






Preview text:
Biện chứng LLSX & QHSX
Phương thức sản xuất là
◻cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai
đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
vd: Một ví dụ về phương thức sản xuất là phương thức sản xuất tư bản. Đây
là phương thức sản xuất mà trong đó người sở hữu vốn đầu tư vào các
phương tiện sản xuất và thuê người lao động để sản xuất hàng hóa.
◻sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất, trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ song trùng (Người
với người, người với tự nhiên)
vd: Trong phương thức sản xuất cổ xưa, lực lượng sản xuất thấp kém, người
lao động chỉ sử dụng những công cụ lao động đơn giản. Quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất là quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thủy,
trong đó người lao động làm chung, chia chung sản phẩm lao động, không có
sự phân chia lớp xã hội.
Lực lượng sản xuất là
Về cấu trúc được xem xét trên 2 mặt:
LLSX là sự kết hợp giữa lao động sống với lao động vật hóa tạo ra sức sx
Lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động và tư liệu sản xuất
Người lao động: Yếu tố con người (trí tuệ, sức khỏe, chuyên môn, kinh
nghiệm...) Tư liệu SX: Tư liệu lao động và đối tượng lao động
Tư liệu lao động: Những cái con người dùng để tác động lên đối tượng lao
động nhắm biến đổi đối lượng lao động thành sản phẩm
Tư liệu lao động gồm: công cụ lao động và phương tiện lao động Đối tượng lao động:
Đối tượng trong tự nhiên như đất, rừng, cá
Đối tượng đã qua chế biến như điện, xi măng
Trong yếu tố làm nền lực lượng sản xuất thì yếu tố con người đóng vai trò yếu tố
cơ bản, quyết định và quan trọng nhất. Vì con người có trình độ ko ngừng
phát triển, sáng tạo ra công cụ, phương tiện lao động, đề ra kế hoạch, lựa
chọn phương pháp và trực tiếp sử dụng công cụ và phương tiện lao động sáng tạo ra sản phẩm
Công cụ lao động là yếu tố động nhất của LLSX, biểu hiện năng lực thực tiễn
của con người ngày càng phát triển
Khoa học ngày càng có vai trò quan trọng đóng dần trở thành nguyên nhân
trực tiếp biến đổi cả sản xuất và đời sống Quan hệ sản xuất là
1) Tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sx vật chất
2) Là quan hệ vật chất quan trọng nhất
Quá trình sx vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình
thống nhất gồm sx, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất Quan hệ sx bao gồm:
◻Quan hệ về sở hữu tư liệu sx
◻Quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau
◻Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Các mặt trong quan hệ sx có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi
phối, ảnh hưởng lẫn nhau. Quan hệ về sở hữu tư liệu sx giữ vai trò quyết
định bản chất và tính chất của quan hệ sx
3) Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan
4) Là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội
Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX
Sự vận động và phát triển của phương thức sx bắt đầu từ sự biến đổi của lực lượng sx
Lực lượng sx (nội dung vật chất): là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng
động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển
Quan hệ xản xuất (hình thức XH): là hình thức xã hội của quá trình sản xuất
có tính ổn định tương đối
Nếu có người hỏi vì sao? Trả lời:” Quan hệ sản xuất là một phần không thể thiếu
của cơ cấu xã hội, bao gồm các quy định, quyền lực, trách nhiệm và vai trò của
các tầng lớp trong xã hội.
Quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với người, do con người
tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người”
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Lực lượng sản xuất ảnh hưởng đến quan hệ sản xuất thông qua việc cung cấp
nguồn lực cần thiết cho quan hệ sản xuất và Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng ảnh
hưởng đến lực lượng sản xuất thông qua việc quản lý và phân phối nguồn lực
đó. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ
thống nhất biện chứng, có sự ràng buộc, phụ thuộc và tác động lẫn nhau, từ
đó tạo thành quá trình sản xuất của xã hội
Ví dụ: Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lực lượng sản xuất phát triển, xuất hiện các công
nghệ mới như máy tính, internet, robot, trí tuệ nhân tạo,… Quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất là quan hệ xã hội hóa, trong đó người lao động
là chủ sở hữu và quản lý các phương tiện sản xuất, và phân phối công bằng
sản phẩm và dịch vụ. Quan hệ sản xuất này làm cho lực lượng sản xuất được
phát huy tối đa và tạo ra nhiều giá trị cho xã hội, đồng thời giải quyết được
nhiều vấn đề và bất công xã hội.
Cơ sở khách quan quy định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sx là do
◻biện chứng giữa sx và nhu cầu con người
◻tính năng động và cách mạng của sự phát triển của công cụ lao động
◻vai trò của người lao động là chủ thể sáng tạo – lực lượng sx hàng đầu
◻tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sx trong tiến trình lịch sử
Lực lượng sx vận động, phát triển không ngừng mâu thuẫn với sự “đứng im”
tương đối của lực lượng sản xuất
Quan hệ sx từ chỗ “tạo địa bàn” phát triển lực lượng sx trở thành “xiềng xích”
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sx
Vd: Trong thời kỳ công nghiệp hóa, lực lượng sản xuất của xã hội tư bản có sự
phát triển vượt bậc, nhờ vào sự ra đời của các máy móc. Những công nghệ mới
này giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, quan hệ
sản xuất tư bản vẫn giữ nguyên bản chất áp bức người lao động bằng cách
chiếm đoạt lợi nhuận từ quá trình sản xuất.
Người tư bản sử dụng các máy móc để thay thế người lao động. Người lao
động bị đẩy vào tình trạng nghèo đói. Quan hệ sản xuất tư bản trở thành rào cản
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, và gây ra những mâu thuẫn xã hội
như khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, đấu tranh giai cấp, và cách mạng.
Vì vậy đòi hỏi tất yếu của nền sx xã hội là phải xóa bỏ những quan hệ sx cũ
thiết lập quan hệ sx mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sx mới.
C.Mác đã nêu vai trò của sự phát triển lực lượng sx đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội
“những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sx. Do có
những lực lượng sx mới -> loài người thay đổi phương thức sx -> thay đổi tất
cả những quan hệ xã hội của mình”
Vd: cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng
hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp.
Đây là 2 vd mà C. Mác đã đưa ra để chỉ ra vai trò quyết định của lực lượng
sản xuất đối với sự hình thành và thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội. C. Mác
dùng ví dụ về cái cối xay để minh họa cho ý tưởng này. Cái cối xay quay bằng
tay là một phương tiện sản xuất đơn giản, thích hợp với xã hội phong kiến, nơi có quan hệ
sản xuất dựa trên sự phân chia theo địa vị, giai cấp và nô lệ. Cái cối xay chạy
bằng hơi nước là một phương tiện sản xuất phức tạp, tiên tiến, thích hợp với xã hội
tư bản công nghiệp, nơi có quan hệ sản xuất dựa trên sự phân chia theo lao động
và sở hữu tư nhân. C. Mác muốn nói rằng, nếu xã hội phong kiến sử dụng cái
cối xay chạy bằng hơi nước, thì xã hội đó sẽ không còn là xã hội phong kiến nữa,
mà sẽ trở thành xã hội tư bản công nghiệp và Ngược lại. Lực lượng sản xuất
quyết định mức độ phát triển của nền kinh tế và xã hội, và tạo ra những
điều kiện cho sự ra đời của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, con người phát hiện và giải quyết mâu
thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
Câu hỏi tương tác với lớp (nếu cần):
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có thể thay đổi theo ý muốn của
con người hay không? Tại sao?
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không thể thay đổi theo ý muốn của
con người một cách tùy tiện, mà phải tuân theo quy luật của sự phát triển vật
chất và xã hội. Con người chỉ có thể thay đổi lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất khi có những điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi, và phải trải qua những
cuộc đấu tranh, cách mạng, chiến tranh… để thay đổi quan hệ sản xuất cũ,
thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất -Quan hệ sản xuất
Là hình thức xã hội của quá trình sản xuất nên tác động mạnh mẽ trở lại đối
với lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượngsản xuất là vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái
trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển của lực lượng sản xuất”
của lực lượng sản xuấtvà “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù hợp bao gồm:
◻Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố các thành phương thức sản xuất
◻Tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp các yếu tố của lực lượng sảnxuất
Sự phù hợp của QHSX với LLSX quy định mục đích, xu hướng phát triển của
nền sản xuất xã hội, hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Sự tác động của QHSX đối với LLSX diễn ra theo 2 chiều hướng:
◻Thúc đẩy khi QHSX phù hợp
◻Kìm hãm khi QHSX không phù hợp, thậm chí phá hoại LLSX.
Do QHSX “đi sau” hoặc “vượt trước” trình độ phát triển của LLSX
Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa LLSX và QHSX diễn ra
từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình độ cao hơn
Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất,
trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động. Muốn xoá bỏ một quan hệ
sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt,
vận dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức
sâu sắc sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vận dụng ngành truyền thông
Trong ngành truyền thông hiện tại, biện chứng lực lượng sản xuất giúp chúng
ta nhận thức được sự phát triển nhanh chóng và liên tục của công nghệ thông
tin và truyền thông, làm cho lực lượng sản xuất trong ngành truyền thông ngày
càng hiện đại và đa dạng. Điều này đòi hỏi quan hệ sản xuất trong ngành
truyền thông phải thích ứng và đổi mới theo sự phát triển của lực lượng sản
xuất, tạo ra những quan hệ hợp tác, cạnh tranh và phân chia công việc phù hợp
với nhu cầu và tiềm năng của các đối tượng tham gia vào quá trình sản xuất và
tiêu dùng thông tin và truyền thông.
Vd: ví dụ về sự thích ứng và đổi mới của quan hệ sản xuất trong ngành truyền
thông là sự hình thành và phát triển của các hình thức kinh doanh mới như
kênh YouTube, podcast, blog, vlog, influencer, v.v. Những hình thức này cho
phép người dùng trở thành những nhà sản xuất thông tin và truyền thông độc
lập, kiếm được thu nhập từ quảng cáo, tài trợ, đóng góp, v.v. Những hình thức
này cũng tạo ra những quan hệ hợp tác, cạnh tranh và phân chia công việc
giữa các nhà sản xuất và tiêu dùng thông tin và truyền thông .
Phát triển nghề nghiệp ở tương lai
Trong phát triển nghề nghiệp của mình ở tương lai, biện chứng lực lượng
sản xuất giúp em có thể lựa chọn và sử dụng những công cụ lao động hiệu quả
nhất để tạo ra những sản phẩm thông tin và truyền thông chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu và yêu cầu của xã hội. Đồng thời, biện chứng lực lượng sản xuất cũng giúp
em có thể tham gia vào những quan hệ sản xuất tiến bộ, công bằng và dân
chủ, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của mình trong ngành truyền thông.
Những điều em có thể làm ở tương lai để góp phần nâng cao Quan hệ sản xuất
và phát triển Lực lượng sản xuất
Học tập và nghiên cứu sâu sắc về lý luận và thực tiễn của quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất trong truyền thông, để có được những kiến thức và kỹ năng
cần thiết để phân tích và đánh giá tình hình ngành truyền thông nói riêng và
xã hội nói chung một cách khách quan và khoa học.
Tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị và văn hóa, để góp phần xây dựng
và bảo vệ những quan hệ sản xuất tiến bộ, công bằng và dân chủ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và nhu cầu của nhân dân.
Sáng tạo và đổi mới trong công việc của mình, để tận dụng và phát huy
những tiềm năng của lực lượng sản xuất, đặc biệt là công nghệ thông tin và
truyền thông, để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, góp phần
nâng cao năng suất lao động và đời sống xã hội.
Vd: trong quảng bá và truyền thông, em có thể tạo ra các video, poster, meme,
v.v. để nói về các chủ đề như bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, bình
đẳng giới, v.v. Những sản phẩm này giúp em truyền đạt thông điệp của mình
đến nhiều người, gây ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội. Bổ sung
Tác động đối với XHCN
Trong XHCN, do những điều kiện khách quan và chủ quan quy định, quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có những
đặc điểm tác động riêng. Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đòi hỏi tất yếu phải thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu. Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần loại trừ đối
kháng xã hội. Sự phù hợp không diễn ra “tự động”, đòi hỏi trình độ tự giác
cao trong nhận thức và vận dụng quy luật. Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thể bị “biến dạng” do nhận
thức và vận dụng không đúng quy luật.