



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: TRƯƠNG THỊ BÍCH HẠNH
SINH VIÊN: TRẦN THỊ MINH ANH
MÃ SINH VIÊN: 20031672 LỚP: QH-2020-X.QTH KHOA: QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2021 Đề bài: Câu 1:
“Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Cũng như người cầm lái có vững
thuyền mới chạy”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2011, tr. 289.). SV chọn 1 trong 3 nội dung sau đây để chứng minh cho luận điểm trên:
Đảng lãnh đạo giành chính quyền (1930-1945); Đảng lãnh đạo kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mĩ (1954-1975); Đảng lãnh đạo đổi mới đất nước (1986 đến nay). Câu 2:
Bình luận về chương trình Đối diện: Chống “nhạt Đảng, khô Đoàn”. Suy nghĩ
của anh/chị về lý tưởng sống của thanh niên hiện nay. Bài làm: Câu 1:
Trong tác phẩm Đường Kách Mệnh, Hồ Chí Minh có đặt ra câu hỏi: “Cách mệnh
trước hết phải có gì?” và Người đã trả lời rằng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh.”.
Hồ Chí Minh đã đưa ra luận điểm đề cao vai trò của Đảng trong cách mạng: “Đảng có
vững mệnh mới thành công. Cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Luận
điểm này được minh chứng rõ ràng trong lịch sử khi Đãng lãnh đạo giành chính quyền giai đoạn 1930 – 1945.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là kết quả của sự chuẩn bị đầy
đủ các điều kiện về tư tưởng, chính trị và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc; sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào tình hình nước; là thành quả của sự
kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự
ra đời của Đảng cũng là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của dân tộc
Việt Nam và trở thành nhân tố quan trọng và hàng đầu giúp cách mạng VIệt Nam giành thắng lợi.
Trong quá trình lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền giai đoạn 1930 – 1945,
Đảng đã trải lãnh đạo các cao trào cách mạnh nổi bật như cao trào cách mạng 1930 –
1931, khôi phục phong trào 1932 – 1935; cao trào dân chủ 1936 – 1939, và cao trào 2
giải phóng dân tộc 1939 – 1945, trong đó có Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Phong
trào cách mạng nổi bật đầu tiên trong giai đoạn 1930 – 1945 là phong trào cách mạng
1930 – 1931 và khôi phục phong trào 1932 – 1935. Tác động của phong trào cách
mạng thế giới có ảnh hưởng tích cực đến cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng
1929 – 1933 khiến các nước tư bản lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, làm
cho những mâu thuẫn trong xã hội tư bản phát triển gay gắt. Phong trào đấu tranh của
công nhân và quần chúng lao động dâng cao. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với
thực dân Pháp và sai phát triển gay gắt. Hậu quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh
tế 1929 – 1933 đối với Việt Nam là làm trầm trọng thêm tình trạng đói khổ của tầng
lớp nhân dân lao động. Đầu 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân
đảng lãnh đạo đã bị thất bại. Chính quyền Pháp tiến hành khủng bố dã man những
người yêu nước. Điều này làm cho mâu thuẫn giữa cả dân tộc Việt Nam với thực dân
Pháp và tay sai vô cùng gay gắt. Đây là nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến phong
trào đấu tranh của quần chúng.
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cùng với Cương lĩnh chính trị
đúng đắn. Đến đây, Đảng đã giành quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt
Nam. Đảng tiến hành tập hợp lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc, kịp thời lãnh đạo
nhân dân bước vào một thời kì đấu tranh mới. Với sự ra đời của Đảng, những mâu
thuẫn giai cấp xã hội đã trở thành một phong trào tự giác trên quy mô rộng lớn. Như
vậy, Đảng ra đời là nguyên nhân chủ yếu và có ý nghĩa quyết định đối với phong trào 1930 – 1931.
Từ tháng 01 đến tháng 04 /1930, ba cuộc bãi công tiêu biểu của 3000 công nhân
đồn điền cao su Phú Riềng, 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định và 400 công nhân
nhà máy Cưa và nhà máy Diêm – Bến Thuỷ đã mở đầu phong trào. Từ tháng 05/1930,
phong trào phát triển lên thành cao trào. Ngày 01/05/1930, nhân dân cả nước tổ chức
kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động với những hình thức đấu tranh phong phú với sự
tham gia của công nhân, nông dân, và nhân dân thành thị. Từ tháng 06 đến tháng
08/1930, đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh ở nhiều địa phương, tiêu biểu là cuộc tổng bãi
công của công nhân khu công nghiệp Bến Thủy – Vinh (08/1930), đánh dấu “một thời
kỳ mới, thời kỳ đấu tranh kịch liệt đã đến” . Ở Nghệ An và Hà Tĩnh cũng diễn ra nhiều 1
1 Báo Người lao khổ, cơ quan ngôn luận của Xứ ủy Trung Kỳ, số 13, ngày 18-9-1930. 3
cuộc biểu tình lớn, tiêu biểu là cuộc biểu tình của nông dân Hưng Nguyên (12/09/1930).
Trước sức mạnh của phong trào cách mạng, bộ máy chính quyền của địch ở
nhiều nơi bị tan rã. Chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều nơi. Các tổ chức
Đảng chủ trương xây dựng “một chính quyền cách mạng dưới hình thức các uỷ ban tự
quản theo kiểu Xô viết” .
2 Một hình mẫu chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam
giai đoạn này chính là Xô viết Nghệ – Tĩnh. Đây là một chính quyền nhà nước của
dân, do dân, vì dân. Các Xô viết được thành lập và thi hành những chính sách tiến bộ
đã giúp Xô viết Nghệ – Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931. Khi
chính quyền Xô viết ra đời và là đỉnh cao của cao trào cách mạng, từ cuối 1930, thực
dân Pháp đã tập trung mọi lực lượng nhằm đàn áp phong trào khốc liệt, kết hợp giữa
bạo lực với lừa bịp chính trị . Phong trào cách mạng tổn thất nặng nề . “Các tổ chức
của Đảng và của quần chúng tan rã hầu hết” .3
Mặc dù bị tổn thất nặng nề, nhưng cao trào cách mạng 1930 – 1931 có ý nghĩa
lịch sử quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là
phong trào cách mạng đầu tiên do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo. Đây là một
phong trào cách mạng triệt để, diễn ra trên quy mô lớn với sự tham gia của đông đảo
quần chúng với những hình thức đấu tranh phong phú. Đây là một bước nhảy vọt trong
phong trào cách mạng Việt Nam. Phong trào khẳng định đường lối đúng đắn của
Đảng, giúp nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào đã để lại cho Đảng
nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về công tác tư tưởng, chiến lược, xây dựng khối
liên minh công – nông và mặt trận dân tộc thống nhất, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cho sau này.
Giữa lúc phong trào của quần chúng diễn ra quyết liệt, 14 – 31/10/1930, Hội nghị
lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại
Hương Cảng (Trung Quốc). Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam
thành Đảng Cộng sản Đông Dương, cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức do
Trần Phú làm Tổng bí thư và thông qua Luận cương chính trị của Đảng.
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Lịch sử |Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học hệ không chuyên
lý luận chính trị), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, trang 73.
3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, trang 20. 4
Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã xác định nhiều vấn đề cơ bản về cách
mạng. Luận cương đã xác dịnh đường lối chiến lược của cách mạng Đông Dương lúc
đầu là cách mạng tư sản dân quyền, có tính chất thổ địa và phản đế, sau đó tiến thẳng
lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng là đánh phong kiến và đánh đế quốc. Đây là hai nhiệm vụ có quan hệ khăng khít
với nhau. Giai cấp công nhân và nông dân là hai động lực chính của cách mạng, trong
đó giai cấp công nhân là động lực chính và mạnh. Lực lượng lãnh đạo cách mạng là
giai cấp công nhân mà tiên phong là Đảng Cộng sản. Luận cương cũng nêu rõ phương
pháp đấu tranh cách mạng là vũ trang bạo động, và quan hệ với cách mạng thế giới là
một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.
Mặc dù đã xác định được những vấn đề cơ bản, chiến lược của cách mạng, nhưng
Luận cương chính trị (10/1930) vẫn tồn tại một số hạn chế. Luận cương chưa nêu được
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa, không đưa ngọn cờ dân tộc lên
hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất và đánh giá không đúng
khả năng cách mạng của các tầng lớp khác ngoài công – nông. Nguyên nhân của
những hạn chế đó là nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn cách mạng thuộc địa và còn
chịu ảnh hưởng của tư tưởng “tả khuynh”.
Sau Hội nghị Trung ương tháng 10/1930, ngày 18/11/1930, Thường vụ Trung
ương Đảng ban hành Chỉ thị thành lập “Hội phản đế Đồng minh”, nhằm tập hợp, đoàn
kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Sau thất bại của phong trào 1930 – 1931, nhân dân ta bước vào cuộc đấu tranh
khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng. Do bị tổn thất nặng nề, cách mạng Việt
Nam bước vào giai đoạn đấu tranh cực kỳ gian khổ. Hội nghị Trung ương tháng
01/1931 đã quyết định nhiều vấn đề nhằm thúc đẩy đấu tranh. Các đảng viên của Đảng
dù ở trong tù vẫn đấu tranh kiên trì, bảo vệ cách mạng. Các chi bộ đảng được duy trì ở
trong nhà tù và còn ra báo bí mật để phục vụ việc huấn luyện và bồi dưỡng đảng viên
trong tù. Những đảng viên không bị bắt thì tìm cách xây dựng lại tổ chức Đảng và
quần chúng. Ngày 11/04/1931, Quốc tế Cộng sản ra Nghị quyết công nhận Đảng Cộng
sản Đông Dương là chi bộ độc lập. Đây là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng. 5
Đầu năm 1932, Lê Hồng Phong nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, cùng một số đồng chí công bố Chương trình hành
động của Đảng Cộng sản Đông Dương
(15/06/1932) với chủ trương đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân lao
động, thả tù chính trị, bỏ các thứ thuế bất công, củng cố và phát triển đoàn thể cách
mạng của quần chúng. Hưởng ứng chương trình, phong trào của quần chúng được
nhen nhóm trở lại. Cuối năm 1933, các tổ chức của Đảng dần được khôi phục và củng
cố. Đầu 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập
theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản nhằm lãnh đạo phong trào trong nước.
Đầu năm 1935, hệ thống tổ chức của Đảng được phục hồi, tạo điều kiện tiến tới
Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng (03/1935) được
họp ở Quan Công, Macao. Đại hội đã đề ra ba nhiệm vụ trước mắt là củng cố và phát
triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi và chống chiến tranh đế quốc. Đại hội đồng
thời thông qua Nghị quyết chính trị, điều lệ Đảng, vận động công nhân, nông dân, binh
lính, thanh niên, phụ nữ; về công tác trong các dân tộc thiểu số, đội tự vệ, cứu tế đỏ; và
bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 người do Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư,
Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản. Đại hội đã đánh
dấu mốc quan trọng Đảng đã khôi phục được hệ thống tổ chức, các phong trào cách
mạng quần chúng phục hồi, tạo điều kiện để bước vào một cao trào cách mạng mới.
Tuy nhiên, Đại hội vẫn chưa đề ra được một chủ trương chiến lược phù hợp với thực
tiễn cách mạng ở Việt Nam, chưa đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và
chưa tập hợp được lực lượng toàn dân tộc.
Một cao trào cách mạng nổi bật tiếp trong giai đoạn 1930 – 1945 là phong trào
dân chủ 1936 – 1939. Điều kiện lịch sử có ảnh hưởng đến phong trào dân chủ 1936 –
1939. Về bối cảnh thế giới, một trong những hệ quả của cuộc khủng hoảng 1929 –
1933 là chủ nghĩa phát xít xuất hiện. Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế
giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh thế giới. Quốc tế Cộng sản họp Đại
hội VII tại Liên Xô (07/1935) xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân thế giới là chủ
nghĩa phát xít và đề ra nhiệm vụ trước mắt là chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh,
bảo vệ dân chủ và hòa bình trên thế giới. Mặt trận nhân dân Pháp thành lập từ tháng
05/1935, sau đó là sự ra đời của Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp (1936). Chính phủ
Mặt trận nhân dân Pháp đã ban bố nhiều quyền tự do dân chủ, trả tự do cho nhiều tù 6
chính trị cộng sản. Ngay sau khi được thả ra, họ đã tham gia ngay vào công việc lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng; thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển. Ở Việt Nam, khủng
hoảng kinh tế 1929 – 1933 vẫn tiếp tục ảnh hưởng. Mọi tầng lớp xã hội đều mong chờ
những cải cách dân chủ về quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống. Đảng Cộng sản
Đông Dương đã phục hồi hệ thống tổ chức và sẵn sàng giải quyết tình hình.
Ngày 27/06/1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị tại Thượng
Hải, do Lê Hồng Phong chủ trì. Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
dân tộc dân chủ ở Đông Dương là chống đế quốc và phong kiến và nhiệm vụ trước mắt
là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự
do dân chủ, cơm áo và hoà bình. Kẻ thù trước mắt là thực dân Pháp và tay sai. Về tổ
chức, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
nhằm tập hợp các tầng lớp, giai cấp để cùng nhau đấu tranh đòi những quyền lợi dân
chủ cơ bản. Đến tháng 03/1938, Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương.Về phương pháp đấu tranh, Hội nghị quyết
định dùng các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa
hợp pháp; đồng thời tiếp tục duy trì tổ chức và đấu tranh bí mật, không hợp pháp.
Đồng chí Hà Huy Tập là Tổng Bí thư của Đảng từ tháng 8-1936 đến tháng 3-1938.
Các Hội nghị lần thứ ba (03/1937), lần thứ tư (09/1937) và Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 03/1938, đã bổ sung và phát triển nội dung Nghị quyết
Hội nghị Trung ương tháng 7/1936. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới
(10/1936), Đảng đã khẳng định phải nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Với văn kiện
này, Đảng nêu cao tinh thần đấu tranh, thẳng thắn phê phán quan điểm chưa đúng và
bước đầu khắc phục hạn chế trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông
Dương (10/1930). Đây là nhận thức mới, phù hợp với tinh thần được nêu trong Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (02/1930) và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh đã diễn ra trên quy mô lớn với
nhiều hình thức. Phong trào đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình diễn ra và thu hút
đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Nắm bắt cơ hội Quốc hội Pháp cử phái đoàn
điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương thành lập “Ủy ban trù bị Đông 7
Dương đại hội” 4 với mục tiêu thu thập “dân nguyện” 5 của quần chúng nhân dân,
chuẩn bị tiến tới triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương. Lợi dụng sự kiện
năm 1937, Gô-đa sang điều tra tình hình và Brêviê nhận chức toàn quyền Đông
Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít-tinh, “đón rước” 6, biểu tình, đưa đơn “dân
nguyện”. Trong những năm 1937 – 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình của quần chúng
diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức tổ chức quần chúng như Hội cứu tế bình dân, Hội truyền bá Quốc ngữ.
Bên cạnh phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ; Đảng cũng phát
động phong trào đấu tranh nghị trường. Phong trào đấu tranh nghị trường được thực
hiện nhằm mở rộng lực lượng của Mặt trận Dân chủ và vạch trần chính sách phản
động của thực dân, bênh vực quyền lợi của nhân dân. Đảng cũng đồng thời phát động
đấu tranh trên lĩnh vực báo chí. Đảng Cộng sản Đông Dương đã xuất bản nhiều tờ báo
công khai: Tiền phong, Dân chúng, Lao động, Tin tức…nhằm tuyên truyền, vận động
quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Một số tác phẩm chính trị tiêu biểu như:
Tờrốtxky và phản cách mạng (1937), Vấn đề dân cày (1938), Tự chỉ trích (1939) …
Nhiều tác phẩm văn học hiện thực phê phán được xuất bản: Tắt đèn, Bước đường
cùng… Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chí đã giúp nhân dân giác ngộ về đường lối
cách mạng. Hội nghị Trung ương Đảng (29 – 30/03/1938) đã quyết định lập Mặt trận
Dân chủ Đông Dương để tập hợp rộng rãi lực lượng, phát triển phong trào dân sinh
dân chủ. Hội nghị bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (09/1939), thực dân Pháp đẩy mạnh đàn
áp cách mạng.Trước tình hình đó, Đảng phải rút vào hoạt động bí mật, do đó, cuộc vận
động dân chủ kết thúc. Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là phong trào cách mạng lớn
thứ hai do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, diễn ra trên quy mô lớn, thu hút
đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức đấu tranh phong phú; buộc chính
quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Cuộc vận động
dân chủ tuy sớm kết thúc, nhưng vẫn có ý nghĩa lịch sử to lớn với lịch sử. Phong trào
dân chủ 1936 – 1939 để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; kết
hợp mục tiêu chiến lược với trước mắt, sử dụng hình thức đấu tranh. Phong trào dân 4 5
, , 6 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Lịch sử |Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học hệ không
chuyên lý luận chính trị), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, trang 87,88. 5 6 8
chủ 1936 – 1939 là cuộc diễn tập thứ hai sau phong trào 1930 – 1931 cho cuộc Tổng
khởi nghĩa tháng Tám sau này.
Một cao trào cách mạng nổi bật cuối cùng trong giai đoạn 1930 – 1945 là phong
trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945, trong đó có Cách mạng Tháng Tám 1945. Hoàn
cảnh lịch sử luôn là nhân tố quan trọng tác động đến cách mạng. Cuộc chiến tranh thế
giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng. Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ. Tháng
06/1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, chính phủ phản động Pêtanh lên cầm
quyền. Ở Châu Á – Thái Bình Dương, Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát
biên giới Việt – Trung. Tháng 09/1940, Nhật vào Đông Dương. Ở Đông Dương, thực
dân Pháp thực hiện phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách
mạng; thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu
hàng Nhật và cấu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho
nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với đế quốc và tay sai ngày càng gay gắt. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra cấp thiết.
Đứng trước tình hình đó, ngay lập tức, Đảng đã họp Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 11/1939. Hội nghị đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch
thu ruộng đất của đế quốc và các địa chủ phản bội; thay khẩu hiệu mới là khẩu hiệu lập
chính quyền dân chủ cộng hòa. Phương pháp đấu tranh chuyển từ đấu tranh đòi dân
sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền do đế quốc và tay sai nắm
giữ; chuyển từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, bất hợp
pháp. Đảng cũng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp mọi lực lượng trong
quần chúng để chống đế quốc. Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng
11/1939 đã đáp ứng được yêu cẩu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời
kỳ trực tiếp cứu nước .
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ
trì, họp tháng 05/1941, đã giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ: độc lập dân tộc
và cách mạng ruộng đất, do đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu và 9
nhấn mạnh là nhiệm vụ “bức thiết nhất” 7; tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “cách mạng
ruộng đất”, chỉ thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. Hội nghị
cũng chủ trương thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng. Việt Nam
thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Đây là mặt trận đoàn kết toàn dân
tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng. Hội
nghị cũng đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ
trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chỉ rõ một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng
lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải chớp đúng thời cơ; định hướng
đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa. Hội nghị đã hoàn chỉnh chủ trương
chiến lược giải phóng dân tộc được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng tháng 11/1939. Đồng thời, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân
tộc đứng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, khắc phục triệt để những
hạn chế của Luận cương Chính trị tháng 10/1930. Hội nghị là sự chuẩn bị về đường lối
và phương pháp cách mạng cho thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Trên cơ sở lực lượng cách mạng đã được rèn luyện từ các giai đoạn trước, bước
vào giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước 1939 – 1945 này, việc chuẩn bị lực lượng
về mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu càng được đẩy mạnh. Trước hết là chuẩn bị lực
lượng chính trị. Quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị gắn liền với quá trình xây dựng
và phát triển của Việt Minh. Các chương trình được Việt Minh phát động đáp ứng
được nguyện vọng cứu nước của mọi đồng bào nên Việt Minh ngày càng phát triển.
Cao Bằng được chọn là nơi thí điểm cho cuộc vận động xây dựng các hội “Cứu quốc”
trong mặt trận Việt Minh. Đến năm 1942, khắp các châu ở Cao Bằng đều có Hội cứu
quốc. Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Uỷ ban Việt Minh lâm thời Liên tỉnh Cao –
Bắc – Lạng được thành lập. Bắc Sơn – Võ Nhai cũng là một trung tâm chuẩn bị khởi
nghĩa. Sự ra đời và hoạt động của lực lượng vũ trang Bắc Sơn làm cho các tổ chức cứu
quốc được mở rộng về quy mô và được xây dựng rộng khắp. Tháng 02/1943, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên), vạch ra một kế
hoạch cụ thể về công cuộc chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Các đoàn thể Việt Minh,
hội Cứu quốc đều được xây dựng và củng cố ở hầu khắp nông thôn và thành thị. Năm
1943, bản Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời. Năm 1944, Đảng dân chủ Việt Nam và
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, trang 118, 119. 10
Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam được thành lập, đứng trong hàng ngũ Việt Minh. Bên
cạnh đó, Đảng cũng chú trọng công tác vận động những binh lính là người Việt trong
quân đội Pháp, những người ngoại kiều ở Đông Dương chống phát xít. Báo chí của
Đảng và của mặt trận Việt Minh đã góp công sức lớn trong việc tuyên truyền đường
lối chính sách của Đảng, dẫn dắt quần chúng đấu tranh. Quần chúng là lực lượng giữ
vai trò quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Việt Minh là nơi tổ chức,
giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị, tạo điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang
và căn cứ địa cách mạng.
Cùng với quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, Đảng đồng thời chỉ đạo xây
dựng lực lượng vũ trang. Sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (11/1940) kết thúc, lực
lượng vũ trang Bắc Sơn được duy trì để làm nguồn lực quân sự cho cách mạng. Năm
1941, những đội du kích ở khu căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai đã phát triển và lớn mạnh
lên; thống nhất thành Trung đội cứu quốc quân I (14/02/1941). Đội cứu quốc quân đã phát động chiến tranh
du kích trong suốt tám tháng (07/1941– 2/1942). Ngày
15/09/1941, Trung đội cứu quốc quân II ra đời. Ở Cao Bằng, bên cạnh lực lượng chính
trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc cũng ra đời. Cuối năm 1941, Nguyễn Ái
Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan
đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. Người biên soạn nhiều tài
liệu để huấn luyện cán bộ quân sự như “Cách đánh du kích”, “Kinh nghiệm du kích
Nga”, “Kinh nghiệm du kích Tàu”… Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của Nguyễn Ái
Quốc, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến
sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Tháng 04/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì
quyết định thống nhất lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng bán vũ trang và xây
dựng 7 chiến khu trong cả nước. Ngày 15/05/1945, Việt Nam giải phóng quân được
thành lập. Đây là sự hợp nhất của hai tổ chức Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên
truyền giải phóng quân. Lực lượng bán vũ trang cũng được xây dựng rộng khắp, ở cả
nông thôn và thành thị, gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu. Lực lượng vũ
trang tuy số lượng ít , trang thiết bị thiếu thốn, trình độ tác chiến còn non yếu, nhưng
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động vũ trang tuyên truyền, góp phần phát triển lực
lượng chính trị; đồng thời là lực lượng xung kích, nòng cốt, hỗ trợ quần chúng nổi dậy
tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Lực lượng chính trị và lực lượng 11
vũ trang là hai cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị
với đấu tranh vũ trang trong tổng khởi nghĩa toàn dân.
Để tiến hành được khởi nghĩa cần phải xây dựng căn cứ địa vững chắc. Năm
1940, sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Vùng Bắc Sơn – Võ Nhai được xây dựng thành
một trung tâm căn cứ địa. Năm 1941, Nguyển Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam. Ngay sau đó, Người đã chọn Cao Bằng làm nơi đầu tiên để xây
dựng căn cứ địa. Sau đó, căn cứ địa ngày càng được mở rộng, phát triển thành căn cứ
cách mạng nổi tiếng Cao – Bắc – Lạng. Năm 1943, Uỷ ban Việt Minh Liên tỉnh Cao –
Bắc – Lạng lập ra 19 ban Xung phong Nam tiến để phát triển lực lượng xuống các tỉnh
miền xuôi. Trong những vùng căn cứ cách mạng, các hoạt động sản xuất, xây dựng,
chiến đấu, hoạt động của các đoàn thể cứu quốc và lực lượng vũ trang vẫn được diễn
ra. Ngày 16/04/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Uỷ ban Dân tộc giải
phóng các cấp. Tháng 05/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tuyên Quang. Người
chọn Tân Trào làm trung tâm chỉ huy cách mạng. Tháng 06/1945, Khu giải phóng Việt
Bắc chính thức được thành lập. Đây là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Tân
Trào là thủ đô giải phóng. Uỷ ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập.
Công cuộc chuẩn bị lực lượng đã được tiến hành chu đáo và sẵn sàng. Toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân đã sẵn sàng đón chờ thời cơ vùng dậy Tổng khởi nghĩa.
Cuộc Tổng khởi nghĩa là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, đi từ khởi
nghĩa tưng phần tiến đến Tổng khởi nghĩa. Khởi nghĩa từng phần diễn ra từ tháng
03/1945 đến giữa tháng 08/1945. Sau khi Nhật vào Đông Dương (09/1940), Nhật và
Pháp luôn trong mối quan hệ hòa hoãn. Tuy nhiên đó chỉ là hòa hoãn tạm thời vì một
rừng không thể có hai hổ. Đến đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu
bước vào giai đoạn kết thúc. Ở mặt trận châu Á – Thái Bình Dương, quân Đồng minh
phản công, giáng cho phát xít Nhật những đòn nặng nề. Sau khi Mĩ chiếm lại Philipin,
đường biển của Nhật để đi xuống các căn cứ ở phía Nam bị cắt đứt, chỉ còn đường bộ
duy nhất qua Đông Dương. Vì thế, Nhật cần độc chiếm Đông Dương bằng mọi giá.
Sau khi Pháp được giải phóng khỏi Đức, lực lượng Pháp ở Đông Dương ráo riết chuẩn
bị, chờ quân Đồng minh vào đánh Nhật, thì sẽ khôi phục lại sự thống trị của mình. Để
trừ hậu hoạ và giữ Đông Dương làm cầu nối đi từ Trung Quốc xuống các căn cứ phía
Nam, ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Sự kiện này đã 12
tạo nên một cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Dương. Sau khi đảo chính thành công,
Nhật thi hành một loạt biện pháp nhằm củng cố quyền thống trị của mình ở Đông
Dương. 09/03/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Từ Sơn (Bắc Ninh) để
đánh giá tình hình cách mạng và đề ra chủ trương mới. Ngày 12/03/1945, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”,
xác định rõ phát xít Nhật là kẻ thù chính; thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật”
bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; chủ trương “phát động một cao trào kháng
Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”, đồng thời sẵn sàng
chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa ngay khi có đủ điều kiện.
Hưởng ứng chỉ thị của Đảng, chiến tranh du kích ngay lập tức phát triển mạnh ở
vùng rừng núi và trung du Bắc Kỳ. Tại Cao – Bắc – Lạng, Việt Nam giải phóng quân
phối hợp với lực lượng chính trị giải phóng hàng loạt châu, huyện, xã. Trước nạn đói
diễn ra trầm trọng do chính sách cướp bóc của Pháp – Nhật ở Bắc Kì, Trung Kì, Đảng
đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Phong trào đã thu hút được hàng
triệu người tham gia. Có nơi quần chúng đã giành được chính quyền từ tay giặc. Làn
sóng khởi nghĩa từng phần cũng dâng lên ở nhiều nơi trên cả nước. Việt Minh lãnh đạo
quần chúng nổi dậy ở Bắc Ninh, Hưng Yên… Ở các thành phố, nhất là Hà Nội, Huế,
Sài Gòn, hoạt động vũ trang truyên truyền, diệt giặc được đẩy mạnh. Ở Quảng Ngãi, tù
chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa (03/1945), thành
lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ và xây dựng căn cứ Ba Tơ. Tù
chính trị trong các nhà tù đế quốc đã đấu tranh đòi tự do hoặc nổi dậy phá trại giam,
vượt ngục ra ngoài hoạt động. Ở Nam Kì, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh nhất
ở Mĩ Tho và Hậu Giang. Báo chí cách mạng đều xuất bản công khai, gây ảnh hưởng chính trị dữ dội.
Cao trào kháng Nhật cứu nước đã thể hiện tinh thần nỗ lực đấu tranh giành độc
lập của nhân dân Việt Nam; đồng thời góp sức cùng Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa
phát xít. Cao trào đã làm cho kẻ thù ngày càng suy yếu, thúc đẩy thời cơ tổng khởi
nghĩa mau đến. Qua cao trào kháng Nhật, lực lượng cách mạng được tăng cường, trận
địa cách mạng được mở rộng, tạo ra đầy đủ những điều kiện chủ quan cho một cuộc
tổng khởi nghĩa. Đây là một cuộc tập dượt vĩ đại, làm cho toàn đảng, toàn dân sẵn
sàng, chủ động tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa. 13
Khi thời cơ xuất hiện, ngay lập tức chúng ta ngay lập tức chớp thời cơ để tiến
hành Tổng khởi nghĩa. Một cuộc khởi nghĩa thắng lợi khi có đủ những điều kiện chủ
quan, khách quan và nổ ra đúng thời cơ. Về điều kiện chủ quan, Đảng ta đã có sự
chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng về đường lối và phương pháp cách mạng, lực lượng cách
mạng. Tất cả đã được rèn luyện và chuẩn bị trong nhiều năm nhằm sẵn sàng và chủ
động khởi nghĩa. Tầng lớp trung gian, sau khi thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật đã
ngả hẳn về phía cách mạng. Điều kiện khách quan là tình hình thế giới lúc bấy giờ
tương đối thuận lợi. Ngày 15/08/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh
không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Điều kiện khách quan thuận lợi
cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Tuy nhiên, quân đội các nước đồng minh chuẩn bị vào
Đông Dương để giải giáp phát xít Nhật. Chính vì thế, chúng ta phải nắm bắt cơ hội khi
quân Nhật ở Đông Dương suy yếu và trước khi quân đồng minh vào giải giáp phát xít
để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Đây chính là thời cơ nghìn năm có một của cách mạng.
Ngay lập tức, Đảng đã kịp thời phát động khởi nghĩa. Ngày 13/08/1945, Trung ương
Đảng và Tổng bộ Việt Minh quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23h
cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh
Tổng khởi nghĩa trong cả nước. 14 –15/08/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở
Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa. Tiếp đó, 16 –
17/08/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của
Đảng, thông qua 10 chính sách do Việt Minh đưa ra, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc
Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Từ 14/08/1945, tuy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào tình
hình cụ thể của địa phương và vận dụng chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta”, một số cấp bộ Đảng và Việt Minh đã phát động tổng khởi nghĩa và
giành được thắng lợi. Chiều 16/08/1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, một đơn vị
của Đội Việt Nam Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng thị
xã Thái Nguyên. Ngày 18/08/1945, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là
những tỉnh giành chính quyền sớm nhất trong cả nước. Tại Hà Nội, ngày 19/08/1945,
hàng vạn nhân dân đánh chiếm cơ quan đầu não của địch. Tối 19/08, cuộc khởi nghĩa
giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi. Ngày 23/08, nhân dân Huế giành được chính
quyền. 25/08, tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn. Khởi nghĩa thắng lợi ở 3 thành phố
lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tác động đến các địa phương trong nước, quần chúng 14
các tỉnh còn lại nối tiếp nhau khởi nghĩa. Hà Tiên và Đồng Nai Thượng là những nơi
giành chính quyền muộn nhất (28/08). Chiều 30/08 vua Bảo Địa thoái vị, triều đình
phong kiến nhà Nguyễn hoàn toàn sụp đổ. Đến đây, Tổng khởi nghĩa dã hoàn toàn thắng lợi.
Ngày 25/08/1945, Chủ tich Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Uỷ ban Dân
tộc giải phóng Việt Nam từ Tân Trào về thủ đô. Ngày 28/08/1945, Uỷ ban Dân tộc
giải phóng Việt Nam đổi thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Hòa. Ngày 02/09/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Chính phủ lâm thời đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà. Bản Tuyên ngôn đã: Khẳng định quyền độc lập tự do là quyền thiêng liêng
bất khả xâm phạm mà mọi dân tộc phải được hưởng trong đó có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do. Khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt nam quyết giữ
nền độc lập tự do vừa giành được: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập,
và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”8.
Cách mạng thành công nhờ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương,
đứng đầu là Hồ Chí Minh. Đảng đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo; có quá trình
chuẩn bị lâu dài, chu đáo, rút kinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt là lãnh đạo
chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng sẵn sang cho
cách mạng và như vậy, cách mạng đã thành công.
Quan điểm “ Đảng có vững cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái
có vững thì thuyền mới chạy” đã được minh chứng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo
nhân dân giành chính quyền giai đoạn 1930 – 1945. Nhờ có Đảng dẫn dắt, phong trào
cách mạng mới giành được thắng lợi. Mặc dù bước đầu có thất bại, có khuyết điểm
nhưng Đảng luôn đề cao tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình để có thể phát triển
tốt hơn, đúng đắn hơn, có thể dẫn dắt quần chúng nhân dân đi đến thắng lợi. Đứng
trước những điều kiện bất lợi đối với cách mạng và dân tộc, Đảng luôn bình tĩnh đưa
ra chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn để giải quyết tình hình. Đảng luôn đặt ý
chí, nguyện vọng của nhân dân lên hàng đầu, lấy đó là cơ sở, động lực để bước qua
gian lao, thử thách. Càng bước qua nhiều khó khăn, càng trải qua nhiều cuộc chiến
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4 (1945 – 1946), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 3. 15
đấu, Đảng rút ra bài học kinh nghiệm để càng ngày càng mạnh mẽ và trưởng thành
hơn. Như vậy, để cách mạng thắng lợi thì có Đảng thôi chưa đủ mà Đảng phải vững
thì cách mạng mới thành công. Như người lái thuyền, có vững tay lái thì thuyền mới
có thể chạy êm, gặp nước xoáy mới có thể vượt qua, nếu không vững tay lái, thuyền sẽ
lật ngay. Đảng vững mạnh đã giúp dân tộc ta đi từ chiến thắng này đến chiến thắng
khác và đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, mở đầu kỷ nguyên
mới của dân tộc: kỷ nguyên của độc lập, tự do, nhân dân được làm chủ đất nước.
Như vậy, quá trình Đảng lãnh đạo giành chính quyền giai đoạn 1930 – 1945 đã
chứng minh được quan điểm của Bác “Đảng có vững cách mạng mới thành công cũng
như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. Đây là một quan điểm đúng đắn và
là kim chỉ nam cho việc định hướng đường lối, chủ trương của Đảng sau này. Câu 2:
Thanh niên là một bộ phận quan trọng, là vốn quý, thế mạnh trong chiến lược
phát triển của đất nước. Những đóng góp của thanh niên là vô cùng quan trong đối với
công cuộc xây dựng đất nước hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận thanh niên
trong xã hội trở nên tiêu cực, có những biểu hiện: nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính
trị. Đây là hiện tượng tiêu cực và cần loại bỏ ngay trong xã hội. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này, chương trình Đối diện số 11: chống nhạt Đảng, khô Đoàn
đã được phát sóng nhằm phổ biến và đưa ra biện pháp khắc phục vấn đề này.
Năm 2021, kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, chúng ta nhớ lại những tấm gương đã trở thành tượng đài cho thế hệ thanh niên
Việt Nam như: Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Cù Chính Lan,… Thời chiến, lý tưởng của
thanh niên là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; dù biết là có thể
sẽ hy sinh nhưng họ vẫn sẵn sàng, xung phong ra mặt trận. Đất nước đã có một thế hệ
thanh niên anh hùng như thế, sống lý tưởng như thế. Tuy nhiên, trong thời chiến, cũng
có những kẻ đi ngược lại lý tưởng cách mạng, sống cơ hội, thiếu bản lĩnh, chỉ biết nghĩ
cho bản thân mình. Khi bị địch bắt, đã có những kẻ đã phản bội lại đồng đội; khi phải
ra chiến trường, thanh niên trai tráng lại giả bệnh để được ở nhà,…Tuy chỉ là số ít
nhưng họ đã bôi đen cả một bức tranh về thế hệ thanh niên anh hùng trong cách mạng.
Ở thời chiến, khi cả nước đồng lòng nêu cao ngọn cờ đánh giặc cứu nước mà còn có 16
những con người như vậy thì ở thời bình cũng không tránh khỏi. Một bộ phận thanh
niên có suy nghĩ lệch lạc, rời xa lý tưởng cách mạng đang tồn tại trong xã hội hiện nay.
Nguyên nhân chủ quan của hiện tượng này là do nhận thức còn lệch lạc. Một bộ phận
thanh niên hiện nay ngại học, ngại rèn luyện, thiếu tu dưỡng đạo đức, sống thực dụng,
sa chân vào những cám dỗ của xã hội. Từ lệch lạc về nhận thức dẫn đến những hành
động lệch lạc, sai trái, gây ra hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Do nhận thức chưa chín
chắn, chưa đúng nên sẽ dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây ra hậu quả nghiêm
trọng cho bản thân, gia đình và xã hội. Nguyên nhân khách quan là do họ bị ảnh
hưởng, tác động bởi các luận điệu xuyên tạc nhằm vào thanh niên hiện nay.
Đoàn hiện nay dù đã đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, nhưng
Đoàn vẫn còn chậm và lúng túng trong nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để giải quyết
các vấn đề đặt ra. Công tác giáo dục của Đoàn rộng nhưng chưa sâu, nặng về hình
thức. Ngại rèn luyện, không muốn trở thành Đoàn viên, Đảng viên chính là biểu hiện
của nhạt Đảng, khô Đoàn. Xác định nội dung hoạt động Đoàn hiện nay còn khó khăn.
Hoạt động Đoàn vẫn nặng hình thức, bề nổi; còn đầu voi đuôi chuột. Đây là hiện
tượng cần có biện pháp giải quyết ngay lập tức. Các biện pháp cần thực hiện để giải
quyết hiện tượng nay là: thành lập các câu lạc bộ lý luận thanh niên để trang bị lý luận
cho thanh niên; cập nhập thông tin mới để nhận thức ngay từ đầu; cán bộ đoàn cần
tham gia sinh hoạt với các chi hội thanh niên; thành lập các nhóm đồng hành với
thanh niên trong mọi lĩnh vực..
Một trong những biện pháp quan trọng để chống nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời
chính trị là tạo ra những phong trào hiệu quả, thực chất và có sức lan toản lớn. Những
phong trào Đoàn oanh liệt, vẻ vang đã có trong lịch sử như “Ba sẵn sàng”, “Năm xong
phong”, “Tòng quân giết giặc lập công”,… Để giải quyết tình trạng thanh niên hiện
nay nhạt Đảng, khô Đoàn cần tạo ra những phong trào thật sự có ý nghĩa, hiệu quả, có
như vậy mới đem lại hiệu quả. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra,
để xây dựng và phát triển đất nước ta hiệu quả, thế hệ thanh niên Việt Nam phải không
ngừng phấn đấu, phòng ngừa bệnh phai Đoàn. Chỉ có như vậy, thanh niên mới có thể
hoàn thành sứ mệnh của mình, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
Chương trình đề cập đến một vấn đề đang trở nên phổ biến trong giới trẻ khi có
nhiều những thanh thiếu niên lệch lạc về suy nghĩ và làm ra những hành động gây rối 17
loạn trật tự xã hôi, không phù hợp thuần phong mỹ tục nhưng vẫn nghĩ là mình đúng.
Họ nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị, xa rời lý tưởng và xa rời quê hương. Đây là
hiện tượng chứ không phải bản chất của thanh niên. Bởi lẽ, bên cạnh một bộ phận
thanh niên tiêu cực như thế này, thế hệ thanh niên có những con người ưu tú, tiêu biểu,
luôn cống hiến hết sức mình vì lý tưởng sống của bản thân. Trong cuộc chiến chống
dịch Covid – 19, những cán bộ y, bác sĩ chính là những thanh niên sồng hết mình vì
đam mê, nhiệt huyết, lý tưởng của mình. Chương trình đã mang đến một cái nhìn tổng
quan về hiện tượng tiêu cực trong giới trẻ mà tiêu biểu là nhạt Đảng, khô Đoàn. Thực
trang, nguyên nhân, giải pháp đều được đưa ra nhằm giúp người xem có một cái nhìn
khái quát nhất về hiện tượng. Từ đó, người xem sẽ có những nhận thức và hành động
đúng đắn, đồng thời góp phần làm giảm đi hiện tượng tiêu cực trong thanh niên khi họ
chia sẻ chương trình đến những người thân quen. Giới trẻ ngày nay càng ít xem những
chương trình chính trị của Đảng, Nhà nước nên sự chia sẻ thông tin sẽ giúp ích đối với giới trẻ ngày nay.
Trong chương trình có đề cập đến lý tưởng sống của thanh niên. Mạch sống của
thanh niên chính là lý tưởng. Lý tưởng sống của thế hệ thanh niên thời chiến là giành
độc lập, tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, mỗi thời đại, thanh niên mang trong mình một
sứ mệnh khác nhau, vậy nên thanh niên cần có lý tưởng sống phù hợp với thời đại.
Bước vào thế kỷ XXI, bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; thanh niên càng có
vai trò quan trọng hơn với đất nước. Mang trong mình sứ mệnh lớn trong sự nghiệp
phát triển đất nước, thanh niên cần có lý tưởng sống đúng đắn, sáng suốt, phù hợp với
thời đại mới hiện nay. Vậy lý tưởng sống của thanh niên hiện nay là gì?
Lý tưởng sống trước hết là mục đích cao nhất mà mỗi con người hướng tới trong
cuộc sống. Lý tưởng sống là lý do, là khát khao mà mỗi con người mong mỏi đạt
được, là đích đến cho những cố gắng của con người trong cuộc sống. Mỗi khi chúng ta
vấp ngã, mù mịt về tương lai thì lý tưởng chính là ngọn đuốc soi đường trong tăm tối
dẫn chúng ta bước tiếp. Người có lý tưởng sống cao đẹp là người sống với lý tưởng
cao đẹp, luôn suy nghĩ và hành động tích cực, không ngừng phấn đấu và rèn luyện để
hoàn thiện bản thân. Ai trong cuộc đời cũng phải có lý tưởng sống riêng của bản thân,
có vậy thì mới sống hết mình với cuộc sống, sống đúng nghĩa sống chứ không phải là
tồn tại. Lý tưởng sống ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức, suy nghĩ và hành động 18
của giới trẻ, đặc biệt là các bạn thanh niên hiện nay. Một lý tưởng sống tốt đẹp của
thanh niên hiện nay đó chính là việc cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức, vươn lên
trong cuộc sống để bản thân mình phát triển hơn. Con người sống có lí tưởng thì sẽ có
hướng phấn đấu để vươn lên phát triển, hoàn thiện bản thân chứ không ỷ lại, chậm
tiến, sa chân vào cám dỗ. Lý tưởng sống cao đẹp là điều kiện để con người sống có ý
nghĩa giúp con người hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách và tâm hồn.
Những người có lý tưởng sống là những người biết phấn đấu, vươn lên trong
cuộc sống. Họ luôn nỗ lực hết sức mình để đạt được những mục tiêu do bản thân đặt
ra. Luôn có một trái tim tràn đầy nhiệt huyết, đam mê thúc đầy họ cố gắng. Khi vấp
ngã, nhờ có lí tưởng sống mà họ không chán nản, buông xuôi, bỏ cuộc mà tìm cách
đứng dậy để có thể đi tiếp con đường đã chọn. Cũng nhờ có lí tưởng sống họ yêu cuộc
đời hơn, cảm thấy cuộc đời này thật đáng sống. Họ yêu thương mọi người xung quanh
và muốn lan tỏa những điều tích cực đến với mọi người. Họ lan tỏa đam mê, tình yêu,
nhiệt huyết, tuổi trẻ, làm cho xã hội càng trở nên tốt đẹp hơn. Lý tưởng sống mang đến
thành quả cho con người sau bao nỗ lực cố gắng không ngừng nghỉ để thực hiện mục
tiêu đã đặt ra. Lý tưởng sống giúp chúng ta rèn luyện được những phẩm chất quý giá
như chăm chỉ, lạc quan, kiên nhẫn trong hành trình đến thành công. Lý tưởng sống
khiến chúng ta được người khác quý mến, yêu thương, tin tưởng và học tập theo.
Trong lịch sử, chúng ta đã có những tấm gương anh hùng có lý tưởng sống cao
đẹp. Họ là những chiến sĩ chiến đấu và hy sinh anh dũng cho sự nghiệp cách mạng của
dân tộc; những con người âm thầm, lặng lẽ cống hiến cho công cuộc xây dựng đất
nước. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết người thanh niên tên Nguyễn Ái Quốc.
Mang trong mình lý tưởng ra đi tìm đường cứu nước, trước khi rời bến cảng Nhà rồng,
Bác Lê – một người bạn của Bác đã hỏi tiền đâu và Bác đã đưa hai bàn tay ra và nói
tiền đây. Trong lòng người thanh niên Nguyễn Ái Quốc khi ấy là cả một bầu trời nhiệt
huyết với lý tưởng tìm ra con đường cứu nước đang sục sôi. Hay như người thanh niên
cộng sản Lý Tự Trọng, trước lúc hy sinh, anh đã khẳng khái nói: “Con đường của
thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng”. Dù hy sinh nhưng lý tưởng của anh
vẫn còn mãi. Mạch sống đó đã lan tỏa đến biết bao thế hệ thanh niên sau này, để rồi
cũng có những anh hùng bất tử như Võ Thị Sáu, Cù Chính Lan. Thế hệ trẻ hiện nay
cũng có những thanh niên có lý tưởng sống cao đẹp, sống hết mình với cuộc đời như 19
thế. Chúng ta có thể kể đến: “Cô gái vàng” Olympic Sinh học Nguyễn Phương Thảo
giành Huy chương vàng Olympic Sinh học quốc tế với số điểm cao nhất thế giới
(98,13/100 điểm); cô giáo Hà Ánh Phượng – Top 50 giáo viên toàn cầu; Hoa hậu Hoàn
vũ Việt Nam H’Hen Niê lập nên kỳ tích cho sắc đẹp Việt Nam khi xuất sắc lọt vào
TOP 5 Hoa hậu Hoàn vũ thế giới 2018. H’Hen Niê còn là niềm cảm hứng cho hàng
triệu người trẻ trong nước và quốc tế với những hoạt động thiện nguyện hướng về
cộng đồng… Họ chính là tiêu biểu cho thế hệ thanh niên có lý tưởng sống cao đẹp,
luôn “cháy” hết mình với tuổi trẻ, với đam mê.
Sống có lý tưởng sống cao đẹp mang đến ý nghĩa lớn lao và thiết thực như vậy,
nhưng không phải ai cũng nhận thức được điều này. Hiện nay, vẫn tồn tại một bộ phận
không nhỏ các thanh niên sống mà không có tới lí tưởng sống, bị tha hóa về lí tưởng
sống, hay có lý tưởng sống sai lệch. Có những người không có mục đích, lý tưởng;
sống không phương hướng; và rồi họ sẽ trở thành người vô dụng, không giúp ích gì
cho xã hội. Họ biến lý tưởng sống thành một bóng tối mù mịt chứ không phải là ngọn
đuốc soi đường cho họ nữa. Những người sống không có ước mơ, hoài bão, vô cảm sẽ
sớm bị xã hội đào thải. Những thanh niên sống không có lý tưởng sẽ dễ dàng sa chân
vào vực sâu của cám dỗ và tệ nạn. Tính đến giữa năm 2020, có 230.000 nghiện ma
túy, trong đó: 48% từ 16 – 30 tuổi, 76% dưới 35 tuổi. Thống kê về tội phạm giất người
2014 – 2019, có 7.000 vụ giết người, trong đó hung thủ từ độ tuổi 16 – 30 chiếm 63%.
(Nguồn: Bộ Công An). Khi đã ngã vào hố sâu của cám dỗ, của tệ nạn, họ sẽ đắm chìm
trong cái xấu, cái sai; chôn vùi sức trẻ, nhiệt huyết của tuổi trẻ trong sai trái. Bên cạnh
đó, xã hội hiện nay vẫn tồn tại cả những thanh niên có lý tưởng sống sai lệch, không
đúng đắn, không phù hợp với thuần phong mỹ tục. Có lẽ chúng ta không xa lạ gì với
Ngô Bá Khá – Khá Bảnh. Đây là một thanh niên có lý tưởng sống sai lệch khi coi
những hành vi lệch chuẩn, phạm tội của mình là đúng đắn và xem mình như là idol của
giới trẻ. Ngô Bá Khá đã bị tuyên phạt hơn 10 năm tù vì tội đánh bạc và tổ chức đánh
bạc vì cái sai, tội lỗi của mình. Tuy nhiên, rời vành móng ngựa, Khá vẫn thản nhiên
vẫy tay chào fan hâm mộ như thể idol, như thể không nhận thức được những hành vi
sai trái của bản thân. Đây chính là một hiện tượng thanh niên có lý tưởng sống sai
lệch, và đang khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Muốn trở nên nổi tiếng, muốn làm
idol nhưng lại làm sai cách, hành động sai trái, vi phạm pháp luật. 20