mối liên kết hợp tác quốc tế theo hành lang Đông – Tây. -
Phát triển du lịch Ninh Bình cần quan tâm đến lợi ích của cộng đồng
dân cư; đảm bảo cho cộng đồng được tham gia và hưởng lợi từ hoạt động cung cấp
dịch vụ du lịch, từ đó nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ tài
nguyên và môi trường du lịch. o Mục tiêu a, Mục tiêu chung
Đến năm 2030, Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch của vùng đồng bằng
sông Hồng và của cả nước, ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo
động lực để thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. b, Mục tiêu cụ thể - Về khách du lịch:
+ Năm 2025 thu hút từ 8,0 đến 9,0 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 1,5
triệu lượt khách quốc tế và 1,8 triệu lượt khách lưu trú;
+ Năm 2030 thu hút 2,1 triệu lượt khách quốc tế (trong đó có 0,9 triệu lượt
khách lưu trú) và 11,2 triệu lượt khách nội địa (trong đó có 3,9 triệu lượt khách lưu trú).
- Về tổng thu từ du lịch: 15
+ Năm 2025 đạt từ 8.000 tỷ đồng trở lên; +
Năm 2030 đạt trên 27.200 tỷ đồng. - Về cơ sở lưu trú:
+ Năm 2025 có 11.500 buồng lưu trú, 2.300 buồng xếp hạng từ 3-5 sao; +
Năm 2030 có 22.800 buồng lưu trú, 7.000 buồng xếp hạng từ 3-5 sao.
- Về nguồn nhân lực du lịch:
+ Năm 2025 có 32.000 lao động du lịch, có 12.000 lao động trực tiếp;
+ Năm 2030 có 60.000 lao động du lịch, có 20.000 lao động trực tiếp.
• Một số giải pháp chủ yếu
Thứ nhất, giải pháp về cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù để thu hút đầu tư phát triển du lịch -
Thuế thu nhập doanh nghiệp: rà soát và ban hành quy định về ưu đãi
thuế; chuyển ưu đãi thuế theo hướng ưu đãi sau đầu tư (ưu đãi về thuế suất, miễn,
giảm thuế) sang hướng ưu đãi trực tiếp cho nhà đầu tư tại các khu du lịch trọng điểm. -
Thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu: kiến nghị được miễn giảm thuế nhập
khẩu đối với các trang thiết bị chuyên dùng, các vật tư xây dựng, các phương tiện
vận chuyển khách du lịch công nghệ cao trong các dự án phát triển du lịch mà trong
nước chưa sản xuất được phải nhập khẩu (như ôtô điện, tàu điện monorail, cầu trượt,
máng trượt, canô, dù lượn, khinh khí cầu...). -
Thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước:
đối với các nhà đầu tư vào các khu, điểm du lịch sinh thái; khu công viên văn hóa có
các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí... được thực hiện theo Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư.
Thứ hai, giải pháp về tổ chức quản lý -
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh; quản
lý chặt chẽ các nhà hàng du lịch đạt chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. 16
Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện các quy chế quản lý ở các khu, điểm du lịch, các
khu di tích lịch sử... nhằm tạo hành lang pháp lý để quản lý, đầu tư, khai thác và phát
triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Tăng cường cơ chế liên kết, hợp tác, phối hợp trong
hoạt động du lịch giữa các ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh. -
Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả quy hoạch du lịch: xác định
ranh giới quy hoạch du lịch trên địa bàn các phân khu chức năng; các khu, điểm du
lịch... làm căn cứ quản lý và đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch; từng bước
lập, điều chỉnh quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch để triển khai các dự án.
Thứ ba, giải pháp về phát triển thị trường và đa dạng hóa sản phẩm du lịch -
Nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty du lịch lữ hành quốc tế
trên địa bàn tỉnh; mở rộng hành lang liên kết du lịch với các thị trường du lịch trong
và ngoài nước, với các đơn vị tổ chức du lịch để tăng hiệu quả kinh doanh du lịch. -
Xác định xu hướng phát triển du lịch trên thế giới, trong khu vực, trong
nước, xác định các thị trường mục tiêu, thị trường trọng điểm với các đặc điểm, nhu
cầu cụ thể... trên cơ sở đó xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch phù hợp cho từng thị
trường, có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh nhằm thu hút khách du lịch và
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ tư, giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch -
Nghiên cứu, xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất
lượng chuyên môn (đặc biệt là về quản lý quy hoạch, quản lý và thẩm định các dự án
du lịch, quản lý và bảo vệ môi trường, về xúc tiến quảng bá du lịch...) đối với các
cán bộ quản lý nhà nước về du lịch; có chính sách hỗ trợ cán bộ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. -
Tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về ứng xử văn hóa, văn minh du lịch.
Thứ năm, giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển du lịch 17 -
Ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ sạch trong các khách sạn, khu du
lịch nhằm góp phần bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững. -
Sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường trong xây dựng các cơ
sở vật chất kỹ thuật du lịch, đảm bảo hạn chế việc thay đổi môi trường cảnh quan trong xây dựng… -
Tạo điều kiện về cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng vật liệu tre
luồng và các vật liệu khác thân thiện môi trường trong các công trình du lịch, ứng
dụng công nghệ thông tin, hệ thống du lịch thông minh trong quản lý tài nguyên du
lịch, các khu, điểm du lịch; trong công tác điều hành, trong kinh doanh du lịch.
Thứ sáu, giải pháp liên kết và hợp tác trong phát triển du lịch
Phát triển du lịch Ninh Bình phải nằm trong chiến lược liên kết, hợp tác chung
của du lịch cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm liên kết hợp tác trong
việc xây dựng kết nối các tuyến du lịch, xây dựng các tour du lịch, phát triển các sản
phẩm du lịch và liên kết, hợp tác trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao.
Thứ bảy, giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với
biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng -
Tuyên truyền, giáo dục đến cộng đồng, đến các doanh nghiệp và khách
du lịch về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường tại các cơ sở lưu trú du
lịch, tại các khu điểm du lịch... Xây dựng bổ sung nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn tại các điểm du lịch. -
Nâng cao nhận thức toàn xã hội về tác động của biến đổi khí hậu và
nước biển dâng đối với hoạt động phát triển du lịch; lồng ghép các phương án thích
ứng với biến đổi khí hậu trong các quy hoạch và các dự án đầu tư du lịch (đặc biệt là các dự án ven biển). -
Khuyến khích phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch thân
thiện với môi trường phù hợp với thực tiễn ở Ninh Bình. 18