1
PHẦN 1: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
CHỦ ĐỀ 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ
Câu 1: Phân tích ảnh hưởng của vị trí địa lí và lãnh thổ nước ta tới thiên nhiên.
Hướng dẫn:
- Vị trí địa lãnh thổ quy định tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên nước ta. Tính chất đó
thể hiện ở tất cả các thành phần tự nhiên:
+ Địa hình: Các quá trình ngoại lực ( phong hóa hóa học, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ ) diễn ra mạnh,
làm cho địa hình nước ta phổ biến các dạng địa hình xâm thực ( địa hình cac-xtơ với các hang động, suối
cạn, thung khô,..; địa hình các đồi thấp xen thung lũng rộng các thềm phù sa cổ, các mương xói, khe
rãnh,...) và địa hình bồi tụ ( bãi bồi, cồn đất, đồng bằng phù sa,...)
+ Khí hậu: Do nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu Bắc, trong khu vực gió mùa châu Á thường
xuyên chịu ảnh hưởng của Tín phong, giáp Biển Đông rộng lớn nên khí hậu nước ta khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa.
+ Sông ngòi : Chế độ nước thể hiện chế độ mưa theo mùa của khí hậu. Trong năm , sông ngòi hai
mùa lũ và kiệt, có đỉnh lũ, đỉnh kiệt và phân hóa rõ rệt theo lãnh thổ. Tính thất thường của khí hậu gió mùa
kéo theo tính thất thường của chế độ nước sông ( năm lớn, năm hạn nặng; năm nhiều, năm ít; năm
lũ cao, năm lũ thấp; năm có lũ kéo dài,...)
+ Đất : Tính chất nhiệt đới ẩm của khí hậu làm cho quá trình hình thành đất đặc trưng quá trình
feralit.
+ Sinh vật : Phổ biếnhệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa; thảm thực vật bốn mùa xanh tươi, giàu
sức sống.
- Vị trí nằm khu vực tiếp giáp giữa lục địa đại dương, nơi giao nhau của các vành đai sinh
khoáng lớn, trên đường di lưu di cư của nhiều loài sinh vật nên nước ta tài nguyên khoáng sản vài
nguyên sinh vật rất đa dạng.
- Nước ta nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai như: bão, áp thấp nhiệt đới, lụt, hạn
hán,...
- Lãnh thổ nước ta hẹp ngang, trải dài theo kinh tuyến trên nhiều độ nên tự nhiên sự phân hóa
rệt theo chiều bắc – nam.
Câu 2: Tại sao nói Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều loại gió?
Hướng dẫn:
Việt Nam nằm ở vị trí tiếp xúc giữa các loại gió từ các hướng đông bắc, tây nam:
- Trước hết, Việt Nam là nơi tràn qua của hai luồng gió mùa Đông Bắc và Tây Nam.
+ Khối khí cực lục địa ( NPc ) xuống xa về phía nam, trung bình đến vĩ tuyến 16
0
B. Những đợt gió mùa
Đông Bắc cực mạnh có thể xuống đến vĩ tuyến 12 – 10
0
B, thậm chí quét qua cả Nam Bộ.
+ Khối khí xích đạo ( Em) nguồn gốc Nam bán cầu tiến xa lên phía Bắc, cao nhất đến Hoa Nam. Gió
này được gọi là gió mùa Tây Nam.
- Việt Nam còn nơi gặp gỡ giữa luồng gió từ phía tây nam, phía Ấn Độ Dương vịnh Ben-gan thổi
tới; gió này thổi từ áp cao chí tuyến Bắc Ấn Độ Dương đến.
- Việt Nam còn đón luồng gió từ lưỡi áp cao chí tuyến Tây Thái Bình Dương lấn vào, gió này được gọi
là Tín phong bán cầu Bắc.
Câu 3: Sự đa dạng sinh học của nước ta có những biểu hiện nào bắt nguồn từ vị trí tiếp xúc về địa
chất – địa hình và khí hậu – thủy văn?
Hướng dẫn:
- Nước ta nhiều loài thực vật động vật từ Hoa Nam xuống, từ Hi-ma-lay-a tới, từ Ấn Độ - Mi-an-
ma sang và từ Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a lên.
2
-Luồng Hoa Nam ( thực vật có tính chất cận nhiệt như : dẻ, re,...các loài chim, thú cận nhiệt đới phương
Bắc như gấu); luồng Hy-ma-lay-a ( thực vật tính chất ôn đới như đỗ quyên, lãnh sam,thiết sam; các loài
chim di thuộc khu hệ Hi-ma-lay -a), luồng Ấn Độ - Mi-an-ma ( thực vật tính chất nhiệt đới khô như
họ bàng, họ roi, họ tử vi,...); luồng Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xi-a ( thực vật tính chất cận xích đạo như
cây họ dầu, chò nâu,...; các loài thú lớn như voi, rừng,...) di lưu di đến nước ta làm cho sinh vật
nước ta có thêm các giống, loài cận nhiệt, nhiệt đới khô và cận xích đạo.
- Trên Biển Đông, hải lưu lạnh phương Bắc đi từ Nhật Bản qua eo Đài Loan xuống tận tuyến 12
0
B,
mang đến cho vùng biển nước ta những loài Nhật Bản Trung Hoa, bên cạnh những loài của khu hệ
Ấn Độ - Ma-lai-xi-a.
CHỦ ĐỀ 2: THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG.
Câu 1: Giải thích tại sao nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa?
Hướng dẫn:
Vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến, trong khu vực gió mùa châu Á, tiếp giáp với Biển Đông
rộng lớn, nên có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa.
- Nằm trong vùng nội chí tuyến nên nước ta khí hậu nhiệt đới: Do góc nhập xạ lớn mọi nơi
trong năm đều hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh nên hằng năm lãnh thổ nước ta nhận được lượng bức xạ
mặt trời lớn. Tổng bức xạ lớn, cán cân bức xạ dương quanh năm nên nhiệt độ trung bình năm cao, trung
bình trên cả nước đều lớn hơn 21
0
C ( trừ những vùng núi cao); nhiều nắng, tổng số giờ nắng tùy nơi đạt từ
1 400 đến 3 000 giờ/năm.
- m, mưa nhiều: Tiếp giáp với Biển Đông nên độ ẩm không khí cao, trên 80%, cân bằng ẩm luôn
luôn dương. Các khối khí di chuyển qua biển ( trong đó có Biển Đông ) đã mang lại cho nước ta một lượng
mưa lớn, trung bình từ 1 500 2 000 mm. những sườn đón gió biển các khối núi cao, lượng mưa
trung bình năm có thể lên tới 3 500 – 4 000 mm.
- Gió mùa: Do nằm trong khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của Tín phong gió mùa châu Á
nên khí hậu có hai mùa rõ rệt. Mùa khô chịu tác động của gió mùa Đông Bắc từ cao áp Xi-bia thổi về; mùa
mưa chịu tác động của gió mùa Tây Nam thổi từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến đầu mùa hạ từ cao áp
chí tuyến Nam bán cầu lên vào giữa cuối mùa hạ. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm trên 80% lượng
mưa cả năm.
Câu 2: Khí hậu Việt Nam chịu tác động chủ yếu của các khối khí nào? Tại sao ở miền Bắc nước ta
một mùa đông lạnh, ít mưa mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; miền Nam hai mùa mưa khô
rất rệt; còn miền Trung lại mưa lệch về thu đông; giữa Tây Nguyên đồng bằng ven biển
Trung Trung Bộ có sự đối lập về mùa mưa và mùa khô?
Hướng dẫn:
- Các khối khí tác động đến khí hậu Việt Nam:
+ Khối khí Xi-bia tác động chủ yếu đến miền Bắc nước ta trong mùa đông ( từ tháng 11 đến tháng 4 )
theo hướng đông bắc, tạo nên gió mùa Đông Bắc.
+ Khối khí Bắc Ấn Độ Dương tác động đến khí hậu nước ta vào đầu mùa hạ theo hướng tân nam.
+ Khối khí chí tuyến bán cầu Nam sau khi vượt qua vùng biển xích đạo vào nước ta vào giữa và cuối
mùa hạ theo hướng tây nam, tạo nên gió mùa Tây Nam.
+ Khối khí chí tuyến bán cầu Bắc tác động vào nước ta quanh năm, xen kẽ với các khối khí khác
trong mùa đông và mùa hạ; hoạt động độc lập vào khoảng tháng 4, khi chuyển thừ mùa đông sang mùa hạ.
- miền Bắc nước ta một mùa đông lạnh, ít mưa ( tháng 11 đến tháng 4 ) mùa hạ nóng ẩm,
mưa nhiều ( tháng 5 – 10 ) do:
+ Mùa đông: Chịu tác động của gió mùa Đông Bắc lạnh và nửa sau có mưa phùn.
+ Mùa hạ : Chịu tác động của gió Tây Nam từ cao áp Bắcn Độ Dương đến ( còn gọi gió TBg )
và gió mùa Tây Nam từ cao áp chí tuyến Nam bán cầu lên ( gió này ở miền Bắc có hướng Đông Nam do bị
3
hút vào áp thấp Bắc Bộ, vậy miền Bắc gọi gió mùa Đông Nam ). Các gió này đều nóng ẩm, gây
mưa.
- Miền Nam có hai mùa mưa và khô rất rõ rệt:
+ Mùa khô ( tháng 11 – 4 ) : Chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc ( nóng, khô, ổn định ).
+ Mùa mưa ( tháng 5 10 ) : Chịu tác động của gió Tây Nam ( TBg ) vào đầu mùa hạ gió mùa
Tây Nam vào giữa và cuối mùa, gây mưa lớn cho Nam Bộ và Tây Nguyên.
- Miền Trung : Mưa lệch về thu đông ( tháng 9 1 ), do đầu a hạ chịu c động của phơn Tây
Nam khô nóng, đến tháng 9 khi gió mùa Tây Nam từ cao áp chí tuyến Nam bán cầu lên mới vào mùa
mưa; mùa đông chịu tác động của gió mùa Đông Bắc gặp bức chắn địa hình gây mưa.
- Giữa Tây Nguyên Đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ sự đối lập về mùa mưa mùa khô:
Do tác động của hoàn lưu và bức chắn địa hình.
+ Mùa đông: Gió Đông Bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa Đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ,
sau khi vượt dãy Trường Sơn lên Tây Nguyên trở nên khô.
+ Mùa hạ: Gió Tây Nam ( TBg ) gây mưa lớn cho Tây Nguyên, sau khi vượt dãy Trường Sơn gây
phơn khô nóng ở Đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ.
Câu 3: Trình bày các nhân tố tạo nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu nước ta.
Hướng dẫn:
- Vị trí nước ta nội chí tuyến, nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu, nên nền nhiệt cao
và lượng bức xạ lớn.
- Nước ta vào vị trí tiếp xúc của các luồng gió mùa, nên khí hậu hai mùa rệt. Mùa đông bớt
nóng và khô, mùa hạ nóng và mưa nhiều. Đồng thời, gió mùa đã mang đến cho nước ta một lượng mưa lớn
và độ ẩm cao.
- Nước ta kề Biển Đông, nguồn dự trữ nhiệt ẩm rất dồi dào ảnh hưởng nhiều đến chế độ
ẩm của khí hậu phần đất liền.
Câu 4: Tại sao nước ta tổng lượng bức xạ tổng cộng rất lớn cân bằng bức xạ quanh năm
dương?
Hướng dẫn:
- Do nằm trong vùng nội chí tuyến nên nước ta Mặt Trời luôn đứng cao trên đường chân trời.
Độ cao Mặt Trời thấp nhất lúc giữa trưa ở sơn nguyên Đồng Văn là 43
0
12’, ở vĩ độ 20
0
B là 46
0
46’, còn ở vĩ
độ 10
0
B tới 56
0
46’. Quanh năm , độ cao Mặt Trời vào giữa trưa luôn đạt trên 80
0
.
- Độ cao Mặt Trời đã làm cho nước ta có góc nhập xạ lớn, nhận được lượng bức xạ cao cân bằng
bức xạ quanh năm dương.
Câu 5: Trình bày hoạt động của gió mùa Đông Bắc ở nước ta.
Hướng dẫn:
- Gió mùa Đông Bắc từ cao áp Xi-bia về nước ta trong khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,
tính chất lạnh, hướng gió Đông Bắc.
- Hoạt động chủ yếu trong phạm vi lãnh thổ từ dãy Bạch Mã ra phía bắc.
- Tác động đến chế độ nhiệt:
+ Nửa đầu mùa đông, gió này thổi qua lục địa châu Á rộng lớn nên vào miền Bắc nước ta gây ra thời
tiết lạnh khô với 2 3 tháng nhiệt độ dưới 18
0
C. Tuy nhiên, thời tiết lạnh không đều, vùng Đông Bắc
các thung lũng giữa cánh cung núi hút gió mạnh làm nhiệt độ hạ xuống thấp nhất nước ta, tiếp đến đồng
bằng Bắc Bộ.
+ Do ảnh hưởng của dãy Hoàng Liên Sơn nên gió này không xâm nhập được trực tiếp vào vùng Tây
Bắc, mà theo thung lũng sông Hồng, sông Đà vào Tây Bắc; do đó cùng một độ cao, nhiệt độ ở Tây Bắc cao
hơn ở Đông Bắc.
+ Càng vào phía nam, gió bị suy yếu biến tính nên nhiệt độ Bắc Trung Bộ, nhất phía nam,
không còn thấp như ở Bắc Bộ. Gió mùa Đông Bắc bị dãy Bạch Mã chặn lại, không vào được phía nam; chỉ
những đợt cường độ mạnh mới vượt qua được dãy Bạch Mã, ảnh hưởng đến thời tiết phía nam, nhưng
nhìn chung đã ấm lên rất nhiều.
4
- Tác động đến chế độ mưa:
+ Nửa đầu mùa đông, gió này thổi qua lục địa châu Á rộng lớn nên vào miền Bắc nước ta gây ra thời
tiết hanh khô, không mưa.
+ Từ phía nam sông Cả, do gặp dãy Trường Sơn Bắc nên gió này gây mưa từ Nghệ An vào đến Thừa
Thiên Huế.
+ Nửa sau mùa đông , gió bị lệch qua biển, tăng ẩm, gây nên mưa phùn các vùng ven biển các
đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ.
Câu 6: Gió mùa mùa đông ảnh hưởng đến nhiệt độ nước ta như thế nào?
Hướng dẫn:
- Gmùa mùa đông thổi vào nước ta từ tháng 11 4, xuất phát từ cao áp Xi-bia, gây nên thời tiết
lạnh, nhiệt độ trong các tháng mùa đông hạ thấp.
- Càng vào nam, gió mùa Đông Bắc càng yếu dần và bị biến tính. Sau vĩ tuyến 16
0
B, xem như không
còn tác động của gió mùa Đông Bắc, nên chế độ nhiệt thay đổi theo hướng bắc – nam.
- Mặt khác, do ảnh hưởng của địa hình ngăn gió mùa Đông Bắc, nên ở các địa phương khác nhau, tác
động của gió mùa Đông Bắc đến nhiệt độ cũng không giống nhau.
- Gió mùa mùa đông làm nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất ( tháng 1 ) giảm từ nam ra bắc
xuống thấp ở vùng Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ.
- Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình năm giữa miền Bắc và miền Nam thấp hơn nhiều so với sự chênh
lệch nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất giữa miền Bắc và miền Nam ( chênh lệch nhiệt độ trung bình năm
chỉ khoảng 0,35
0
C/1
0
vĩ tuyến, nhưng chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng 1 đến 1
0
C/1
0
vĩ tuyến ).
- Gió mùa Đông Bắc nguyên nhân chủ yếu làm cho biên độ nhiệt tăng dần từ nam ra bắc, biên độ
nhiệt tuyệt đối ở phía Bắc thấp hơn rất nhiều so với phía nam.
- phía bắc, vùng đón gió Đông Bắc trực tiếp ( Đông Bắc ) biên độ nhiệt lớn hơn các vùng khác
cùng vĩ độ ( Tây Bắc )
Câu 7: Tác động của frông cực đến khí hậu mùa đông ở nước ta như thế nào?
Hướng dẫn:
- Mỗi khi gió mùa Đông Bắc tràn sang, giữa khối khí NPc khối khí trước đó một frông lạnh
hoạt động, frông cực (FP).
- Frông cực tới đâu thì phạm vi tác động của gió mùa Đông Bắc với khối khí NPc tới đó. nước ta,
frông cực thường dừng lại độ 16
0
B. Chỉ trong những trường hợp rất mạnh, frông cực mới xuống vĩ độ
thấp hơn ( 12 – 10
0
B ), đôi khi quét qua cả Nam Bộ, nhưng lúc đó NPc đã biến tính.
- Mỗi khi frông lạnh tràn qua, chế độ gió, nhiệt độ, độ ẩm và mưa có sự biến đổi đột ngột.
+ Do sự chênh lệch khí áp rất lớn giữa hai bên frông, nên mỗi khi frông lạnh tràn qua, gió đổi hướng
đột ngột, từ thành phần nam chuyển sang thành phần bắc và mạnh lên.
+ Khi frông cực tràn qua, nhiệt độ giảm nhanh chóng, đặc biệt ở khu vực Đông Bắc.
+ Khi frông tràn qua, độ ẩm tuyệt đối giảm sút, nhất là ở khu vực Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ.
+ Tác động gây mưa của frông thay đổi theo mùa và từng nơi. Vào đầu mùa đông, mỗi khi frông tràn
qua chỉ mưa lác đác, thậm chí khi không mưa. Riêng khu vực từ Nghệ An trở vào, nhất từ phía
nam đèo Ngang, do NPc đã tăng ẩm nóng lên, đồng thời gặp tác dụng bức chắn của địa hình, nên frông
mắc lại sườn Đông Trường Sơn, gây nhiễu động mưa lớn kéo dài. Vào nửa sau mùa đông, NPc biển
sau frông lạnh thường gây nên thời tiết mưa phùn và mưa nhỏ.
Câu 8: Trình bày hoạt động của gió mùa mùa hạ nước ta. Tại sao Nam Bộ thường mùa
mưa kéo dài hơn so với Bắc Bộ?
Hướng dẫn:
a) Trình bày hoạt động của gió mùa mùa hạ:
- Vào đầu mùa hạ: Khối khí nhiệt đới nóng ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương ( khối khí TBg ) di chuyển theo
hướng tây nam xâm nhập vào nước ta.
+ Xâm nhập trực tiếp gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ Tây Nguyên. Thời tiết thường nóng
kèm theo dông nhiệt.
5
+ Khi vượt qua dãy Trường Sơn và các dãy núi chạy dọc biên giới ViệtLào, tràn xuống vùng đồng
bằng ven biển Trung Bộ phần nam của khu vực Tây Bắc, khối khí này trở nên khô nóng ( gọi gió
phơn Tây Nam, gió Tây hay gió Lào). Đôi khi, áp thấp Bắc Bộ khơi sâu tạo nên sức hút mạnh, làm xuất
hiện gió Tây khô nóng tại đồng bằng Bắc Bộ. Thời tiết trong những ngày gió Tây thường quang mây, oi
bức, không mưa, nhiệt độ Bắc Trung Bộ lên đến 36 38
0
C, cực đại đạt tới 39 41
0
C, độ ẩm tương đối
xuống đến 70 – 50%, thấp nhất có thể dưới 30%.
+ Khối khí TBg thịnh hành trên lãnh thổ nước ta vào các tháng 5 -6 , sang tháng 7 8 thì suy yếu,
đến tháng 9 – 10 thì không còn hoạt động ở đây nữa.
- Vào giữa và cuối mùa hạ: Khối khí xích đạo ( Em ) theo gió mùa Tây Nam xuất phát tử cao áp cận
chí tuyến bán cầu Nam thổi vào nước ta.
+ Khi vượt qua vùng biển xích đạo, khối khí này trở nên nóng ẩm ( hơn cả TBg ) , thường gây mưa
lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Hoạt động của gió mùa Tây Nam cùng với
dải hội tụ nhiệt đới nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc mưa vào
tháng 9 cho Trung Bộ.Thời tiết đặc trưng cho khối khí này là mưa dai dẳng, trời mát, có khi có giông.
+ Do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này chuyển theo hướng đông nam vào Bắc Bộ.
b) Nam Bộ thường có mùa mưa kéo dài hơn so với Bắc Bộ, do thời gian kết thúc hoạt động của gió mùa
Tây Nam Nam Bộ muộn hơn Bắc Bộ. Khối khí chí tuyến bán cầu Nam ( nguồn gốc của gió mùa Tây
Nam thổi vào nước ta ) dịch chuyển theo chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt Trời nên gió mùa Tây
Nam từ bán cầu Nam thổi đến Nam Bộ sớm hơn và kết thúc hoạt động muộn hơn so với Bắc Bộ.
Câu 9: Giải thích tại sao cùng gió theo hướng tây nam gặp dãy Trường Sơn, nhưng gió Tây
Nam xuất phát từ khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương gây hiện tượng phơn khô nóng, còn
gió mùa Tây Nam ( Tín phong bán cầu Nam ) lại gây mưa lớn cho cả hai sườn núi?
Hướng dẫn:
- Khối khí từ cao áp chí tuyến bán cầu Nam sau khi vượt qua vùng biển xích đạo rộng lớn đã bị biến
tính, thổi vào nước ta theo hướng tây nam ( gió mùa Tây Nam ) tầng ẩm rất dày, vượt qua các địa hình
cao chắn gió và gây mưa cả ở hai phía của sườn núi.
- Khối khí nhiệt đới nóng ẩm Bắc Ấn Độ Dương thổi vào nước ta theo hướng tây nam, tầng ẩm
mỏng hơn, nên chỉ gây mưa lớn ở sườn đón gió. Sau khi vượt qua đỉnh núi cao, không còn ẩm nữa, trở nên
khô nhiệt độ tăng lên khi xuống thấp ( theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống thấp 100 m tăng 1
0
C ),
gây nên thời tiết khô nóng ở sườn khuất gió ẩm.
Câu 10: Trình bày hoạt động của gió Mậu dịch bán cầu Bắc ( Tín phong bán cầu Bắc ) ở nước ta.
Hướng dẫn:
- Gió Mậu dịch ( Tín phong ) bán cầu Bắc có nguồn gốc từ cao áp chí tuyến bán cầu Bắc, vị trí ở Tây
Thái Bình Dương nên gọi cao áp Tây Thái Bình Dương, thổi vào nước ta theo hướng đông bắc. Đây
loại gió thường xuyên, thổi quanh năm với tính chất khô, nóng, ổn định.
- Vào mùa đông:
+ miền Bắc, Tín phong bán cầu Bắc thổi xen kẽ với gió mùa Đông Bắc; khi gió mùa Đông Bắc
mạnh sẽ lấn át gió này cùng hướng thổi; khi gió mùa Đông Bắc suy yếu, gió này mạnh lên gây thời
tiết khô, ấm trong những ngày mùa đông giá rét.
+ Ở miền Trung , Tín phong bán cầu Bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa cho duyên hải miền Trung.
+ Ở miền Nam và Tây Nguyên, Tín phong bán cầu Bắc gây ra mùa khô rõ rệt.
- Vào mùa hạ:
+ Vào đầu mùa hạ: Tín phong bán cầu Bắc cùng với gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến tạo dải
hội tụ nhiệt đới chạy theo hướng kinh tuyến, thường chạy dọc Phi-lip-pin, khi lấn sang phía tây thường gây
mưa cho Nam Bộ và mưa tiểu mãn ( tiết Tiểu mãn vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 ) cho Trung Bộ.
+ Vào giữa cuối mùa hạ , Tín phong bán cầu Bắc cùng với gió mùa Tây Nam từ cao áp Nam bán
cầu lên tạo dải hội tụ chạy theo hướng tuyến gây nhiễu loạn thời tiết, mưa lớn. Dải hội tụ dịch chuyển
theo chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt Trời lùi dần về phía Nam làm cho tháng mưa cực đại ở trên
lãnh thổ nước ta cũng chậm dần theo.
- Thời kì chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hạ:
6
+ Gió mùa Đông Bắc suy yếu, gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương chưa thổi đến, Tín phong bán cầu
Bắc hoạt động mạnh lên, độ ẩm tăng cao gây hiện tượng “nồm” với độ ẩm lớn, sương nhiều, thời tiết
ấm, không mưa cho chủ yếu ở miền Bắc.
+ Lúc này Tín phong bán cầu Bắc thổi từ phía tây nam của áp cao Tây Thái Bình Dương vào lãnh thổ
nước ta nên có hướng đông nam.
Câu 11: Tại sao Tín phong bán cầu Nam gây mưa lớn cho cả nước, còn Tín phong bán cầu Bắc lại
tạo ra mùa khô rõ rệt ở miền khí hậu phía nam?
Hướng dẫn:
- Tín phong bán cầu Nam xuất phát từ cao áp chí tuyến bán cầu Nam, sau khi vượt qua vùng biển
xích đạo rộng lớn trở nên nóng và ẩm hơn, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây
Nguyên. Khi thổi ra phía Bắc, gió này bị hút vào áp thấp đồng bằng Bắc Bộ, chuyển hướng đông nam, gây
mưa ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
- Tín phong bán cầu Nam gặp Tín phong bán cầu Bắc ( nguồn gốc từ cao áp chí tuyến Tây Thái Bình
Dương ) tạo nên dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển từ bắc vào nam, gây mưa cho cả hai miền Nam, Bắc
mưa tháng 9 cho Trung Bộ.
- Tín phong bán cầu Bắc xuất phát từ khối khí cao áp chí tuyến Tây Thái Bình Dương ( Tm ) thổi vào
nước ta theo hướng đông bắc. Khối khí này khô nóng, ổn định, độ ẩm tương đối thấp, hoạt động miền
khí hậu phía nam trong suốt mùa đông, gây ra một mùa khô rõ rệt cho miền khí hậu phía nam.
Câu 12: Phân tích tác động của dải hội tụ nhiệt đới đến khí hậu nước ta.
Hướng dẫn:
- Dải hội tụ nội chí tuyến ( CIT ) là một khu vực thời tiết xấu giữa hai luồng gió của hai bán cầu hội
tụ lại gây nên luồng thăng, hoặc giữa hai luồng gió mậu dịch nam bắc bán cầu, hoặc giữa gió mậu dịch
của bán cầu mùa hạ và gió mùa vượt xích đạo xuất phát từ bán cầu mùa đông. Miền hội tụ rộng từ 80 – 600
km. Nếu góc hội tụ giữa hai luống gió lớn gió hai bên thổi mạnh, dải hội tụ sẽ hoạt động mạnh gây
mưa lớn.
- Dải hội tụ nhiệt đới ở nước ta được hình thành vào mùa hạ, giữa gió mùa mùa hạ và Tín phong bán
cầu Bắc.
- Đầu mùa hạ:
+ Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương ( TBg ) đến gặp Tín phong bán cầu Bắc tạo nên dải hội
tụ nhiệt đới, chạy theo hướng kinh tuyến. Do gió Tây Nam TBg mạnh hơn, đẩy Tín phong bán cầu Bắc ra
ngoài xa về phía đông, nên dải hội tụ chủ yếu chạy dọc theo Phi-lip-pin, ít dịp lấn sâu vào đất liền
miền Bắc Việt Nam. phía nam tuyến 12
0
B, trong các tháng 6 7, dải hội tụ vắt ngang từ phía nam
Phi-lip-pin sang Nam Trung Bộ Nam Bộ chỉ tràn lên phía bắc mỗi khi áp thấp Mi-an-ma đẩy lên
gió vịnh Ben-gan suy yếu.
+ Dải hội tụ nhiệt đới vào thời kí này là nguyên nhân gây mưa ở Nam Bộ và mưa Tiểu mãn ( vào tiết
Tiểu mãn cuối tháng 5 , đầu tháng 6) ở Trung Bộ nước ta.
- Giữa và cuối mùa hạ:
+ Khi gió vịnh Ben-gan suy yếu, gió mùa Tây Nam từ áp cao bán cầu Nam chiếm ưu thế tuyệt đối
gặp Tín phong bán cầu Bắc tạo nên dải hội tụ nhiệt đới rất rệt. Lúc này, dải hội tụ vắt ngang qua đồng
bằng Bắc Bộ theo hướng tây bắc – đông nam , gây thời tiết “mưa ngâu” rất điển hình.
+ Dải hội tụ này vắt ngang qua Bắc Bộ vào tháng 8, theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời lùi dần
vào Trung Bộ Nam Bộ vào tháng 9 , 10, sau đó lùi xuống độ trung bình Xích đạo. Dải hội tụ này
thường gây mưa mớn, áp thấp, bão,...;nên tháng đỉnh mưa áp thấp, bão cũng lùi dần từ bắc vào nam
theo sự lùi dần của dải hội tụ nhiệt đới.
Câu 13: Trình bày hoạt động của gió mùa nước ta hệ quả của đối với sự phân chia mùa
khác nhau giữa các khu vực.
Hướng dẫn:
Việt Nam trong năm có hai mùa gió chính, là gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ.
- Gió mùa mùa đông:
7
+ Từ tháng 11 4 ( mùa đông ) miền Bắc nước ta chịu tác động của khối khí lạnh phương Bắc thổi
theo hướng đông bắc, thường gọi là gió mùa Đông Bắc.
+ Vào nửa đầu mùa đông, khối khí lạnh di chuyển qua lục địa châu Á mang lại cho Bắc Bộ nước ta
thời tiết lạnh khô; gặp dãy Trường Sơn Bắc gây mưa từ Nghệ An vào đến Thừa Thiên Huế. Đến nửa sau
mùa đông, khối khí lạnh di chuyển về phía đông, qua biển tăng độ ẩm của khối khí vào nước ta gây nên
thời tiết lạnh ẩm, mưa phùn.
+ Gió mùa Đông Bắc thổi theo từng đợt, chỉ hoạt động mạnh miền Bắc, hình thành một mùa đông
có 2 – 3 tháng nhiệt độ xuống dưới 18
0
C. Gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh có thể xuống tới vĩ độ 12
0
B.
Khi di chuyển xuống phía nam, khối khí này bị biến tính suy yếu dần nên dường như kết thúc bởi bức
chắn dãy Bạch Mã.
+ Trong thời gian này ở Nam Bộ và Tây Nguyên, Tín phong bán cầu Bắc cũng thổi theo hướng đông
bắc, hình thành một mùa khô, nắng nóng. Trung Bộ, Tín phong bán cầu Bắc gặp dãy Trường Sơn gây
mưa cho vùng ven biển Trung Bộ.
- Gió mùa mùa hạ: Từ tháng 5 10 ( mùa hạ ), hai luồng gió cùng hướng tây nam thổi vào nước
ta.
+ Vào đầu mùa hạ: Khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn ĐDương di chuyển theo hướng tây nam xâm
nhập trực tiếp gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ Tây Nguyên. Sau khi vượt dãy Trường Sơn
các dãy núi dọc biên giới ViệtLào, khối khí này trở nên nóng khô ( gió Tây, gió phơn Tây Nam, còn gọi
gió Lào) tràn xuống vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ phần nam của khu vực Tây Bắc. Đôi khi do
lục hút của áp thấp Bắc Bộ làm xuất hiện gió Tây khô nóng tại đồng bằng Bắc Bộ, khiến cho nhiệt độ lên
tới 35 – 40
0
C và độ ẩm xuống dưới 50%.
+ Từ giữa cuối mùa hạ: Gió mùa Tây Nam ( xuất phát từ áp cao chí tuyến bán cầu Nam) hoạt
động. Sau khi vượt qua biển vùng xích đạo, khối khí này trở nên nóng ẩm thường gây mưa lớn kéo dài
cho các vùng đón gió Nam Bộ Tây Nguyên. Hoạt động của gió mùa Tây Nam cùng với dải hội tụ
nhiệt đới nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc mưa tháng 9 cho
Trung Bộ. Do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này di chuyển theo hướng đông nam vào Bắc Bộ.
- Sự luân phiên các khối khí hoạt động theo mùa khác nhau cả về hướng và về tính chất đã tạo nên sự
phân mùa khí hậu khác nhau ở các miền:
+ miền Bắc : mùa đông lạnh khô, ít mưa ( do tác động của gió mùa Đông Bắc và cả Tín phong
bán cầu Bắc) mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều ( do tác động của gió mùa mùa hạ dải hội tụ nhiệt đới
được hình thành từ gió mùa mùa hạ với Tín phong bán cầu Bắc).
+ miền Nam: hai mùa khô, mưa rệt. Mùa khô do tác động của Tín phong bán cầu Bắc, mùa
mưa do tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm.
+ Ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung : hai mùa mưa, khô; nhưng mùa mưa lệch về thu đông.
Mùa khô do tác động của gió phơn Tây Nam ( gió Tây, gió Lào) Tín phong bán cầu Bắc; mùa mưa do
tác động của gió mùa Tây Nam nguồn gốc từ áp cao Nam bán cầu, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới,
bão, gió đông bắc,...Đầu mùa hạ, đồng bằng ven biển miền Trung gió phơn Tây Nam hoạt động nên
không mưa; sang mùa đông, gió đông bắc ( gió mùa Đông Bắc, Tín phong bán cầu Bắc) gặp dãy Trường
Sơn gây mưa; vì vậy mùa mưa ở đây lệch về thu đông so với miền Bắc và miền Nam ( vào mùa hạ ).
Câu 14: Tính phức tạp trong sự chia mùa khí hậu ở nước ta được thể hiện như thế nào?
Hướng dẫn:
- Chế độ gió mùa là nguyên nhân chủ yếu tạo nên hai mùa rõ rệt của khí hậu nước ta:
+ Gió mùa đông bắc : Từ tháng 11 – 4, miền Bắc là mùa lạnh khô, miền Nam là mùa nóng khô, riêng
miền Trung có mưa vào đầu mùa.
+ Gió mùa Tây Nam: Từ tháng 5 – 10, cả nước đều nóng ẩm, riêng miền Trung lại khô vào đầu mùa.
- Thời gian bắt đầu kết thúc các mùa cũng thất thường giữa các năm. Nămt ít thì tháng 11 vẫn
nóng, năm nóng sớm thì tháng 3 đã hết lạnh. Mặt khác, do cao áp lạnh Xi-bia xuất hiện từ tháng 10 4,
nên đối với gió mùa đông bắc miền Bắc những đợt xâm nhập không khí lạnh sớm. Áp thấp Ấn Độ -
Mi-an-ma đã hình thành từ tháng 4 dải hội tụ nội chí tuyến còn hoạt động Nam Bộ vào tháng 10 nên
gió mùa Tây Nam ở miền Nam có thể kéo dài thêm.
8
- Miền Bắc một mùa đông lạnh , khô, ít mưa một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều. Miền Nam
hai mùa khô, ẩm rõ rệt. Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung có sự đối lập về hai mùa mưa, khô.
Câu 15: Giải thích tại sao nhiệt độ trung bình về mùa hạ ít có sự khác nhau trong cả nước; nhưng
về mùa đông, nhiệt độ trung bình của miền khí hậu phía bắc thấp hơn nhiều so với miền khí hậu
phía nam.
Hướng dẫn:
- Mùa hạ : Nhiệt độ trung bình không khác nhau giữa miền khí hậu phía bắc miền khí hậu phía
nam, do:
+ Mùa hạ trong cả nước đều chịu tác động của gió Tây Nam từ áp cao Bắc n Độ Dương đến
( TBg ) gió mùa Tây Nam từ áp cao bán cầu Nam lên, hai loại gió nguồn gốc nhiệt ẩm, mang lại
nhiệt độ tương đối đồng nhất trên phạm vi cả nước.
+ Đồng thời, phần lớn lãnh thổ nước ta về mùa hạ hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ( riêng Nam
Bộ lần Mặt Trời lên thiên đỉnh sớm hơn vào tháng 4, cũng xem như bước vào thời gian tiếp vào đầu
mùa hạ ), sự biến động nhiệt độ theo chiều bắc nam về mùa hạ không đáng kể.
- Mùa đông: Tác động của gió mùa Đông Bắc làm cho nền nhiệt độ hạ thấp ở miền Bắc, đặc biệt là
Bắc Bộ 2 3 tháng nhiệt độ dưới 18
0
C; trong khi đó, từ dãy Bạch trở vào, nền nhiệt độ cao hơn
nhiều do ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Bắc chi phối.
Câu 16: Dựa vào kiến thức đã học, giải thích tại sao:
- Vào mùa đông vùng khí hậu Nam Bộ khô nóng, còn vùng khí hậu Trung Nam Bắc Bộ lại
lạnh và có mưa phùn.
- Mùa mưaNam Bộ kéo dài hơn Bắc Bộ; trong mùa đông ở Bắc Bộ vẫn những ngày nhiệt độ
khá cao , nóng như mùa hạ.
- Miền Nam Trung Bộ Nam Bộ chế độ nhiệt ít biến động không mùa đông lạnh như
hai miền địa lí tự nhiên khác ( miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ).
- Tuy có mưa phùn vào mùa đông, nhưng lượng mưa trung bình năm của vùng khí hậu Đông Bắc
Bộ vẫn nhỏ hơn vùng khí hậu Nam Bộ.
Hướng dẫn:
- Vào mùa đông ở vùng khí hậu Nam Bộ khô nóng, còn vùng khí hậu Trung và Nam Bắc Bộ lại lạnh
và có mưa phùn.
+ Mùa đông Nam Bộ chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc thổi từ cao áp chí tuyến Tây Thái
Bình Dương đến. Đây là khối khí khô, nóng và ổn định nên gây ra thời tiết khô nóng.
+ Ở Trung Nam Bắc Bộ về mùa đông chịu tác động của gió mùa Đông Bắc thổi từ áp cao Xi -bia
về nên lạnh, sang nửa sau mùa đông gió này lệch về biển nên tăng độ ẩm gây mưa phùn khi thổi vào
Bắc Bộ.
- Mùa mưa Nam Bộ kéo dài hơn Bắc Bộ; trong mùa đông Bắc Bộ vẫn những ngày nhiệt độ
khá cao , nóng như mùa hạ.
+ Mùa mưa ở Bắc Bộ và Nam Bộ trùng với thời gian hoạt động của gió mùa mùa hạ; do tác động kéo
dài của gió mùa Tây Nam ở Nam Bộ nên mùa mưa ở đây kéo dài hơn Bắc Bộ.
+ Mùa đông Bắc Bộ gió mùa Đông Bắc thổi theo từng đợt gây lạnh. Giữa những đợt thổi của
gió mùa Đông Bắc, Tín phong bán cầu Bắc mạnh lên, làm nhiệt độ tăng khá cao.
- Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có chế độ nhiệt ít biến động và không có mùa đông lạnh như ở hai
miền địa lí tự nhiên khác ( miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ):
+ Miền Nam Trung Bộ Nam Bộ vào khoảng thời gian từ tháng 94 chịu tác động của Tín phong
bán cầu Bắc từ cao áp chí tuyến Tây Thái Bình Dương thổi đến. Khối khí này khô, nóng, tương đối ổn định
nên làm chế độ nhiệt ở đây ít biến động.
+ Miền Bắc Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc Bắc Trung Bộ về mùa đông ( từ tháng 11 4 )
chịu tác động của gió mùa Đông Bắc từ cao áp phương Bắc tràn về nên lạnh nhiều biến động. Tín
phong bán cầu Bắc từ cao áp chí tuyến Tây Thái Bình Dương cũng hoạt động mạnh lên ở hai miền này vào
những lúc gió mùa Đông Bắc suy yếu, góp phần làm biến động chế độ nhiệt.
9
- Tuy có mưa phùn vào mùa đông, nhưng lượng mưa trung bình năm của vùng khí hậu Đông Bắc Bộ
vẫn nhỏ hơn vùng khí hậu Nam Bộ:
+ Nam Bộ có lượng mưa lớn trong suốt cả các tháng về mùa mưa do chịu tác động mạnh của gió Tây
Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến vào đầu mùa hạ và gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ bán cầu Nam
lên vào giữa và cuối mùa hạ.
+ Bắc Bộ vào đầu mùa hạ chỉ mưa dông nhiệt, lượng mưa không lớn; đến khoảng tháng 8 lượng
mưa mới lớn do tác động của dải hội tụ gió mùa Đông Nam ( đổi hướng từ gió mùa Tây Nam ). Cuối
mùa mưa, vào khoảng tháng 10, những đợt gió mùa Đông Bắc tràn về sớm làm giảm lượng mưa.
Câu 17: Tại sao nói địa hình nước ta là địa hình xâm thực – bồi tụ?
Hướng dẫn:
Địa hình nước ta là địa hình xâm thực – bồi tụ được biểu hiện như sau:
- Xâm thực mạnh, nhất là ở miền đồi núi:
+ Trên các sườn dốc mất lớp phủ thực vật, bề mặt địa hình bị cắt xẻ tạo thành các mương xói, khe
rãnh,...đất bị xói mòn, rửa trôi, nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá; bên cạnh đó là hiện tượng đất trượt, đá lở.
+ vùng núi đa vôi hình thành địa hình cac-xtơ với các hang động, suối cạn, thung khô các đồi
đá vôi sót.
+ Trên các vùng đồi thềm phù sa cổ: địa hình bị chia cắt thành các đồi thấp xen thung lũng rộng.
+ Hiện tượng sạt lở đất bờ sông, bờ biển,...cũng tạo nên các dạng địa hình xâm thực ở các đồng bằng.
- Bồi tụ nhanh , nhất là ở đồng bằng hạ lưu sông:
+ rìa phía đông nam Đồng bằng châu thổ sông Hồng phía tây nam Đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long hằng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
+ Các dạng địa hình bồi tụ phổ biến như: cồn đất, bãi bồi,...
+ các thung lũng rộng giữa khu vực đồi núi sông chảy qua cũng được bồi tụ bởi phù sa sông,
hình thành nên các cánh đồng giữa núi như: Than Uyên, Nghĩa Lộ, Văn Chấn, Quản Bạ, Trùng Khánh, An
Khê,...
Câu 18: Giải thích tại sao nước ta có nhiều địa hình xâm thực và bồi tụ?
Hướng dẫn:
- Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ cao, ẩm lớn và mưa theo mùa, các quá trình
ngoại lực hoạt động mạnh mẽ đã tạo nên các dạng địa hình xâm thực và bồi tụ.
- Nhiệt ẩm dồi dào, mưa lớn nên quá trình phong hóa hóa học diễn ra mạnh, các vùng đá vôi nước
ta đã tạo nên địa hình cac-xtơ như: hang động, suối cạn, thung khô,...
- Lượng mưa lớn với cường độ cao theo mùa làm cho quá trình bóc mòn ( xâm thực, xói mòn, cắt
xẻ,...) diễn ra rất mạnh phổ biến; tạo thành địa hình mương xói, khe rãnh,...đặc biệt khu vực đồi núi.
Tại các vùng thềm phù sa cổ, địa hình bị chia cắt thành các đồi thấp xen thung lũng mở rộng.
- Lượng mưa lớn với cường độ cao theo mùa, cùng với quá trình bóc mòn, quá trình vận chuyển
bồi tụ cũng diễn ra mạnh mẽ, tạo thành đồng bằng phù sa, bãi bồi, cồn đất,...
Câu 19: Những biểu hiện nào chứng tỏ địa hình Việt Nam rất tiêu biểu cho địa hình của vùng
nhiệt đới ẩm?
Hướng dẫn:
Những biểu hiện chủ yếu chứng tỏ địa hình Việt Nam rất tiêu biểu cho địa hình của vùng nhiệt đới
ẩm là:
- Địa hình được che phủ bởi một lớp vỏ phong hóa rất dày.
- Địa hình bị xâm thực, xói mòn mạnh mẽ và bồi tụ do dòng chảy gây nên.
- Địa hình hay xảy ra hiện tượng đất trượt, sạt lở đất đá,...
Câu 20: Phân tích đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa của sông ngòi nước ta.
Hướng dẫn:
- Mạng lưới sông ngòi dày đặc:
10
+ Chỉ tính riêng những con sông trên 10 km, tới 2 360 con sông. Dọc bờ biển, trung bình cứ 20
km gặp một cửa sông.
+ Sông nhiều , nhưng phần lớn là sông nhỏ.
+ Do mưa lớn tập trung vào một mùa trên nền địa hình với 3/4 đồi núi dốc nên cắt xẻ nhiều; ít
sông chảy trên các đứt gãy kiến tạo.
- Sông ngòi nhiều nước:
+ Tổng lượng nước 839 tỉ m
3
/năm, trong đó trên 60% lượng nước là từ phần lưu vực nằm ngoài lãnh
thổ.
+ Do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa lượng mưa lớn ( trung bình năm từ 1 500 2 000 mm); đồng
thời một số sông lớn ( sông Hồng, sông Cửu Long ) phần chiều dài nằm ngoài lãnh thổ lớn, nhận được
lượng nước lớn từ phần lưu vực ngoài lãnh thổ.
- Phù sa lớn:
+ Tổng lượng phù sa hằng năm trên lãnh thổ nước ta khoảng 200 triệu tấn.
+ Do lượng mưa lớn trên địa hình 3/4 đồi núi, độ dốc tương đối lớn, lớp vỏ phong hóa dày, nhiều
nơi mất lớp phủ thực vật.
- Chế độ theo mùa:
+ Sông ngòi có mùa lũ tương ứng với mùa mưa, mùa cạn tương ứng với mùa khô.
+ Chế độ dòng chảy sông ngòi cũng diễn biến thất thường theo sát chế độ mưa thất thường.
+ Tháng đỉnh lũ tương ứng với tháng cực đại về đỉnh mưa ( sông ngòi Bắc Bộ vào tháng 8, Trung Bộ
vào tháng 10/11, Nam Bộ tháng 9 ).
+ Do chế độ mưa là nhân tố quan trọng quyết định đến nhịp điệu dòng chảy của sông ngòi.
Câu 21: Phân tích đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa của đất ở nước ta.
Hướng dẫn:
- Quá trình feralit quá trình hình thành đất đặc trưng: Trong điều kiện nhiệt ẩm cao, quá trình
phong hóa diễn ra với cường độ mạnh, tạo nên mộ lớp đất dày. Mưa nhiều rửa trôi các chất badơ dễ tan
( Ca
2+
, Mg
2+
, K
+
) làm đất chua, đồng thời sự tích tụ ôxit sắt ( Fe
2
O
3
) ôxit nhôm ( Al
2
O
3
) tạo ra màu
đỏ vàng. Vì thế loại đất này được gọi là đất feralit ( Fe – Al ) đỏ vàng.
- Đất feralit loại đất chính vùng đồi núi nước ta: Chiếm trên 60% diện tích đất tự nhiên. Đất
chua, nghèo mùn, nhiều sét, màu đỏ vàng do nhiều hợp chất sắt, nhôm. Đây loại đất được hình
thành do quá trình feralit diễn ra mạnh trên đá mẹ axit ở vùng đồi núi thấp nước ta.
- Trong điều kiện nhiệt, ẩm dồi dào, lượng mưa lớn với cường độ cao tập trung theo mùa, quá trình
bóc mòn, vận chuyển bồi tụ diễn ra mạnh mẽ, hình thành nên đất phù sa sông màu mỡcác đồng bằng
và ở một số thung lũng rộng có sông chảy qua ở khu vực đồi núi.
- Trong điều kiện nhiệt, ẩm dồi dào, lượng mưa lớn với cường độ cao tập trung theo mùa, quá trình
bóc mòn diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt ở các vùng đồi núi dốc làm cho đất dễ bị xói mòn, rửa trôi.
- Do nhiệt , ẩm cao nên tốc độ phân hủy chất hữu cơ nhanh làm cho đất thường nghèo mùn.
Câu 22: Phân tích đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa của đất ở khu vực đồi núi nước ta.
Hướng dẫn:
- Trong điều kiện nhiệt, ẩm cao, quá trình hình thành đất đặc trưng quá trình feralit tạo thành đất
chính ở khu vực đồi núi nước ta là đất feralit.
- Đất phù sa sông được hình thành trong điều kiện nhiệt, ẩm dồi dào, lượng mưa lớn với cường độ
cao tập trung theo mùa với các quá trình bóc mòn, vận chuyển, bồi tụ diễn ra phổ biển. khu vực đồi núi,
đất phù sa sông có ở các thung lũng rộng ( Than Uyên, Nghĩa Lộ, An Khê,...)
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đã làm cho đất khu vực đồi núi của nước ta bị xâm thực xói mòn,
rửa trôi mạnh mẽ, đặc biệt ở những nơi có độ dốc lớn và mất lớp phủ thực vật.
- Do nhiệt, ẩm cao nên tốc độ phân hủy chất hữu cơ nhanh làm cho đất thường nghèo mùn.
Câu 23: Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa được thể hiện ở tính đa dạng của đất của nước ta như thế
nào?
Hướng dẫn:
11
Đất nước ta rất đa dạng, thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của thiên nhiên Việt Nam. Sự
đa dạng của đất là kết quả tác động tổng hợp lâu dài giữa đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và sự
tác động của con người. Nước ta có nhiều loại đất khác nhau:
- Đất feralit nâu đỏ trên đất badan, khoảng 2 triệu ha, tập trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ.
Ngoài ra còn rải rác các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa. Đất này được hình thành
trên cơ sở phong hóa đá badan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
- Đất feralit đỏ nâu trên đá vôi, phân bố tập trung các vùng núi đá vôi, cao nguyên đá vôi miền
núi phía Bắc Bắc Trung Bộ. Đất này được hình thành trên sở phong hóa đá vôi, giàu mùn, đạm, tơi
xốp.
- Đất feralit trên các loại đá khác, chiếm diện tích lớn nhất và phân bố rộng rãi miền núicác đồi
núi sót ở miền đồng bằng.
- Đất xám:
+ Đất xám bạc màu trên đá a – xit, tập trung ở Tây Nguyên rải rácven biển miền Trung. Đất rất
nghèo mùn, thành phần cơ giới nhẹ, cát pha đến cát thô.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều nhất Đông Nam Bộ. Ngoài ra, còn rìa
Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đất phù sa: phân bố chủ yếuvùng đồng bằng. Tùy theo lưu vực sông thành phần giới, đặc
tính lí hóa, độ phì của đất khác nhau.
+ Đất phù sa Đồng bằng sông Hồng: thành phần giới chủ yếu từ cát pha đến cát thịt trung
bình. Do có hệ thống đê nên phần lớn diện tích đồng bằng là đất không được bồi đắp hằng năm, lại được sử
dụng với cường độ cao, nên nhiều nơi đất đã bị bạc màu. Đất ngoài đê được bồi đắp hằng năm đất cát
pha, màu mỡ.
+ Đất phù sa Đồng bằng sông Cửu Long: tập trung nhiều ven sông Tiền sông Hậu, thành
phần cơ giới nặng hơn, từ đất thịt đến sét. Phần lớn diện tích đồng bằng được bồi lắng phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của các đồng bằng duyên hải miền Trung, được hình thành do tác động tổng hợp sông –
biển, nên đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng.
- Đất phèn, đất mặn nhiều nhất Đồng bằng sông Cửu Long các vùng cửa sông ven biển của
các con sông Bắc Bộ Duyên hải miền Trung. Đất phèn đặc tính chua; đất mặn loại ít mặn, mặn
nhiều,....tùy theo hàm lượng Cl- trong đất.
- Đất cát ven biển: phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở Trung Bộ; đất nghèo mùn và N, P , K.
- Ngoài ra, vùng đồi núi nước ta còn một số loại đất khác, như đất mùn vàng đỏ trên núi đất
mùn thô trên núi cao ( đất mùn alit núi cao).
Câu 24: Giải thích sự hình thành đất feralit và đất mùn trên núi ở nước ta.
Hướng dẫn:
- Đất feralit sản phẩn của quá trình feralit. Trong điều kiện nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn
ra mạnh, các chất badơ dễ tan như Ca
2+
, Mg
2+
, K
+
bị rửa trôi, làm cho đất chua, đồng thời ôxit sắt ôxit
nhôm được tích tụ, làm cho đất màu đỏ vàng. thế loại đất này được gọi đất feralit ( Fe Al ) đỏ
vàng.
- Đất mùn trên núi : được hình thành trong điều kiện địa hình núi có độ cao từ 500 m trở lên, có thảm
thực vật rừng rậm và khí hậu lạnh. Trong điều kiện này, tầng thảm mục phát triển nhanh và sự phá hủy của
vi sinh vật chậm hơn so với vùng khí hậu nóng hơn. vậy, trên mặt đất tầng thảm mục. Mặt khác, do
nhiệt độ thấp, nên tốc độ phân giải các chất khoáng như Fe, Al, Si,...chậm.
Câu 25: Tại sao quá trình feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu ở nước ta?
Hướng dẫn:
- Quá trình hình thành đất đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm quá trình feralit. Việt Nam khí
hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nên đây là quá trình hình thành đất chủ yếu.
- Quá trình feralit diễn ra mạnh mẽ trênc đồi, thềm phù sa cổ cả đồng bằng. Nước ta địa
hình đồi núi thấp chiếm ưu thế, bảo toàn được tính chất nhiệt đới ẩm nên feralit là quá trình hình thành đất
chủ yếu.
12
Câu 26: Phân biệt đất phù sa sông Đồng bằng sông Hồng đất phù sa sông Đồng bằng sông
Cửu Long.
Hướng dẫn:
- Đất phù sa sông ở Đồng bằng sông Hồng:
+ Thường màu nâu tươi, nâu tím, tầng đất dày, được hình thành do sự bồi tụ phù sa của hệ thống
sông Hồng.
+ Đất được xem tốt nhất Việt Nam, đất tưởng để trồng nhiều loại cây như : lúa, ngô, đậu đỗ,
lạc, khoai, các loại rau và cây ăn quả.
+ Đất phù sa sông Hồng ngoài đê được bồi hằng năm; đất phù sa sông Hồng trong đê ít hoặc không
được bồi.
- Đất phù sa sông ở Đồng bằng sông Cửu Long:
+ Thành phần cơ giới của đất phù sa là sét, chất dinh dưỡng phong phú, được hình thành do sự bồi tụ
phù sa của hệ thống sông Cửu Long ( sông Tiền, sông Hậu).
+ Thích hợp để trồng nhiều loại cây như: lúa, ngô, đậu đỗ, lạc, khoai, các loại rau và cây ăn quả.
+ Đất được bồi đắp thường xuyên.
Câu 27: Phân tích đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa của sinh vật nước ta.
Hướng dẫn:
Do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên sinh vật của nước ta là sinh vật của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa,
biểu hiện qua hệ sinh thái và thành phần loài.
- Hệ sinh thái:
+ Hệ sinh thái rừng nguyên sinh đặc trưng của khí hậu nóng ẩm rừng rậm nhiệt đới ẩm rộng
thường xanh; tuy nhiên hiện nay còn lại rất ít.
+ Phổ biến hiện nay rừng thứ sinh với các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa biến dạng khác
nhau, từ rừng gió mùa thường xanh, rừng gió mùa nửa rụng lá, rừng thưa khô rụng lá tới xavan, bụi gai hạn
nhiệt đới.
- Thành phần loài: Thành phần các loài nhiệt đới chiếm ưu thế.
+ Thực vật : Phổ biến là các loài cây thuôc các họ cây nhiệt đới ( họ đậu, vang, dâu tằm, dầu ).
+ Động vật: Các loài chim, thú nhiệt đới ( công, trĩ lôi, khỉ, vượn, nai, hoẵng,...), bò sát, ếch nhái,
côn trùng.
Câu 28: Giải thích tại sao tính nhiệt đới của sinh vật nước ta bị giảm sút.
Hướng dẫn:
Tính nhiệt đới của sinh vật nước ta bị giảm sút do sự tăng lên của sinh vật có tính chất phi nhiệt đới (
cận nhiệt, ôn đới, cận xích đạo,...) bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu:
- Vị trí địa lí nước ta ở trên đường di lưu và di cư của nhiều loài động, thực vật : Loài thực vật ôn đới
và chim, thú xứ lạnh từ Hy-ma-lay-a xuống, loài thực vật cận nhiệt đới từ Hoa Nam đến, loài thực vật nhiệt
đới ưa nóng khô từ Ấn Độ - Mi-an-ma tới, loài thực vật cận xích đạo các động vật từ luồng Ma-lai-
xi-a – In-đô-nê-xi-a lên.
- Khí hậu: Có một mùa đông lạnh ở miền Bắc và càng lên cao nhiệt độ càng giảm tạo nên các đai cao
là điều kiện cho sự phát triển các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới.
- Địa hình tạo nên ba đai cao, trong đó đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi đai ôn đới gió mùa trên
núi có các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới sinh sống.
- Con người nhập nội nhiều giống loài thực vật, động vật thuộc cận nhiệt, ôn đới và cận xích đạo.
13
CHỦ ĐỀ 3: SỰ PHÂN HÓA ĐA DẠNG CỦA THIÊN NHIÊN
Câu 1: Các nguyên nhân nào là chủ yếu làm cho nhiệt độ trung bình năm của nước ta thay đổi từ
bắc và nam.
Hướng dẫn:
Các nguyên nhân chủ yếu làm cho nhiệt độ trung bình năm của nước ta thay đổi từ bắc vào nam là vị
trí địa lí và gió mùa.
- Vị trí địa lí: Càng vào nam càng gần Xích đạo, nhận được lượng bức xạ lớn hơn.
- Gió mùa:
+ Vào mùa hạ, cả nước đều chịu tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm nên nhiệt độ ơng đương
nhau ( chỉ trừ vùng núi cao ).
+ Vào mùa đông: Phía bắc chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ vào mùa đông
phía Bắc hạ rất thấp so với phía nam, từ đó làm cho nhiệt độ trung bình năm phía bắc thấp hơn phía
nam.
Câu 2: Tại sao nhiệt độ trung bình năm của nước ta tăng từ bắc vào nam , còn biên độ nhiệt độ
năm lại tăng từ nam ra bắc?
Hướng dẫn:
- Nhiệt độ trung bình năm tăng từ bắc vào nam , chủ yếu do:
+ Càng vào phía nam càng gần Xích đạo hơn nên nhiệt độ cao hơn ở phía bắc.
+ Miền Bắc chịu tác động của gió mùa Đông Bắc vào mùa đông; trong phạm vi này, càng về phía
nam, gió mùa Đông Bắc càng suy yếu đi. Miền Nam không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc , chỉ chịu
tác động của Tín phong bán cầu Bắc vào mùa đông với tính chất khô, nóng.
- Biên độ nhiệt tăng từ nam ra bắc, chủ yếu do:
+ Về mùa hạ, nhiệt độ trung bình trên cả nước gần như tương đương nhau, do đều chịu tác động của
gió mùa mùa hạ nóng ẩm ( chỉ có cao hơn một ít ở Duyên hải miền Trung , nam Tây Bắc và đồng bằng Bắc
Bộ do hiệnợng phơn thấp hơn các vùng núi cao). Về mùa đông, nền nhiệt phía Bắc hạ thấp do ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc, đặc biệt vùng Đông Bắc đồng bằng Bắc Bộ. Do vậy, chênh lệch nhiệt
độ giữa hai mùa tăng từ nam ra bắc.
+ Mặt khác, càng về phía bắc càng gần chí tuyến Bắc nên thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh
càng gần nhau; càng về phía nam càng gần Xích đạo, thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau
hơn. Từ đó, chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa trong năm ở phía nam nhỏ hơn phía bắc.
Câu 3: Căn cứ vào bảng số liệu sau kiến thức đã học, nhận xét giải thích sự khác nhau về
nhiệt độ giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Bng 1.3.1. NHIỆT ĐTRUNG NH THÁNG 1 VÀ 7 CỦA HÀ NI VÀ THÀNH PH H CHÍ MINH
(Đơn vị:
0
C)
Tháng 1 7
Hà Nội 16,4 28,9
14
Thành phố Hồ Chí Minh 25,8 27,1
(Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, XNB Đại học Sư phạm )
Hướng dẫn
- Nhận xét:
+ Hà Nội có nhiệt độ tháng 1 thấp hơn và tháng 7 cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Biên độ nhiệt độ năm của Hà Nội ( 12,5
0
C ) lớn hơn của Thành phố Hồ Chí Minh ( 1,3
0
C )
- Giải thích:
+ Nhiệt độ tháng 1: Nội nằm trong miền khí hậu chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc về
mùa đông, đồng thời cách xa Xích đạo hơn , nên nhiệt độ thấp hơn Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố
Hồ Chí Minh không chịu c động của gió mùa Đông Bắc , nằm gần Xích đạo hơn chịu tác động của
Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng nên nhiệt độ cao hơn.
+ Nhiệt độ tháng 7: Nội chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng ( gió Tây Nam từ
cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến, sau khi vượt dãy Trường Sơn và các dãy núi dọc biên giới Việt – Lào ở nam
Tây Bắc); đồng thời tháng 7 gần kề với thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ) nên
nền nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 cách xa lần Mặt Trời
lên thiên đỉnh lần thứ nhất chưa đến lần Mặt Trời lên thiên đỉnh lần thứ 2, đồng thời lúc này nhiều
mưa do đón gió mùa Tây Nam từ cao áp chí tuyến Nam bán cầu lên làm cho nhiệt độ thấp hơn ở Hà Nội.
+ Nội nhiệt độ trung bình tháng 1 thấp hơn nhiệt độ trung bình tháng 7 cao hơn Thành
phố Hồ Chí Minh nên biên độ nhiệt độ năm cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Câu 4: Phân tích s khác nhau về chế độ nhiệt miền khí hậu phía Bắc miền khí hậu phía
Nam nước ta.
Hướng dẫn:
- Miền khí hậu phía Bắc ( từ dãy Bạch Mã trở ra )
+ Nhiệt độ trung bình năm thấp hơn ( khoảng từ 20 – 24
0
C ) do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc
và vị trí ở xa Xích đạo hơn.
+ Biên độ nhiệt độ năm cao hơn ( khoảng từ 12 – 14
0
C ) do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc vào
mùa đông và thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh trong năm gần nhau hơn.
+ Tháng nhiệt độ cao nhất tháng 7, do gần chí tuyến Bắc với ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh
22/6; thấp nhất vào tháng 1 , liên quan đến ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Nam vào 22/12.
+ Trong năm có một cực đại và một cực tiểu về nhiệt độ do hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau.
- Miền khí hậu phía Nam ( từ dãy Bạch Mã trở vào ):
+ Nhiệt độ trung bình năm cao hơn ( khoảng trên 24
0
C ) do không chịu tác động của gió mùa Đông
Bắc và vị trí ở gần Xích đạo hơn.
+ Biên độ nhiệt độ năm thấp hơn ( khoảng từ 3 4
0
C ) do không chịu tác động của gió mùa Đông
Bắc, chịu ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng vào mùa đông thời gian Mặt Trời lên thiên
đỉnh trong năm xa nhau hơn.
+ Tháng nhiệt độ cao nhất tháng 4, do gần Xích đạo với ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh 21/3
23/9, trong đó tháng 4 ở vào mùa khô nên nhiệt độ cao hơn tháng 10 ( vào mùa mưa ); thấp nhất vào tháng
12, liên quan đến ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh chí tuyến Nam vào 22/12 vị trí gần Xích đạo nên
tháng thấp nhất đến sớm hơn ở miền Bắc.
+ Trong năm có hai cực đại và hai cực tiểu về nhiệt độ do hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau.
Câu 5: Tại sao Nam Bộ gần Xích đạo hơn nhưng nhiệt độ tháng 7 vẫn thấp hơn Bắc Trung Bộ?
Hướng dẫn.
- Vào tháng 7, Nam Bộ nhiều mưa, xa thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh chí tuyến Bắc ( ngày
22/6 ) hơn.
- Thời gian này, Bắc Trung Bộ gió phơn Tây Nam khô nóng hoạt động , gần thời gian Mặt Trời
lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ) hơn.
15
- Nhiệt độ thay đổi theo độ cao nhanh hơn theo vĩ độ địa lí. Trong phạm vi gió phơn Tây Nam ở Bắc
Trung Bộ, cứ xuống thấp 100 m , nhiệt độ khối không khí khô tăng lên 1
0
C, trong khi đó , từ Bắc Trung Bộ
vào đến Nam Bộ , cứ cách 1 vĩ độ, nhiệt độ chỉ tăng lên khoảng 0,1
0
C.
Câu 6: Tại sao ở cùng một khu vực nội chí tuyến, nhưng chế độ nhiệt ở miền Bắc chỉ có một tối đa
và một tối thiểu, còn ở miền Nam có hai tối đa và hai tối thiểu?
Hướng dẫn:
- Đất nước ta trải dài trên khoảng 15 độ tuyến, phía Bắc sát với đường chí tuyến Bắc, phía Nam
gần đường Xích đạo, nên miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, miền Nam có tính chất cận xích đạo.
- Khu vực nội chí tuyến hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh, do đó nền nhiệt độ cao, khí hậu nóng.
Khoảng cách hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ở miền Nam khá lớn , nên chế độ nhiệt có hai tối đa và hai tối
thiểu ( dạng xích đạo ). Càng lên phía Bắc, hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh càng gần nhau và thành một lần
chí tuyến Bắc, do vậy chế độ nhiệt miền Bắc dạng nhiệt đới ( chí tuyến ) với một tối đa một tối
thiểu.
Câu 7: Phân tích sự phân hóa chế độ mưa nước ta.
Hướng dẫn:
- Lượng mưa:
+ Nơi mưa nhiều: Bắc Quang ( Hà Giang ), Hoàng Liên Sơn ( Lào Cai ), Bạch Mã ( Thừa Thiên
Huế ), Ngọc Linh ( Kon Tum ), Hòn Ba ( Quảng Nam ), ....do địa hình cao, đón gió.
+ Nơi mưa ít : Mường Xén, lòng máng Cao Lạng, Mường Thanh, thung lũng sông Ba, Phan
Rang,...do địa hình thấp, trũng, khuất gió hoặc song song với hướng gió,...
+ Nơi có lượng mưa trung bình : đồng bằng miền Bắc, đồng bằng miền Nam, đồng bằng Trung Bộ từ
Quảng Ngãi đến Phú Yên.
- Tháng mưa cực đại:
+ Bắc Bộ tháng 8, Nam Bộ tháng 9, Trung Bộ tháng 10/11, do hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới.
+ Riêng Trung Bộ còn do bão áp thấp nhiệt đới một số yếu tố gây mưa cùng hoạt động trong
một thời gian ( ví dụ : cùng lúc có Tín phong bán cầu Bắc, dải hội tụ nhiệt đới, gió mùa Tây Nam,...)
- Mưa theo mùa:
+ Mùa mưa chiếm 80 – 85% lượng mưa cả năm, mùa khô ít.
+ Mùa mưa và khôBắc BộNam Bộ tương tự nhau: Mùa mưa từ tháng 5 – 10 doc tác động của
gió mùa mùa hạ nóng ẩm; mùa khô từ tháng 11 4 do tác động của gió mùa Đông Bắc Tín phong bán
cầu Bắc ở Bắc Bộ, do tác động của Tín phong bán cầu Bắc ở Nam Bộ.
+ Trung Bộ mùa mưa lệch về thu đông ( tháng 9 1 ) do đầu hạ gió Tây khô nóng, mùa đông
gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa; mùa khô từ tháng 2 8 do Tín phong bán cầu Bắc gió
phơn Tây Nam khô nóng tác động.
Câu 8: Tại sao ở Huế có lượng mưa lớn?
Hướng dẫn:
- Mưa Huế do các nguyên nhân chủ yếu : Tác động của bức chắn dãy Bạch đối với gió mùa
Đông Bắc, bão, hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới.
- Cả ba nguyên nhân này thường tác động vào thời gian từ tháng 8 1, nên mưa Huế thường tập
trung vào thu đông. Đặc biệt, mưa rất lớn khi cả ba nguyên nhân này trùng nhau vào thời điểm, hoặc hai
trong số ba nguyên nhân cùng phối hợp tác động.
Câu 9: Giải thích sự khác nhau về chế độ mưa ở các địa điểm theo bảng số liệu sau. Tại sao ở Huế
lượng mưa các tháng 9,10,11 lớn hơn các tháng 12,1?
Bảng 1.3.2. LƯỢNG MƯA VÀO MÙA MƯA CỦA MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM
( Đơn vị : mm)
Tháng 5 6 7 8 9 10 11 12 1
Hà Nội 188 240 288 318 265 131
Huế 473 796 581 297 161
16
TP. Hồ Chí Minh 218 312 294 270 327 266 117
( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm )
Hướng dẫn:
- Nội : Lượng mưa nhỏ hơn Huế Thành phố Hồ Chí Minh do đầu mùa hạ chủ yếu a dông
nhiệt, hầu như không mưa hội tụ nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam. Tháng 8 mưa cực
đại do dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 10 do tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm.
- Huế: Lượng mưa lớn nhất do nhiều nhân tố gây mưa hoạt động ( gió mùa Tây Nam, dải hội tụ nhiệt
đới, áp thấp nhiệt đới, gió đông bắc,...). Tháng 10 mưa cực đại do các yếu tố gây mưa hoạt động mạnh
nhiều lúc trong cùng thời gian ( dụ cùng lúc hoạt động của Tín phong bán cầu Bắc, gió mùa Đông Bắc,
dải hội tụ nhiệt đới,...) . Mùa mưa lệch về thu đông do đầu mùa hạ gió phơn Tây Nam khô nóng hoạt
động, mùa đông có gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa.
- Thành phố Hồ Chí Minh: Lượng mưa nhỏ hơn Huế, lớn hơn Nội do gió Tây Nam hoạt động
mạnh. Tháng 9 mưa cực đại do dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 11 do tác động của gió mùa mùa
hạ, trong đó có gió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài.
- Huế: Tháng 9,10,11 mưa lớn do áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ, bão, gió mùa Tây Nam; tháng 12, 1
mưa chủ yếu do frông gặp dãy Trường Sơn Bắc nên lượng mưa nhỏ hơn.
Câu 10: Dựa vào bảng số liệu sau kiến thức đã học, so sánh giải thích về chế độ mưa Huế
và Thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng 1.3.3. CHẾ ĐỘ MƯA Ở HUẾ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Địa điểm
Mùa mưa Mùa khô
Lượng
mưa (mm)
Tháng mưa Tháng mưa
nhiều
Lượng
mưa (mm)
Tháng khô Tháng mưa
ít (mm)
Huế
2 411 8 – 1
10
(95 mm)
455 2 – 7
3
(47 mm)
TP. Hồ Chí Minh
1 851 5 – 11
9
(338 mm)
128 12 – 4
2
(3 mm)
(Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm)
Hướng dẫn:
a) So sánh:
- Giống nhau:
+ Tổng lượng mưa của cả hai địa điểm khá lớn, đều trên 1 800 mm.
+ sự phân hóa theo mùa mưa mùa khô; chênh lệch lượng mưa giữa tháng mưa nhiều nhất
tháng mưa ít nhất trong năm khá lớn.
- Khác nhau:
+ Tổng lượng mưa năm, tổng lượng mưa tháng mưa nhiều và mưa ít của Huế lớn hơn Thành phố Hồ
Chí Minh.
+ Phân mùa : Huế mùa mưa vào thu đông, Thành phố Hồ Chí Minh mùa mưa vào mùa hạ.
Chênh lệch lượng mưa giữa hai mùa Thành phố HChí Minh lớn hơn Huế, chứng tỏ Thành phố Hồ Chí
Minh có sự phân hóa hai mùa mưa và khô rõ rệt và có mùa khô sâu sắc hơn Huế.
+ Tháng mưa nhiều: Huế mưa nhiều vào tháng 10, Thành phố Hồ Chí Minh mưa nhiều tháng 9.
b) Giải thích:
- Tổng lượng mưa lớn do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, gió mùa mùa hạ nóng ẩm hoạt động mạnh.
- Phân mùa do ảnh hưởng của gió mùa. Mùa mưa trùng với mùa gió tây nam nóng ẩm, mùa khô
trùng với mùa gió đông bắc.
- Tổng lượng mưa của Huế lớn hơn Thành phố Hồ Chí Minh Huế nằm khu vực chịu ảnh hưởng
của nhiều hình thế gây mưa như : bão, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, gió đông bắc đi qua biển gặp
bức chắn địa hình núi Trường Sơn Bắc, frông lạnh,...
17
- Mùa mưa ở Huế vào thu đông vì vào đầu mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng,
mùa đông chịu tác động của gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa. Mùa mưa Thành phố Hồ Chí
Minh vào mùa hạ, trùng với thời hoạt động của gió Tây Nam nóng ẩm từ cao áp chí tuyến Bắc Ấn Độ
Dương đến và gió mùa Tây Nam nóng ẩm từ cao áp chí tuyến bán cầu Nam lên.
- Thành phố Hồ Chí Minh về a đông sự hoạt động mạnh của Tín phong bán cầu Bắc, nên
mùa khô sâu sắc; mùa mưa lượng a lớn do gió mùa Tây Nam, từ đó chênh lệch ợng mưa giữa
hai mùa lớn. Huế vào mùa khô vẫn có mưa Tiểu mãn ( vào cuối tháng 5, đầu tháng 6 ) tác động của gió
đông bắc qua biển vào cuối mùa, nên lượng mưa vẫn cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng mưa nhiều: Huế mưa nhiều vào tháng 10 do ảnh hưởng của bão dải hội tụ nhiệt đới, gió
mùa Tây Nam, gió đông bắc,... Thành phố Hồ Chí Minh mưa nhiều tháng 9 do ảnh hưởng của dải hội tụ
nhiệt đới.
Câu 11: Dựa vào bảng số liệu sau, phân tích sự khác nhau về lượng mưa của Lạng Sơn , Quảng
Trị và Cần Thơ.
Bảng 1.3.4. LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH CÁC THÁNG CỦA MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM
(Đơn vị: mm)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lạng Sơn 24 41 53 96 165 200 258 255 164 79 34 23
Quảng Trị 157 66 66 58 111 81 80 110 436 621 491 281
Cần T 12 2 10 50 177 206 227 217 273 277 155 41
( Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam)
Hướng dẫn:
- Lạng Sơn : Lượng mưa nhỏ nhất, do đầu mùa hạ mưa ít; tháng 7 mưa lớn nhất liên quan đến dải hội
tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 9 trùng với thời kì hoạt động của gió mùa mùa hạ, ngắn hơn do gió mùa
Đông Bắc đến sớm; mùa khô từ tháng 10 – 4 là thời kì hoạt động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong bán
cầu Bắc.
- Quảng Trị: Lượng mưa lớn nhất, do các yếu tố gây mưa hoạt động trong cùng thời gian, nhiều
thời điểm trùng nhau; tháng 10 mưa lớn nhất do dải hội tụ và các yếu tố gây mưa chồng nhau. Mùa mưa từ
tháng 8 12 do tác động của gió mùa Tây Nam từ cao áp bán cầu Nam đến, dải hội tụ, áp thấp nhiệt đới,
bão, gió đông bắc; mùa khô do hoạt động của gió phơn Tây Nam khô nóng và Tín phong bán cầu Bắc.
- Cần Thơ: Lượng mưa lớn hơn Lạng Sơn, doc tác động mạnh của gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn
Độ Dương đến và gió mùay Nam từ cao áp bán cầu Nam đến; tháng 10 mưa lớn nhất do dải hội tụ nhiệt
đới. Mùa mưa từ tháng 5 11 do hoạt động của gió mùa mùa hạ, thời gian mùa mưa kéo dài hơn do gió
mùa Tây Nam hoạt động kéo dài; mùa khô từ tháng 12 4 , do gió Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng, ổn
định hoạt động.
Câu 12: Giải thích tại sao khu vực Trung Trung Bộ Nam Trung Bộ mùa mưa thường đến
muộn so với các khu vực khác?
Hướng dẫn:
- Mùa mưa Trung Trung Bộ Nam Bộ thường từ tháng 9 đến tháng 1 ( trong khi cả nước từ
tháng 5 đến tháng 10 ); mùa khô ở khu vực này từ tháng 2 đến tháng 8.
- Mùa mưa các khu vực này đến muộn do tác động của gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương
đến kết hợp với dãy Trường Sơn.
+ Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Đ Dương đến tính chất nóng ẩm, gây mưa đầu mùa cho cả
nước ta. Khoảng từ tháng 5, Bắc Bộ Nam Bộ chịu tác động của gió này nên bắt đầu bước vào mùa
mưa.
+ Tuy nhiên, ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương sau khi
gây mưa lớn cho sườn đón gió Tây Trường Sơn Nam, vượt núi tràn xuống đồng bằng ven biển gây hiện
18
tượng phơn khô nóng, không mưa. Do đó, lúc này ở Trung Trung Bộ Nam Trung Bộ thời mùa
khô.
Câu 13: Dựa vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, giải thích:
a) Tại sao về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất vàNội có nhiệt độ cao hơn ở Thành phố Hồ
Chí Minh?
b) Tại sao trong cả mùa mưa lẫn mùa khô, Huế vẫn lượng mưa lớn hơn Nội Thành
phố Hồ Chí Minh?
Bảng 1.3.5. NHIỆT ĐỘ VÀ LƯỢNG MƯA CÁC TRẠM KHÍ TƯỢNG
HÀ NỘI, HUẾ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Hà Nội
Độ cao: 5 m
độ:
21
0
01’B
Nhiệt độ
(
0
C)
16,4 17,0 20,2 23,7 27,3 28,8 28,9 28,2 27,2 24,6 21,4 18,2
Lượng
mưa
(mm)
18,6 26,2 43,8 90,1 188,5 239,9 288,2 318,0 265,4 130,7 43,4 23,4
Huế
Độ cao: 11
m
độ:
16
0
24’B
Nhiệt độ
(
0
C)
20,0 20,9 23,1 26,0 28,3 29,3 29,4 28,9 27,1 25,1 23,1 20,8
Lượng
mưa
(mm)
161,3 62,6 47,1 51,6 82,1 116,7 95,3 104,0 473,4 795,6 580,6 297,4
Tp. H Chí
Minh
Độ cao: 11
m
độ:
10
0
47’B
Nhiệt độ
(
0
C)
25,8 26,7 27,9 28,9 28,3 27,5 27,1 27,1 26,8 26,7 26,4 25,7
Lượng
mưa
(mm)
13,8 4,1 10,5 50,4 218,4 311,7 293,7 269,8 327,0 266,7 116,5 48,3
( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm )
Hướng dẫn:
a) Về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất và Hà Nội có nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh:
Đầu mùa hạ, Huế chịu tác động mạnh của gió phơn Tây Nam khô nóng nên nhiệt độ tăng cao ( nhiệt độ
tháng 7 29,4
0
C ). Nội tuy xa Xích đạo hơn Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng chịu ảnh hưởng
của gió phơn Tây Nam khô nóng nên nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh ( 28,9
0
C so với 27,1
0
C vào
tháng 7 ).
b) Trong cả hai mùa, Huế là nơi có lượng mưa lớn hơn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mùa mưa Huế kéo dài từ tháng 8 1, lớn nhất vào tháng 10; các tháng mùa mưa Huế lượng
mưa rất lớn so với các tháng mưa nhiều Nội Thành phố Hồ Chí Minh. Lượng mưa Huế rất lớn
do các nhân tố tác động đến mưa ( dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp, bão, gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn,...)
- Mùa khô Huế kéo dài từ tháng 2 7 do chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc gió phơn Tây
Nam khô nóng. Tuy nhiên , vào tháng 6 ở Huế có mưa Tiểu mãn làm lượng mưa tăng lên. Thời gian này, ở
Thành phố Hồ Chí Minh có lượng mưa không đáng kể do ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Bắc; ở Hà Nội
ít mưa do tác động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong bán cầu Bắc.
Câu 14: Phân tích sự khác nhau về chế độ nhiệt của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Hướng dẫn:
- Nhiệt độ trung bình năm: Hà Nội thấp hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân:
+ Thành phố Hồ Chí Minh vị trí địa gần Xích đạo hơn, không hoạt động của gió mùa Đông
Bắc.
+ Hà Nội có vị trí địa lí cách xa Xích đạo hơn; mùa đông có nhiệt độ hạ thấp do chịu tác động mạnh
của gió mùa Đông Bắc; mùa hạ nhiệt độ cao do có ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng.
- Tháng có nhiệt độ cao nhất, thấp nhất:
19
+ Hà Nội nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 thấp nhất tháng 1, do vị trí nằm gần chí tuyến Bắc,
theo đúng quy luật nhiệt độ cao nhất thấp nhất mỗi bán cầu xảy ra sau thời gian Mặt Trời lên thiên
đỉnh.
Mặt Trời lên thiên đỉnh chí tuyến Bắc ngày 22/6, các địa điểm bán cầu Bắc gần Mặt Trời nhất,nhận
được lượng nhiệt cao nhất nên tháng 7 nhiệt độ cao nhất; chí tuyến Nam ngày 22/12, các địa điểm
bán cầu Bắc ở xa Mặt Trời nhất, nhận được lượng nhiệt ít nhất, nên tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất.
+ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệt độ cao nhất trong năm tháng 4, ơng ứng với thời gian Mặt
Trời lên thiên đỉnh lần thứ nhất trong năm, vào lúc đang mùa khô, không có mưa.
- Biên độ nhiệt năm : Thành phố Hồ Chí Minh nhỏ hơn Hà Nội
+ Thành phố Hồ Chí Minh : Mùa hạ chịu tác động của gió mùa nóng ẩm. Mùa đông không chịu tác
động của gió mùa Đông Bắc lạnh. Thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau, làm cho nhiệt độ ở cả
hai mùa không chênh lệch nhau lớn.
+ Nội: Mùa hạ chịu tác động của gió mùa nóng ẩm, những thời gian chịu ảnh hưởng của gió Tây
khô nóng. Mùa đông, nhiệt độ hạ thấp do chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc; Vị trí địa lí gần chí
tuyến Bắc, khoảng cách giữa hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau, làm cho nền nhiệt độ cao tập trung
vào một khoảng thời gian ngắn ở trong năm.
- Diễn biến nhiệt độ trong năm:
+ Hà Nội có một cực đại và một cực tiểu về nhiệt độ, do trong năm có hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh
gần nhau.
+ Thành phố Hồ Chí Minh hai cực đại về nhiệt độ, do trong năm hai lần Mặt Trời lên thiên
đỉnh xa nhau.
Câu 15: Phân tích sự khác nhau về chế độ mưa của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Hướng dẫn:
- Lượng mưa trung bình năm:
+ Nội lượng mưa nhỏ hơn ( 1 667 mm ) , do : Nội mưa ít vào đầu mùa mưa, chủ yếu
mưa dông nhiệt; do không ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới đầu mùa ( chạy theo hướng kinh tuyến,
lệch xa ra biển ), thỉnh thoảng còn ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng. Giữa cuối mùa hạ
mưa nhiều, do tác động của gió mùa Tây Nam nguồn gôc từ áp cao Nam bán cầu dải hội tụ nhiệt đới,
nhưng không lớn hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh ( trừ tháng 8 có hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới) do tác
động của gió mùa Tây Nam yếu hơn so với Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Thành phố Hồ Chí Minh lượng mưa lớn hơn ( 1 931 mm ), do mưa suốt mùa hạ ( đầu mùa,
mưa lớn do gió Tây Nam TBg xâm nhập trực tiếp; giữa và cuối mùa, mưa lớn do tác động của gió mùa Tây
Nam ) ; đồng thời gió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài làm mùa mưa kéo dài hơn Hà Nội.
- Tháng mưa cực đại Nội vào tháng 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9, tương ứng với
thời kì hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới ở mỗi địa điểm.
- Mùa mưa ở Hà Nội từ tháng 5 – 10, mùa mưa ở Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 – 11. Mùa mưa
trùng với mùa gió Tây Nam, tuy nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động của gió mùa Tây Nam kéo
dài thêm 1 tháng.Mùa khô Nội do tác động của gió mùa Đông Bắc Tín phong bán cầu Bắc,
Thành phố Hồ Chí Minh do tác động của Tín phong bán cầu Bắc.
Câu 16: Phân tích sự khác nhau về chế độ mưa của Huế và Cần Thơ theo bảng số liệu sau:
Bảng 1.3.6. LƯỢNG MƯA CÁC TRẠM KHÍ TƯỢNG HUẾ VÀ CẦN THƠ
(Đơn vị: mm)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Huế 126,1 56,7 49,9 66,7 119,5 90,8 89,2 156,1 371,5 817,
5
675,3 397,0
Cần Thơ 11,8 5,0 20,4 42,3 176,6 207,2 241,4 231,0 250,6 272,
3
140,7 48,1
(Nguồn: Viện khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu )
Hướng dẫn:
- Lượng mưa trung bình năm:
20